Home » Đào Phạm Thùy Trang
- Trang chủ
- |
- Giới thiệu
- |
- Quy ước
- |
- Tác giả
- |
- Thư ngỏ
- |
- Lá thư Bông Tràm
Tác phẩm kỷ niệm 10 năm hoạt động của Bông Tràm, có sự góp mặt của 50 tác giả với trên 100 tác phẩm. Sách dày 312 trang, khổ 13 x 19 cm, giá 100.000 đồng.
Rồi
nội kể chuyện trên trời dưới đất, chuyện của người đã sống gần trăm năm, đã vắt
qua hai thế kỷ của chiến tranh loạn lạc, của cảnh làm dâu, làm vợ, làm mẹ, làm
bà… của bao nhiêu thăng trầm cuộc sống thì thiếu gì chuyện để kể.
Nhưng
hễ sắp chia tay nhau là nội nắm tay tôi lắc lắc:
-
Lần sau tới thăm nhớ mua cháo cổ vịt cho nội nữa nha Yến!
Tôi
dạ mà không biết vì sao nội lại ưa cái cổ vịt như vậy, chỉ là một ít da dai dai
mềm mềm nhai không nhừ ra được, nuốt thì đến mắc cổ thôi chứ có gì mà ngon. Tôi
thích ăn cháo vịt, nhưng chỉ ăn phần nạc như ức hay đùi thôi. Còn nội lại ưa
cái cổ là sao nhỉ?
Nội
tôi tuổi 80 không còn răng nữa, chỉ mấp mấp mấy miếng da cổ vịt rồi ném phần
xương cho con Vàng, phần da nội lấy cái kéo cắt nhỏ ra rồi mới nuốt. Tôi mấy lần
mua cháo nhưng yêu cầu lấy phần nạc cho nội, thì bà đều không chịu ăn, nói ăn nạc
như củi mục, phải ăn da, nhất là da cổ thì mới đúng là phần ngon nhất của con vịt
Thím
Út tôi ở trong phòng nói vống ra:
-
Ôi… bà nội của mày kiếm chuyện vậy thôi Yến ơi! Chứ đời này mật ít ruồi nhiều,
có cái ăn là may lắm rồi, gì mà phải đòi cho được cái cổ vịt chứ hổng chịu thịt
vịt!
Nội
tôi lắc đầu cười trừ. Tôi thì lặng lẽ mua cháo cổ vịt cho nội mỗi khi đến thăm.
***
Nội tôi có cuộc đời buồn như bao người phụ nữ
của thời chiến tranh. 18 tuổi cha mẹ gả chồng, về làm dâu nhà giàu tưởng được
an nhàn tấm thân, ai ngờ chiến tranh ập đến, bom rơi đạn lạc, phút chốc sự giàu
sang đã tan tành trong ngọn lửa của đạn bom. Cả nhà phải “chạy giặc” để tìm sự
sống khi nội mang bụng bầu đứa con thứ 4 ở tuổi 24. Hồi đó nào có biện pháp ngừa
thai gì đâu, vợ chồng cứ sinh con đẻ cái
liền tù tì vậy thôi.
Rồi
trong những lần dăt díu nhau “chạy giặc” ấy, ông nội tôi đã bị trúng đạn và mất.
Bà nội tôi vừa sinh con đã phải đi cấy lúa, gặt lúa, làm đủ mọi việc để có cái
ăn cho đại gia đình gồm cả cha mẹ chồng. Rồi ông bà cố của tôi quyết định gả
con dâu để có chút tiền sinh lễ của nhà trai mà trang trải cuộc sống cho gia
đình.
Bà
nội tôi gạt lệ về làm vợ người khi đứa con thứ 4 của mình vừa lên ba tuổi. Cha
tôi là trai lớn, cũng mới 10 tuổi thì biết làm gì hơn ngoài việc dỗ em cho mẹ
đi lấy chồng!
May
chồng sau của nội tôi tốt bụng, bởi vợ ông cũng mất vì chiến tranh khi chưa kịp
có với nhau đứa con nào. Ông và bà nội tôi sinh được một người con, ông không gọi
đó là “thằng Hai” mà cho gọi tiếp theo thứ của những đứa con “dòng trước” của vợ.
Tức là chú Út tôi sau này
Khi
chú Út tôi tầm 20 tuổi thì ông nội mất (cha tôi dạy phải gọi chồng sau của bà nội
là ông nội cho thân thiết). Đám tang ông vui lắm, vui trong mắt cô bé lên 10 là
tôi bởi vì đám có nhiều người đội tang quá! Trong khi ông nội chỉ có một đứa
con là chú Út thôi mà. Thì ra, bốn anh em của cha tôi đều thọ tang “cha dượng”
bằng dây rơm mũ bạc như cha ruột.
Người
đi đám khen rầm rì, rằng bà Sáu khéo dạy con, ông Sáu có phước quá nên đám con
của vợ đều để tang ổng thật là xôm tụ.
Cha
tôi thì bảo, biết là “ba năm tang khó” nhưng hai mươi năm nay đã gọi ông ấy là
“ba”, ông cũng gần gũi dạy bảo con của vợ rất nhiều. Dù anh em của cha tôi sống
với ông bà nội ruột, nhưng lâu lâu người cha dượng này về thăm, ở lại mấy ngày,
đều chơi đùa hoặc dạy bảo bốn thằng con của vợ việc này việc nọ.
Ông
bà nội của cha tôi mất vì tuổi già, ngày cha tôi cưới vợ, chính người cha dượng
này đi hỏi cưới cho cha, thì làm sao khi ông mất, cha tôi không thọ tang cho được?
Nhưng
rồi sau khi ông mất, cuộc làm ăn của gia đình không suôn sẻ như lúc trước. Chả
là ông làm “thầu chợ”, bà nội tôi có sạp vải ở chợ đó, chú Út tôi chỉ việc ăn học
và phụ ba mình… đếm tiền là xong.
Rồi
những đồng tiền đó đã làm chú ỷ lại, không học hành nữa, mà tụ tập bạn bè ăn
chơi và… sưu tầm đồ cổ. Trời ơi, thằng con trai mới hơn 20 chưa vợ mà biết gì về
đồ cổ để sưu tầm? Cái lư hương đồng, cái chén thời vua Càn Long, bức tượng nữ
thần Apsara cụt tay, cái bình toong đựng nước mà người bán quảng cáo là trước
thời 1945 ấy, chú Út tôi đều sưu về.
Bao
nhiêu tiền của gia đình đổ vào các món đồ cổ đến khánh kiệt. Nhưng phiền là khi
chú cần đem món nào đó ra bán lại thì hóa ra… là đồ cổ giả.
Buồn
tình chú đòi nội tôi “cưới vợ để làm ăn” chứ không thèm chơi đồ cổ nữa. Thì cưới,
dù sau chú cũng gần 30 rồi. Nhưng thím Út không phài là mẫu phụ nữ hay lam hay
làm, thím có nghề thợ may, nhưng rồi vin cớ sạp vải mẹ chồng đủ ăn đủ mặc cho
gia đình nên thím bỏ nghề may chuyển sang nghề… điều binh khiển tướng.
Chú
tôi gia nhập đội quân cầu đường đi làm xa hàng tháng trời, ở nhà thím chỉ đi điều
khiển mấy con bài xanh đỏ đó mà thôi. Sau này hết “mô đen” đánh tứ sắc, thì
thím quay sang chơi bài tây, chơi lô tô vì chỉ cần một bàn thắng là bằng cả
ngày làm.
Thím chỉ sinh một đứa con duy nhất rồi không chịu sinh nữa, bé Cà Chua từ ngày còn ẵm
ngửa đã theo mẹ ra sới bạc nên nó cũng không sạch sẽ bụ bẫm gì. Bà nội tôi ý kiến
mấy lần nhưng con dâu vẫn chứng nào tật đó, chú Út đi làm thì thôi, về là vợ chồng
rầy rà chuyện vợ bỏ nhà bỏ cửa ngồi lê đôi mách. Nhưng thím Út cãi già, rằng
mình chơi bạc do chồng đi hoài, ở nhà “buồn quá”.
Chú
Út tôi im lặng như chấp nhận, bởi chú không tìm được công việc ở gần, phần vì
“tiền sự” chơi đồ cổ dỏm của chú bị láng giềng gièm pha nhiều quá, chú cũng
“quê độ”.
Gia
đình vì thế mà tồn tại chứ không phải vì hạnh phúc mà phát triển.
Nội
tôi sau tuổi bảy mươi thì không còn tinh tường để mua bán nữa. Phần vì thời buổi
này sạp vải ở chợ xã ế lắm, người ta chỉ ưa mua quần áo may sẵn, về mặc liền
trong một phút ba mươi giây, chứ ai lại đi mua vải, chờ may, vừa tốn tiền vải,
vừa phải trả tiền may mà con mất công chờ đợi như thế.
Dẹp
sạp vải, nội bán sạp trầu cau để đỡ nhớ không khí chợ của mấy chục năm nay.
Nhưng rồi trầu cau cũng không còn ai ăn nữa, thảng hoặc có đám cưới đám hỏi thì
mới tìm ít trái cau thôi. Thành ra nội chính thức “về hưu” ở tuổi 75.
Mấp
mấp miếng da cổ vịt, nội bảo:
-
Hồi đó sau khi ông nội con chết, nhà nội… bốn đứa con trai, cha mẹ chồng già, nội
xem như là lao động chính thì làm sao đủ thức ăn hả con? Đi “công vạn” cho người
ta, nhiều khi không nhận tiền công mà nhận bằng món gì chủ ruộng có. Một hai
con vịt, có khi vài ký thịt heo, hoặc nửa thúng cá…
-
Trời ơi… nửa thúng cá ăn sao hết hả nội?
-
Cha mày… làm gì mà la lớn cho nội giật mình vậy? Nhà tám miệng ăn, nửa thúng cá
tiết kiệm lắm cũng có một tuần thôi. Con nít hồi đó không có quà bánh gì cả, chỉ
ăn cơm với cá nên tốn lắm con à! Còn thịt vịt hả, phần đùi và cánh là của cha mẹ
chồng, phần ức là của đám con, nội chỉ còn cái cổ và cặp chân thôi. Ăn riết rồi
thành quen cháu ạ!
-
Không được! Nội ăn vậy làm sao có sức mà đi làm? Dù sau cũng phải chừa phần
ngon cho mình ăn chứ!
-
Là do phụ nữ bây giờ cuộc sống khá giả hơn nên con nói vậy thôi. Chứ hồi đó… làm
con vịt chưa xong, đám con đã hau háu đứng chờ, làm sao mình ăn phần ngon cho được?
Tôi
lặng lẽ quay đi quẹt dòng lệ nóng. Cuộc sống của nội tôi, hay tất cả phụ nữ thời
ấy đều cơ cực đến thế sao? Ngay cả miếng ăn cũng chưa được nếm miếng ngon trọn
vẹn. Mà tất cả đều dành cho chồng, cho con, cho cha mẹ chồng…
Còn
phụ nữ chúng tôi bây giờ, chỉ cần phật lòng một chút là ẵm con về ngoại, là đòi
ly thân, ly hôn cho tan đàn xẻ nghé. Mấy ai đã tự nhìn lại mình để gìn giữ mái
gia đình?
-
Thôi, con tính vầy nhen! Hồi đó nội toàn ăn cổ vịt không à, đời giờ hết khổ rồi,
nội ăn phần thịt đi. Từ lần sau con sẽ mua thịt cho nội, con không mua phần cổ
nữa đâu!
-
Bây mua thịt… nội không ăn đâu à! Cái gì cũng có sự thân quen con ạ. Con chịu
khó ăn từ từ, nhai chậm chậm sẽ thấy thịt cổ vịt có cái ngon mà không phần nào
của con vịt có được. Vừa mềm vừa béo, lại không ngấy mỡ, cũng không xộp xộp như
củi mục của phần thịt, vậy đó.
Tôi
mấy lần cũng bắt chước nội thử ăn phần cổ vịt coi nó ngon lành thế nào. Nhưng
trời ạ, nó chỉ dai dai, nhai hoài chán quá, muốn nuốt trộng cho xong. Mà nuốt
nhanh quá thì dễ mắc cổ, chứ có ngon lành gì đâu.
Vậy
là tôi nói dối là bà bán cháo vịt quen của nội đã… nghỉ bán rồi. Thay vào đó là
bánh bò hay sương sâm, sương sa gì đó. Thảng hoặc tôi còn biếu nội ít tiền.
Nhưng hầu như nội đã quên nhiều nhớ ít nên cầm tờ tiền cứ hỏi “Này là nhiêu
con” “Dạ một trăm ngàn”. “Ý là nó mua được nhiêu gạo, nhiêu muối”. Dạ khoảng 10kg
gạo hoặc 20kg muối ạ”.
Nội
gật gù ra vẻ hiểu rồi. Bởi cuộc đời của nội, từ miệt sông nước Cửu Long rẽ
nhánh Cái Bè có dòng sông mênh mông phù sa ấy, rồi chạy giặc lên miền Đông Nam bộ với đàn con và cha mẹ chồng già, thì điều
trăn trở lo lắng duy nhất là gạo với muối chứ không phải thịt cá gì.
Hôm
nay tôi lại mua cháo cổ vịt đến, nội vui vẻ cất hai lớp mền để ngồi dậy. Rằng
“Bà bán cháo vịt nay bán lại rồi à? Lâu nay bây đi làm ở đâu mà không tới thăm
nội, nội thèm cháo cổ vịt mà gần đây không ai bán”.
“Không
ai bán” là thím Út tôi nói với nội thôi, chứ đi xa một chút cũng có người bán
mà. Chỉ là, thím bảo, “Ăn thịt cổ vịt dai nhách, bà nội mày mắc cổ, bả chết ai
chịu trách nhiệm?”.
Nội
tôi cười buồn “Nội tám mươi rồi, sống cũng đủ để chết rồi. Tại thím bây nói vậy
thôi”.
Tôi
nghe mình có lỗi, chỉ vì bản thân chê thịt cổ vịt không ngon mà nói dối là người
ta không bán để buột nội ăn phần ức, phần đùi mà không chịu hiểu là nội chỉ
thích phần cổ vịt mà thôi.
Nội
tôi về miền mây trắng nay đã 6 năm rồi.
Chiều
nay mưa đầu mùa dai dẳng quá, cơn mưa vắt ngang bầu trời từ bốn giờ chiều tới bảy
giờ tối vẫn chưa có dấu hiệu ngớt. Con trai tôi đội mưa mang về mấy phần cháo vịt
hí hửng “Mưa khỏi nấu cơm mẹ ơi, ăn cháo cho ấm bụng nha!”
Mùi
hành mùi tiêu thơm nức cả ngày mưa. Chỉ là dĩa gỏi vịt thì… ơ kìa… chỉ có vài
lát thịt ức, còn lại là phần thịt cổ vịt đầy cả dĩa. Bất giác tôi nhớ nội đến
rơi nước mắt.
Đào Phạm Thùy Trang
Trăng thượng tuần đã lơ lửng từ lâu nhưng tiểu thơ vẫn chưa an giấc điệp. Nàng cứ trằn trọc mãi, hết nghiêng bên này lại trở bên kia. Bởi theo lệnh của cha nàng, ngày này tháng sau nàng đã xuất giá vu quy.
Tiểu thơ đã đến tuổi xuất
giá, nhưng khổ chưa, người mà nàng sẽ kết chặt mối lương duyên lại chẳng có
tình cảm gì. Đó là con của tri phủ đại nhân, phụ thân nàng chỉ là một huyện
lệnh, thì làm sao tránh được ý cầu thân của tri phủ. Huống chi ngài cũng đâu có
ý từ chối, mà còn xem đó là sự may mắn cho đường hoạn lộ sau này. Nên ngài đã
thúc giục con gái phải ưng, dù tiểu thơ một mực van xin hãy cho nàng thêm vài
tuổi nữa.
Phụ thân nàng đập bàn, mắt
hằn lên những tia vằn đỏ:
- Ta đã nói mà con không
vâng ư? Được thôi, kẻ bị trị tội trước sẽ là mẹ con vì bà ấy đã quá nuông chiều
con gái!
Tiểu thơ run rẩy thật sự khi
cha nói sẽ trị tội mẹ, dù bây giờ bà đã ra người thiên cổ. Nhưng cách “trị” của
cha lạ lắm, tiểu thơ đã biết một lần nên nàng rất sợ. Ấy là năm tiểu thơ mười
bốn tuổi, dám bỏ khuê phòng cùng con tì tất đi xem hội hoa đăng. Cha đã lấy di
ảnh của mẹ từ trên ban thờ xuống, dùng roi cá đuối quất xuống. Tiểu thơ quỳ bên
cạnh, không roi nào quất vào thân thể, nhưng nàng nghe rát buốt từng thớ thịt.
Mẹ có tội gì đâu, bà đã lìa xa mãi mãi khi tiểu thơ vừa lên mười tuổi. Nàng
nhìn di ảnh mẹ rách nát, nước mắt cứ thế trào ra…
*
**
Dù huyện lệnh mặc áo thường
dân để đi kinh lý, nhưng cái dáng người to bè, luôn chắp tay sau mông không lẫn
vào đâu được với đám con dân gầy nhom, xộc xệch. Đám dân đen vùng này dù đi hay
chạy thì cái mặt cũng luôn cúi xuống, ánh mắt găm xuống đất như tìm đồng xu vừa
rớt chứ có ai dám hếch mặt lên như ngài. Ngay cả những lúc vui như đang xem hát
xiệc Sơn Đông này, người dân có nhảy cẩng cũng không dám ngước lên, thế làm sao
thấy được dung mạo xinh đẹp hơn người của thiếu nữ đang múa kiếm. Nàng tầm đôi
chín, nét mặt thanh tú, mái tóc tết đuôi sam gọn gàng sau lưng, trang phục màu
nâu đất càng tôn làn da trắng hồng tự nhiên. Không chút son phấn tô vẽ nào
nhưng đôi lông mày kia cong như vòng nguyệt, đôi má kia ửng đỏ hoa đào. Đôi môi
màu cánh sen rạng rỡ. Mồ hôi lấm tấm trên mặt, mồ hôi chảy thành dòng sau lưng
áo bết dính màu vải nâu bó sát vào cơ thể. Huyện lệnh không ngớt vỗ tay và
những hào bạc được ném ra. Nàng đang múa kiếm thể hiện sự dẻo dai của cơ thể để
minh chứng cho món thuốc sơn đông “tê gân trật cốt” mà hai người đàn ông một
già một trẻ đang rao bán.
Huyện lệnh ngoắc tên quản
gia đang theo cùng, khoát tay ra lệnh. Một xâu tiền được ném về phía người đàn
ông trẻ, kèm câu nói không đầu không đuôi “Đủ không?”. Người đàn ông tầm ngoài
hai mươi cầm xâu tiền còn ánh màu nước bạc gật đầu lia lịa. Màn múa kiếm cũng
kết thúc và lời hẹn ngày mai tái ngộ cũng được thốt ra từ chiếc miệng bỏm bẻm
nước cổ trầu của ông già.
Đoàn sơn đông chưa được dọn
đi vì vị quản gia đã thì thầm rằng có quý khách muốn trò chuyện.
- Hãy để cô gái múa kiếm kia
về làm tứ phu nhân của huyện lệnh, bởi đại phu nhân qua đời đã được sáu năm,
các vị phu nhân còn lại đều đã lớn tuổi. Rồi vàng son bổng lộc sẽ hưởng không
hết, cả đoàn không phải rày đây mai đó nữa!
Ông già thưa:
- Bẫm quan nhân, gia thế
nghèo nàn rày đây mai đó, ngay cả lúc này, cũng là tá túc trong ngôi đình làng
ngoại vi huyện lỵ, để bán thuốc sơn đông kiếm sống độ nhật. Thì làm sao dám… vả
chăng, tiểu nữ của già đã có phu quân. Tên đàn ông trẻ kia chính là chồng của
nó, chúng đã tạ lễ tơ hồng được bốn tháng rồi.
Huyện lệnh như có chút ngại
ngần. Ngài nói khẽ “ta xin lỗi” rồi hẹn ông già hôm nào tới huyện đường trà
nước, dù sao ngài cũng là một bậc lương thần mẫn cán, nổi tiếng thương dân. Ông
già lạy như tế sao “Tiện dân không dám… không dám…”.
Lúc cha già hầu chuyện huyện
lệnh thì người đàn bà run bần bật nép vào ngực chồng. Linh cảm phụ nữ cho nàng
biết điều chẳng lành đang ập xuống gia đình nhỏ bé này. Sau bức mành trúc thưa
mớ chập cheng, gươm giáo, thùng bọng, mâm thau toàn hàng mã cả, nhưng trong
bóng tối lờ mờ của gian buồng này, nàng thấy nó sáng rực như ánh mắt huyện lệnh
nhìn nàng khi múa kiếm.
Đêm ấy, nàng không ngủ được.
Tiếng mõ vọng sang canh hòa trong tiếng ngái ngủ của chồng. Ngoài kia, tiếng
canh tuần kêu gọi dân làng canh chừng dầu đèn củi lửa. Nàng nghe như có tiếng
bước chân rón rén ngoài chánh điện. Trong vòng tay chồng, đôi mắt đẹp cố nhoài
ra khỏi tấm vách ngăn giữa gian thờ và hậu liêu. Thính giác của người luyện võ
khá nhanh nhạy, nàng lay chồng, nhưng sau một ngày lao động mệt nhọc, chiếc ổ
rơm đã là chốn thần tiên ru giấc điệp.
Thời gian cứ thế trôi...
Tinh mơ. Tiếng chân chạy
thình thịch, tiếng réo gọi thủ từ inh ỏi. “Mở cửa, mở cửa mau. Quan nha! Quan
nha cần tra xét!”. Ông thủ từ tuổi tám mươi bỏ nhang đèn ra sân đình theo tiếng
gọi. Lính lệ bảo rằng được báo đình chứa chấp phần tử ‘”hống lại triều đình”.
Thủ từ run trong dạ nhưng cũng từ tốn: “Già ở đình mấy chục năm nay, hai đời
quan đều kiêng vị, sao các chú lại vu oan?”. “Ta không nói ông, ta nói những
người ở cùng ông”. Vị giáo đầu cương quyết. Vậy là bầu đoàn hát xiệc sơn đông
được mời ra. Hai người đàn ông, một phụ nữ, hai con khỉ, một con nưa và mớ chập
cheng, đao kiếm…
- Còn chối hay không! Đao
kiếm này, rắn độc này…
- Bẫm, đó là con nưa, không
phải rắn ạ. Người đàn ông trẻ thưa.
- Im! Hỗn láo! Ta nói rắn là
rắn. Để xem xem…còn gì nữa…
- Bẫm ngài, còn có cả một mớ
giấy có chữ dưới chân tượng thành hoàng!
- Đưa xem!
- ???
- A… thư hẹn thích khách
huyện lệnh! Phen này chúng bây toi rồi!
Tên giáo đầu thét lính trói
cả bốn con người. Những “vật chứng” đều được mang hết về huyện đường.
Nhân chứng, vật chứng đầy
đủ. Hai người đàn ông già, trẻ kia không thoát tội trảm quyết. Riêng Thủ từ,
chiếu công ba mươi năm nhang khói thành hoàng nên chỉ đuổi khỏi đình mà thôi.
Còn người đàn bà, cha và chồng câu kết với loạn đảng, nàng cũng chịu vạ lây, sẽ
sung vào đội nhà bếp của huyện nha!
Tiếng kêu oan trời cao không
thấu.
Muốn lấy cái chết để tỏ rõ
đúng sai cũng không làm sao chết được.
Hai người đàn ông bị lính lệ
lôi đi.
Người đàn bà toan đập đầu
vào bậu cửa. Nhưng nàng chợt nhớ giọt máu đang tượng hình trong người, nó phải
sống để báo thù cho cha, cho ông. Nàng không khóc than nữa, nàng chấp nhận làm
chân phụ bếp. Để một tháng sau, nàng được thăng chức “tứ phu nhân”.
Huyện lệnh thừa biết nàng đã
có mang, nhưng nhan sắc của nàng đã làm ngài mờ đi lí trí. Vả chăng, đã bốn
mươi tuổi mà quan chưa có một mụn con nào, dù đã có ba bà vợ. Thì đứa con trong
bụng vị tân phu nhân này cũng là quý lắm.
Bảy tháng sau tân phu nhân
sinh một đứa con gái. Vừa mở mắt chào đời, chao ơi… đôi mắt, cánh mũi, đôi môi
kia… đều giống mẹ như tạc. khiến quan huyện yêu mẹ phải quý con. Chỉ có điều,
nước da cô bé không được trắng trẻo như mẹ. Tứ phu nhân làm vợ trọn đạo, làm
“bà tư” đầy yêu thương kẻ hầu người hạ khiến huyện quan càng thêm yêu quý. Chỉ
có điều đôi môi kia chưa bao giờ nở một nụ cười dù trân châu ngọc ngà huyện
quan đều ban cho nàng hơn hẳn các bà vợ kia. Ánh mắt phu nhân vẫn một nỗi buồn
thăm thẳm. Bà nâng khăn sửa túi cho huyện quan được mười năm, rồi cũng lìa đời
bằng một chứng bệnh mà đại phu gọi là “tâm bệnh”.
Tiểu thơ mất mẹ năm lên
mười. Nhưng từ bảy tuổi đã được mẹ “nuông chiều” khi bà phát hiện còn gái có
đam mê về võ học. Mỗi khi buồn, bà ra huê viên múa vài đường kiếm, dù “kiếm”
trong tay bà chỉ là một cành cây, nhưng tiểu thơ vẫn ngắm mẹ say mê, rồi bảo
mãi “con cũng muốn học… con cũng muốn học”. Lời tỉ tê bên gối của người vợ yêu
khiến huyện lệnh phải chấp nhận cho tiểu nữ theo ông thầy dạy võ trong nha môn
“học vài đường phòng thân”.
Lúc này, triều đình nhu
nhược, thù trong nổi lên biết bao nhiêu là loạn đảng, giặc ngoài cũng nhăm nhe
vùng đất
Ngài đem tâm sự thưa với lão
sư, ông vấn vấn chiếc khăn nâu lên mái đầu không có tóc, bẫm rằng có khó gì
chuyện dạy tiểu thư vài ngón phòng thân. Nhưng quan gia, nếu đã tin tưởng già,
thì xin đừng can thiệp vào cách dạy của già, được vậy, già mới thỏa nguyện.
Quan gật đầu, xin tùy lão sư
định đoạt.
Bẫm, còn cái món lương bổng
mà quan gia cho già mỗi tháng hai lạng bạc đó, nay cũng ngót nửa năm già gửi
chỗ quan gia, tuần trăng sau già có việc về thăm quê hương bản quán, xin quan
cho già nhận. Già đi tầm nửa trăng là quay lại huyện đường.
Quả thật, huyện lệnh chưa
một mảy may nghi ngờ lão sư. Bởi cái mạng của ngài là do lão sư giành lại từ
tay bọn thổ phỉ trong một lần kinh lí. Thì sao ngài có thể nghi ngờ. “Nhưng lão
sư đi nửa trăng có phải là hơi dài so với thời gian dầu sôi lửa bỏng này lắm
ru?”. “Quan gia đừng ngại, già đi bộ, mà dù có đi ngựa thì tính thời gian vừa
đi vừa về từ Quan Hóa - Bảy Núi đã là mười hôm. Còn năm hôm già phải vào rừng
tìm món ngải trặt đả. Người học võ, không có món ngải này là vết thương lâu
lành lắm quan gia à”. Lý do của lão sư thuyết phục quá. “Nay là hạ tuần tháng này,
mươi hôm nữa là thượng tuần tháng sau. Lão sư đi rồi, còn việc học võ của tiểu
nữ ta?”. “Xin quan gia đừng nóng vội,
học võ là chuyện đời người. Nếu tiểu thơ không chờ già được nửa trăng, thì làm
sao theo được già cả đời?”.
Vậy là tiểu thơ đã được theo
sư phụ học võ từ khi bảy tuổi rưỡi.
Ngoài học chữ, hàng ngày
tiểu thơ còn học võ, học thêu thùa may vá nhưng lại không ưng học cầm kì thi
phú dù phụ thân có răn đe tới đâu. Nàng luôn thưa rằng “Con không muốn là một
cô gái bình thường, cứ gì phải giỏi cầm kì thi họa để đến ngày xuất giá là
xong. Con muốn học võ, học may vá, để mai đây còn giúp ích cho dân lành”. Lời
nàng như oanh vàng buổi sớm, ý nàng rắn tựa non xanh khiến huyện lệnh không thể
nào xoay chuyển. Hay là môn nào nàng cũng học một biết mười, dạ sáng như trăng
rằm vành vạnh.
Võ học đã có lão sư dạy, may
vá thêu thùa thì phu nhân đảm trách. Nhưng tiếc là phu nhân chỉ dạy con gái
được ba năm rồi bà đã bay về hướng núi - nơi biên cương rừng sâu nước độc mà
chồng và cha bà đã bị đày đi mà chưa một lần gặp lại.
Mười tuổi, tiểu thơ đã vấn
vành khăn trắng. Nước mắt nàng ngập cả linh sàng. “Sao mẫu thân lại nằm đây… Mẹ
ơi… ra chơi với con đi”. Lão sư đã an ủi tiểu đệ tử, rằng ai có sống rồi cũng
có chết. Con muốn mẹ con sống mãi thì phải cố học hành để gánh lấy non sông.
Con hãy làm sao để tuy thân nhi nữ mà lòng quân tướng. Tiểu thơ gạt nước mắt
lui về hậu viện chuyên thêu thùa may vá và càng cố công học võ nghệ với ân sư.
Ba năm tang mẹ là ba năm
gương mặt tiểu thơ không có một nụ cười.
Mười lăm tuổi, nỗi đau chừng
nguôi nguôi thì lão sư cho nàng đã biết, vì sao mẹ nàng lại chết ở lứa tuổi
xuân sắc nhất của đời nhi nữ. Lão sư bảo, kẻ gián tiếp giết mẹ tiểu thơ, chính
là huyện lệnh, người cha của nàng. Sự ngập ngừng khi phát âm từ cha khiến tiểu
thơ nghi hoặc.
“Tại sao khi nói đến cha của
con, sư phụ lại ngập ngừng?”
“Vì… vì đó không phải là cha
ruột của con. Ông đã cướp mẹ con từ tay cha con rồi đày cha và ngoại tổ của con
vào rừng sâu nước độc”.
“Con không tin! Cha rất yêu
quý con!”.
Tiểu thơ bưng tai chừng
không muốn nghe.
“Không tin đó là quyền của
tiểu thơ. Nhưng đây là di thư của mẹ con, chắc tiểu thơ nhận ra nét chữ của
bà?”.
Ân sư ồn tồn.
Mấy đêm thức trắng, nàng đã
đọc nhàu nát di thư của mẹ, lá thư ngắn ngủi thôi, nhưng nó không khác gì những
lời lão sư nói. Tiểu thơ uất hận. Cái hận của cô nương tuổi mười lăm là không
biết trời cao đất dày là gì, cứ nghĩ rằng một ánh thép vung lên là tuyệt diệt
bao đau thương chồng chất. Song nghĩ lại, việc đâu dễ giải quyết thế, tình
nghĩa cha con bao năm, dù không có công sinh cũng có công dưỡng…
Thêm một năm trôi qua nữa,
lão sư mới cho tiểu thơ biết. Cha của nàng, ngoài là huyện lệnh mẫn cán của
triều đình, nhưng mặt trời thì xa quá, làm sao Đức Kim thượng biết được, người
Pháp đã đưa thư và cha nàng đã thỏa đồng “nội công ngoại kích”. Cha nàng mỗi
tháng đưa ân sư hai nén bạc, tưởng đã bịt được miệng ông nhưng không phải. Ông
là nghĩa sĩ của tướng quân Trương Định. Người bây giờ là Bình Tây Đại Nguyên
Soái. Mấy năm rồi, mỗi ba trăng ông về thăm quê Bảy Núi nửa trăng để tìm thuốc
rượu cho huyện lệnh, nhưng quả thật là về Gò Công luyện quân cho Trương Nguyên
soái. Học trò ông không nhiều, chỉ vài chục tên cảm tử, nhưng các sư huynh ấy
không thua kém gì nàng. Nhất là chàng họ Lê. Một ánh thép chàng vung lên có thể
mươi cái đầu rơi rụng. Một nấm đấm chàng tung ra có thể hàng chục kẻ ngã lăn.
Nhưng lòng chàng rất mềm yếu bởi cha mẹ chàng đã chết dưới tay giặc ngoại bang.
Nay là cuối tiết Đông chí, non trăng nữa là tết Nguyên đán, sau tết là lễ Thượng
ngươn mùa hội núi, ân sư và chàng họ Lê có hẹn bàn việc quân trên núi Một. Ông
muốn nàng và chàng gặp nhau, mai đây trên chiến trường cũng dễ bề tương trợ.
Để mọi việc thuận lợi, ông
còn bày cho nàng xin phép huyện lệnh đi lễ phật cầu an gia đạo, cầu phước cho
hương vong của phu nhân. Sau đó xin sư phụ đi cùng hộ tống, kiểu gì việc cũng
thành. Tiểu thơ e ấp nghe. Tuổi mười tám đã khiến nàng biết xao xuyến, nhất là
với người trai mà sư phụ nàng hết lời ngợi khen.
Và đúng như dự đoán, huyện
lệnh tất nhiên không dễ gì chấp thuận thỉnh cầu của con gái. Nhưng có lão sư
đứng ra hứa bảo vệ tròn châu vẹn ngọc nên ngài đã nhận. Thêm nữa, ngài cũng
nhân cơ hội đặt điều kiện với con, sau chuyến đi này về phải làm lễ cưới ngay
với con trai quan tri phủ, bên đó đã giục lắm rồi. Và tiểu thơ đã miễn cưỡng
đồng ý.
Ngựa xe rùng rình từ Quan
Hóa tiến về núi Một, ai chẳng biết phải qua vùng Khiêm Hạnh đầy rắn rết, muỗi
mòng. Rồi Bưng Trao Trảo vắt qua Cẩm Giang Thôn với lời truyền tai có một ông
cọp cụt chân cực kì hung hãn…
*
**
Đoàn ngựa xe của tiểu thơ đã
rơi vào tai mắt của của ông ba mươi khi bóng đêm vừa chập choạng buông xuống.
Bọn quan lính với giáo mác gương đao giỏi đối phó con người, với bọn đân đen
tay không tấc sắt. Chứ với cọp vằn vện khập khểnh này thật là bất trị. Những
cây đuốc dự phòng cũng đã đốt cả lên. Người ta nói ánh sáng đuổi thứ dữ nhưng ở
đây hình như đèn đuốc càng làm cho cọp say máu. Mà lạ chưa, con vật quật ngã
mấy tên lính nhưng không tha xác tên nào rồi biến vào bóng đêm như nhiều lần
khác, mà cứ nhằm chiếc xe song mã của tiểu thơ lướt tới.
Con tì tất của tiểu thơ đã
chết ngất từ khi mấy vệt máu văng trúng tấm rèm xe. Lão sư vừa bảo vệ người
ngọc trong khoảnh khắc nguy hiểm không kịp rút kiếm đã vung nắm đấm lên khi con
vật hung hãn vằn vện ấy lao tới. Tiếng à uôm bật lên thống thiết nhưng dù ăn
trọn cú đấm vào ngực, cọp cụt vẫn xoay người lại giáng một tạt vào mặt vị võ sư
tuổi lục tuần. Máu bay tung tóe, ông chới với hụt chân…
Nhưng cùng lúc đó một tiếng
“ự” khô khốc vang lên, con cọp bật ngã. Một bóng áo chàm lao đến với gậy cầm
chắc trong tay. Con cọp gườm gườm đứng dậy, lao vào, nhưng chỉ một cú né nhanh,
gậy trong tay quất xuống tới tấp. Những người đứng xung quanh chẳng kịp nhìn rõ
điều gì đang xảy ra, chỉ kịp nghe tiếng à uồm tức giận, rồi bóng vằn vện lao
vút vào bóng đêm tĩnh lặng.
Phủi tay, chàng trai bước
đến bên vị lão sư đang mệt nhọc tựa vào thành xe ngựa.
Chàng vòng tay chào sư phụ.
- Triệt nhi! Sao con biết ta
đi đường này? Sao còn đến kịp?
- Ngẫu nhiên thôi ạ. Trương
công sai con về núi Một hội hiệp anh em. Con định sau khi hội ngộ sẽ tìm cách
liên lạc với sư phụ ở huyện đường Quan hóa. May nhờ đường lên núi chỉ là độc
đạo nên mới có dịp gặp thầy ở đây!
- Rủi hóa may là vậy! Ta
cũng hộ tống tiểu thơ con huyện quan đi viếng núi Một đây.
- Thưa… nàng ấy là vị tiểu
sư muội mà thầy thường hay nhắc?
Không đợi chàng trẻ tuổi
xưng danh, bức rèm gấm đã vén lên tự bao giờ. Tiểu thơ muốn tận mắt nhìn vẻ uy
dũng hiên ngang của chàng tuổi trẻ vừa cứu mạng mình.
- Tại hạ họ Lê tên sĩ Triệt
xin chào tiểu thơ!
Vòng tay rộng, vạt áo lam
không rộng nên trong tầm nhìn gần, tiểu thơ đã thấy rõ đôi chân mày rậm vút lên
như thanh kiếm, gương mặt chữ điền đĩnh
đạc, đôi mắt sáng hiên ngang
- Xin hãy gọi em là Hương
muội! Em họ Lý.
- Hương muội… tại hạ xin
thất lễ…
Chàng tuổi trẻ nhỏ giọng
Đêm hôm đó, đoàn người ngựa
của tiểu thơ đã cắm trại nghỉ đêm tại Bưng Trao Trảo này vì ngựa người đều mệt
sau cuộc chiến với ông cọp. Nhưng quan trọng tiểu thơ muốn được trò chuyện
nhiều hơn với chàng đệ tử mà thầy nàng hết lời khen ngợi.
*
**
Núi Một hiện ra uy nghi và
hùng vĩ giữa trời xanh. Chàng tuổi trẻ đi về bên kia sườn núi để hội ngộ anh em
nghĩa quân theo sự dẫn đường của một chú bé chăn bò. Tiểu thơ họ Lý phải lên
núi lễ phật. Vị lão sư hộ tống tiểu thơ đi về phía đỉnh Điện Bà. Họ chia tay
đầy lưu luyến, hẹn rằng hai hôm sau lại gặp nhau ở chân núi để đường về Quan
Hóa có người bảo vệ ngọc ngà.
Hậu liêu đêm mười bốn trăng
tháng Giêng dìu dịu sáng. Cảm giác như chỉ với tay lên là sẽ chạm ánh trăng
ngà. Con tì tất ngủ say bên chiếc ghế bành thô cứng. Chiếu chăn thơm mùi vải
mới nhưng tiểu thơ không ngủ được, nàng xao xuyến với màu trăng, ai lại cất
công lên núi rồi lại ngủ thế này. Phí lắm! Phí lắm.
Nàng nhẹ chân lách ra cửa,
để ngắm trăng, để nghe mình gần hơn với thiên nhiên huyền ảo. Bởi vì ngày này
tháng sau nàng đã vu quy, đã thành một vị tiểu phu nhân nhà quan phủ. Một bước
có kẻ hầu người hạ, làm sao được ung dung mà ngắm trăng đẹp thế này? Bước ngọc
nàng dần xa căn hậu liêu của nhà chùa. Ánh trăng như thôi miên nàng, như hứa
hẹn nàng đi xa chút nữa, nó sẽ rơi vào tay tiểu thơ cho nàng cầm nắm vậy.
Bất giác tiếng cành cây gãy!
Một bóng áo đen rồi năm bóng áo đen vây quanh nàng.
- Chào tiểu thơ! Ta biết
nàng là con của huyện quan Quan Hóa! Nên xin mời nàng về làm phu nhân ta! Nàng
không biết bọn ta, nhưng cái sẹo trên mặt cha nàng biết bọn ta là ai đấy! Bọn
ta còn biết cả việc cha nàng hẹn với giặc nữa kia!
- Các người nói láo! Cha ta
là một vị huyện quan thanh liêm!
- Thanh liêm à? Cứ bắt nàng
về sẽ biết! Anh em, lên!
Tên đàn ông có vóc dáng cao
to nhất bọn hô hào và bốn tên còn lại đều vung đao loang loáng lướt đến phía
nàng. Tiểu thơ cũng là một tay võ học. Ít nhất cũng mười năm luyện võ nên thân
thủ nàng đâu phải tầm thường. Tay không tấc sắt nhưng những cú đấm, cước tung
của nàng đã khiến hai tên thổ phỉ buông đao loạng choạng. Ba tên còn lại dồn
nàng về góc trái phiến đá sân đấu. Từ dưới vực, một cây bã đậu gai góc nào đó
vươn lên khoe nhánh khoe tàn lùm lùm nơi đấu võ. Tiểu thơ tả xung hữu đột, lại
một tên thổ phỉ nữa đã rơi gươm ngã gục. Hai tên còn lại quyết đuổi con mồi. Có
lẽ chúng không còn muốn tặng nàng chức áp trại phu nhân nữa, mà sự sĩ diện của
đàn ông bị phụ nữ đánh ngã lăn đã khiến bọn chúng nổi điên. Tên đầu xỏ cao to
đạp vào tảng đá bên phải sân võ lấy đà phóng về phía tiểu thơ. Bên trái sân võ,
tiểu thơ đang dùng vừa quyền vừa cước chống chọi với lưỡi đao của tên còn lại.
- Hự!
Tên đầu xỏ quá đà té xuống
chân tiểu thơ vì nàng đã nhanh chân lạng người tránh cú đấm “hổ vồ” của hắn.
Nhưng bước chân nàng cũng đã hụt đà chới với xuống vực thẳm. Tên cầm đao chỉ
kịp vung đao lên vớt một mảng áo chàm phấp phới rồi tất cả đã rơi vào tĩnh
lặng. Một cái xác thổ phỉ nằm lại, bốn bóng người dìu nhau mất hút vào bóng
đêm. Góc núi giờ chỉ còn tiếng gió.
Hừng đông còn mù sương như
tiên cảnh. Tiểu tăng dậy châm nước pha trà thì lay gọi tì tất hỏi tiểu thư đâu.
Tì tất dụi mắt mấy lần:
- Đêm qua ta nằm đây, tiểu
thơ nằm bên đó mà? Hay người đi vãn cảnh?
- Tôi ra khe lấy nước, có
thấy tiểu thơ đâu?
Tì tất bước lại phía giường.
Chiếc gối màu nâu nhà chùa bằng phẳng chứ không có dấu lõm vào. Chứng tỏ người
không nằm gối từ lâu lắm. Sự việc nhanh chóng được báo cho trụ trì. Ông từ đại
điện xuống hậu liêu, ra cả sân sau. Chỉ thấy cành lá cây bã đậu vương vãi giập
bầm. Xác người mất dấu, chỉ còn vài vết máu khô. Miệng niệm nam mô không dứt,
ông lo sợ huyện lệnh làm khó nhà chùa, thương đời nhi nữ không còn trong trắng.
Cả núi Một bị xới lên để tìm
tông tích vị tiểu thơ họ Lý.
Nhưng bóng người như bóng
chim…
Ba đêm sau ngày tiểu thơ mất
tích, trụ trì đang mơ ngủ bỗng nghe tiếng gió lay tấm màn lam:
- Trụ trì… trụ trì…
- Thí chủ là người hay là
ma?
- Ta là Lý Thiên Hương, con
gái huyện lệnh Quan Hóa… trụ trì đừng tìm nữa, sẽ rất hao tốn hương đèn của bổn
tự. Hồn ta đã bay ngang đỉnh núi về lại cõi tiên bồng. Còn xác, cứ tầm theo
chiều thẳng đứng của cây bã đậu sau hậu liêu...
*
**
Chàng tuổi trẻ họ Lê sau này
vì quá nhớ thương người con gái trung trinh tiết liệt nên đã xin nhà chùa một
phiến đá nhỏ, nơi được cho là chỗ tiểu thơ họ Lý chiến đấu đến hơi thở cuối
cùng để gìn giữ tiết trinh. Chàng mài phiến đá đó thành lưỡi gươm để giết giặc,
mỗi nhát kiếm vung lên là chàng như được tiếp thêm sức mạnh cho đầu kẻ ngoại
bang rơi như chém cỏ.
Còn quan huyện Quan Hóa sau
này nghe đâu bị điên.
Gặp ai cũng hỏi con gái tôi
đâu? Con gái tôi đâu… bao giờ cưới… bao giờ cưới…
Đào Phạm Thùy Trang
Khoảnh khắc ấy thật đẹp, là khi Nương nhìn thấy ánh mắt chồng rực lên niềm hạnh phúc lúc cho nắm rau thơm “tả pí lù” vào tô mì buổi sáng:
- Ôi ngon quá em ơi… tự
tay mình trồng, tự tay mình hái, mình bỏ vô tô mì nè… Em, em có nghe mùi ngò
gai hòa lẫn trong mùi thơm ấm của cải mầm, mùi hẹ nồng nồng, mùi rau dấp cá nữa,
thơm như cả ao cá trong vườn… thần thánh luôn phải không?
Nương cười xòa nói chồng
“sến như con hến”. “Thơm như cả ao cá…” gì trời. Nhớ ngày nào đưa anh về ra mắt
cha mẹ, ăn bữa cơm với nhau, dĩa rau sống xanh um cắt từ vườn vô, anh xuýt xoa
khen rồi quấn một đũa rất to. Ai dè không đầy ba giây đã chạy vụt vào nhà tắm
nôn thốc nôn tháo nói “Bộ tay em làm cá không rửa rồi bốc rau cho vào dĩa à?”
Cả nhà được phen cười sặc
cơm. Nương lựa lựa vài lá rau trong dĩa rồi vò vò xong “ịn” vào mũi anh bảo đây
chính là làm cá không rửa tay nè! Nhìn mấy lá rau bé xíu mà bốc cái mùi độc ác,
anh gãi đầu:
- Xin lỗi cả nhà vì nào giờ cháu… không biết
ăn rau này. Ủa mà nó tên gì ạ? Để mai mốt, cháu đi mua nó về ăn cho quen mùi… vì
cháu không ăn được cá, cứ ăn là mắc xương
Ba mẹ Nương cười
nghiêng ngã, lòng dậy nỗi cảm thương một thanh niên gần ba mươi mà không biết
rau giấp cá là rau gì, càng không ăn được cá.
Cưới nhau xong, nhà vợ
cho thửa đất be bé để vợ chồng trẻ an cư lạc nghiệp. Căn nhà nhỏ được cất lên,
bữa cơm vợ chồng trẻ nếu không ăn chung món thịt thì xem như là “cắt nửa bàn
ăn”, bên này vợ ăn cá, bên kia chồng ăn trứng hoặc… đồ hộp. Vậy nên Nương quyết
“cải tạo” chồng.
Vuông đất bé xíu sau
nhà cũng được Nương tận dụng hết diện tích để trồng rau. Hết chậu xốp cho các
loại cải thì chậu treo cho các loại rau gia vị. Giàn mướp thì bé xíu như tấm nệm
nhưng cho trái lúc lỉu trông rất vui mắt.
Chồng thì sau giờ làm cũng
tíu tít bên vườn rau của Nương, hết tưới nước thì xới đất. Cái xẻng bé xíu xới
nhè nhẹ trong thùng xốp, rồi múc từng ca phân bò đã hoai mủn cho vào để hôm sau
là reo lên khi thấy mớ ngò gai, hành lá, ngò rí… cao vụt xanh mươn mướt
Sau bốn tháng “cải tạo”,
chồng Nương đã ăn được món canh cá nấu ngót. Đó là vài con cá trắng còn nhảy
xoi xói của buổi chợ sớm Nương mua về, nêm ngòn ngọt một chút, sôi lên thì cho
ngò rí vào xong tắt bếp múc ra để nhìn chồng xì xụp húp.
Nương cười rinh rích bảo
chồng kể về sự tích mắc xương cá đi, vì sao gần ba chục năm qua anh không ăn cá?
Anh ậm ừ kiểu thẹn rồi
bảo:
- Ngày bé anh háu ăn lắm,
nhà nghèo, ba anh em trai sàng sàng nhau nên thằng này sợ thằng kia ăn hết phần
ấy mà! Thế là cứ mạnh tay mà múc, mà nhai chả kịp lừa xương gì cả. Đến khi nuốt
rồi khóc thét lên mẹ mới biết. Chữa mắc xương bằng cách nuốt cơm nóng đến sắp
nghẹn, uống nước chanh không đường chua lè chua lét mà cái xương không chịu
trôi xuống. Mẹ vừa đạp xe vừa khóc chở
thằng con tới bác sĩ, ổng bắt há miệng ra, gắp cái xương ra, may mà còn thấy được
nó. Hồi đó mà bác sĩ tính 20 ngàn tiền công là cũng nhiều đấy!
- Ôi trời ơi… ghê vậy
à? Sau đó thì sao hả chồng? Nương âu yếm hỏi.
- Sau đó… anh vẫn mắc
xương cá, có khi tuần mắc hai lần. Mẹ đưa đi bác sĩ riết, ông không thèm tính
tiền luôn. Rồi người ta nói tại cổ họng anh nhỏ, đầu lưỡi bằng nên khó lừa
xương. Biện pháp dễ nhất là… đừng ăn cá nữa. Hoặc chỉ ăn cá lớn. Mà em biết đó,
cá lớn thì lớn tiền, sạp rau ghém của mẹ làm sao đủ tiền mua cá lớn?
Dòng ký ức của chồng chìm
trong tiếng thở dài, bởi người đàn ông được coi là trụ cột gia đình ấy đã bỏ vợ
và ba đứa con trai để đi theo người đàn bà khác vì “Ở với em nghèo quá, đẻ gì
mà đẻ hoài, tui đi kiếm bà khác coi có giàu hơn không”
Ông ấy có giàu hơn hay
không thì mẹ anh không biết, bởi bà còn bận tảo tần nuôi bầy con mà đứa lớn nhất
mới lên 10.
Cơm chỉ có thịt vụn cá
nhỏ chứ làm gì có cá lớn. Hôm nào rảnh tay mẹ anh làm một nồi cá kho mía xương
rục mềm đến tan trên đầu lưỡi thì xem như hôm đó thằng trai giữa không… tốn tiền
đi bác sĩ vì mắc xương cá. Nhưng thường thì bà bận nhiều hơn rảnh chuyện cơm nước
đứa con lên mười sẽ lo, cậu bé chỉ biết
kho cho chín. Thế nên cậu em lên 7 cứ… mắc xương
Nương cười hi hi rằng mắc
xương cá riết mà anh không “miễn dịch” hả? Sao cứ phải mắc hoài. “Ai mà biết
đâu nè, chắc tại đầu lưỡi anh không nhọn đó mà”.
Mắc xương cá mãi nên cậu
bé lên 7 quyết định: không ăn cá nữa, cái rau gì có mùi cá cậu bé cũng tránh xa
luôn.
Hôm nào dư dả tí thì mẹ
mua thịt cho ba anh em ăn. Khi ít tiền vẫn ăn cá con cá vụn, thì mẹ mua cho cậu
trai giữa vài cái trứng hoặc lon cá mòi. Vậy là giải quyết được vấn đề xuơng
cá. Nhưng chuyện mắc xương làm cậu không thèm ăn cá suốt 20 năm sau.
- Rồi sau đó ba anh có
trở về không? Mẹ siêu nhân ghê á, nuôi
ba đứa con trai nên người hết! Nương nói bằng giọng ngưỡng mộ. Giọng chồng
Nương trầm trầm:
“Mẹ anh là người phụ nữ
vĩ đại nhất trên đời này. Sau ba anh có trở về, về lúc nửa đêm, còn dắt theo
người phụ nữ khác. Ông xin mẹ mở cửa cho vô nhà ngủ vì dù sau nhà cũng còn đây,
các con ông vẫn còn đây. Đó là lúc anh mười bốn, anh Hai mười bảy rồi
Mẹ mở cửa cho họ vào,
nhưng ba anh không chịu ngủ ở bộ ván nhà trước, mà đòi vô phòng ngủ với mẹ, chỉ
ngặt một điều, ông buột mẹ nằm một bên, người phụ nữ kia nằm một bên
Vậy là đêm đó mẹ xuống
bếp ngủ, để phòng của mình cho họ. Rồi chắc là mẹ ngủ không được nên mấy con
dao bào xắt rau muống, bắp chuối đều được mẹ đem ra lau chùi mài giũa bén ngót giắt
dọc trên vách bếp chuẩn bị cho buổi chợ hôm sau.
Sáng người đàn bà kia dậy
sớm đi vệ sinh rồi bỗng dưng bỏ đi mất. Mà em biết đó, muốn đi vệ sinh phải qua
nhà bếp. Chắc cô ấy thấy giàn dao của mẹ, cổ sợ mẹ đánh ghen hay gì đó. Ba anh
dậy sau, hỏi mẹ cô ấy đâu rồi. Mẹ nói không biết. Thế là ba giơ nắm đấm lên. Bảy
năm xa nhà, ba trở về tặng “quà gặp mặt” là một nắm đấm cho vợ. Ba anh em anh
đâu chịu được. Anh Hai cầm cây côn nhị khúc - món đồ thể thao quen thuộc của ảnh -
phóng vút vút vào ba. Anh thì ôm mẹ lôi ra tránh nắm đấm của ba. Thằng út 10 tuổi
nhào vô… tụt quần ổng.
Cả nhà như hát bội,
hàng xóm bu lại xem ồn ào như vỡ chợ. Ba anh bỏ đi luôn từ dạo đó. Sau đó mẹ
anh nằm nhà ba ngày và khóc. Anh Hai quyết định không đi học nữa, dù đang học lớp
12. Anh ấy ở nhà đi làm công nhân lò mì có tiền phụ mẹ nuôi em. Anh cũng muốn
nghỉ dù mới lớp 9, nhưng anh Hai bảo, hãy ráng học luôn giùm phần anh ấy. Ảnh rất
muốn học để làm một luật sư nhưng nhà nghèo quá... Vậy là anh Hai nuôi anh và
thằng Út ăn học luôn. Ông chủ lò mì thì cho mượn vốn để mẹ làm cái quán giải
khát, bán cho công nhân lò mì chứ không phải ra chợ bán rau ghém bắp chuối bào
như trước nay nữa.
Nương nuốt nước mắt
theo câu chuyện của chồng. Câu chuyện mà suốt thời yêu nhau anh chưa từng kể tỉ
mỉ như vậy. Lòng cô thầm yêu thương và kính trọng mẹ chồng hơn, bởi nếu là
Nương, thì khi ông gõ cửa xin vào nhà đã có chổi chà chổi quét mang ra rồi. Lại
còn bắt nằm chung giường nữa hả? Chắc dao phay, dao gọt, dao bào, dao găm gì gì
cũng đem ra thí võ đài hết cả. Ở đó mà nhường phòng cho ngủ.
Vậy mà mẹ vẫn bình tĩnh
được, mẹ làm con ngưỡng mộ quá mẹ ơi!
Sáng hôm ấy, khi bình
minh vừa lên, đem những tia nắng đầu tiên vào không gian mát dịu thì Nương đã dậy.
Cô nấu nấu món cà ri gà thả vườn chính tay mình nuôi, hái mớ rau nêm chính tay
vợ chồng trồng để nêm nồi cà ri gà ngon ngọt hơn. Mớ lá lốt nõn xanh cũng hái
vào băm nhỏ vò viên với thịt chiên giòn lên. Mớ cải xà lách chồng Nương đang cẩn
thận tỉa từng lá kia sẽ lót dĩa cho mấy viên thịt chiên lá lốt này.
À còn mớ rau cần nước xanh
um kia sẽ xào với thịt bò nữa chứ. Vừa làm bếp, Nương vừa í ới chồng nhanh tay
để kịp về thăm mẹ hôm nay. Cung đường về nhà mẹ chồng 20km mà sao cô dâu trẻ
nghe dài quá.
Xe chạy nhanh nhanh,
bên tai Nương gió thổi vù vù vì bình minh hôm nay thật đẹp vì trời cao xanh vời
vợi, nắng vàng ngập lối đi…
Đào Phạm Thùy Trang
Hoa bằng lăng không thơm kín những con đường như hoa sữa, hoa sưa. Người ta không dùng hoa bằng lăng ướp trà như hoa ngâu, hoa sói, hoa lài… Hoa bằng lăng cũng không có mật ngọt như hoa nhãn, hoa cà phê, hoa bạc hà… để dâng cho đời những sản phẩm mật ong thơm ngọt.
Nhưng sắc tím của hoa bằng
lăng làm người ta xao xuyến. Sắc tím của thủy chung.
Nhà mợ Út tôi cũng có một
cây bằng lăng.
- Cây bằng lăng có gì mà mẹ
quí? Phải chi nó có hoa thơm, có giá trị… thì con không tức, đàng này… Mặt tiền
nhà mình nhỏ như cái bánh bò bông, con muốn mở mặt bằng làm ăn mà mẹ cũng không
cho là sao?
- Nhưng nó là kỷ niệm! Mợ Út
dứt khoát.
- Kỷ niệm có nuôi sống con
người được không mẹ?
- Bốp!
Thình lình mợ tám tát con Chung,
ba ngón tay mợ in rành lên mặt nó.
- Hu…hu… mẹ đánh con vì cái
cây vô dụng mối ăn sắp ngã à? Con không thèm nói chuyện với mẹ nữa! Chung chạy
vụt đi còn mợ Tám chỉ kịp gọi “Chung…Chung”
vỡ òa trong sương sớm .
***
Ngoại tôi mất, không ai
trong gia đình còn nhớ lý lịch cây bằng lăng ấy nữa, tôi là người duy nhất
trong đám “hậu sinh” hôm nay được mợ Tám kể lại. Với mợ nó là một kỷ niệm
thiêng liêng mà từ lâu rồi mà mợ không muốn nói với ai, chỉ muốn để kỷ niệm ấy
theo mợ về miền cực lạc (Sao mợ lo xa, bây giờ mợ mới sáu mươi chứ mấy)
… Chiến tranh biên giới Tây
- Mình trồng hai cây bằng
lăng này nghe em, vừa có chỗ giăng võng, vừa có hoa đẹp em ngắm!
- Nhưng anh đi xa, cây ra
hoa chỉ có mình em thấy.
- Bộ em nói anh đi… mười năm
lận à?
- Anh hứa nha… đi nhanh về
với em để em hái hoa bằng lăng kết thành vòng đeo vào cổ anh…
- Sao không đội đầu mà đeo
vào cổ?
- Đeo vào cổ cho dễ giữ
không bao giờ để anh xa em nữa.
Mợ Út dụi đầu vào vồng ngực
rắn chắc của chồng như để lưu mãi mùi người đàn ông quen thuộc mà mình yêu quí.
Nhưng tiếc thay cậu Út tôi
không bao giờ về nữa! Những lá thư đầu tiên cậu Tám nói đang đóng quân ở
Pắc-Tâm-Băng nhưng chính ông ngoại tôi và cả mợ Tám cũng không biết
Pắc-Tâm-Băng là ở phương nào.
Một buổi chiều ông ngoại kéo
rơm về cho bò ăn, vô tình chiếc bánh xe bò đã nghiến nát một cây bằng lăng đang
sức lớn, những chiếc lá non bị lún xuống đất theo đường đi qua của chiếc vòng
sắt bánh xe.
Tiếc thật, nếu lúc đó xe bò
dùng bánh hơi như bây giờ thì cây bằng lăng sẽ không chết vì sức nghiến của
bánh hơi rộng và không “tàn nhẫn” như bánh cây niềng sắt. Mợ Út vừa vun lại gốc
cây mà nước mắt mợ vừa rơi lã chã. Với mợ, hai cây bằng lăng ấy như hai cậu mợ,
linh cảm người vợ có gì đó không lành cho người đi xa.
Ngày mợ biết chắc mình hoài thai được hai
tháng thì cũng là lúc một cây bằng lăng chết khô. Mợ khóc, từ ngày cậu Tám đi
đến giờ mợ mới khóc một lần ra trò.
Ông bà ngoại tôi dỗ dành con
dâu hơn cả con gái, việc nhà, việc ruộng mợ không làm nổi, món ngon, thịt cá gì
ngoại tôi cố làm cho hấp dẫn để mợ ăn vậy mà cơn nghén bắt mợ cứ nôn ra hết.
Ngoại cứ kiên nhẫn làm thức ăn cho con dâu, vì với ngoại, đứa con trong bụng mợ
Út không những là cháu nội mà còn là hình dáng của đứa trai út ít đầy yêu
thương của ngoại nữa. Đáng ra cậu Út tôi không phải ra chiến trường, vì nhà đã
có cậu Hai và cậu Ba làm việc trong quân ngũ. Nhưng vì yêu quê hương nên cậu
phải lên đường.
Mợ Út cứ ốm nghén hoài,
người lép kẹp mỏng dính, ăn uống chẳng được gì, nằm như người bệnh ngặt đến nỗi
ngoại tôi phải nhờ bác sĩ đến vô nước biển cho mợ mấy ngày liền.
Tháng ngày qua đi… cái bụng
của mợ cũng dần lớn lên. Những cú chòi đạp dữ dội của thai nhi khiến mợ nghĩ
rằng nó sẽ là con trai.
Rồi lúc mợ Út có thai được
bảy tháng rưỡi thì cũng là lúc tin dữ báo về: Cậu Út tôi đã thành liệt sĩ!
Giấy báo tử thì có nhưng hài
cốt thì không. Mợ Út không khóc, dường như con người ta khi đối diện với tận
cùng nỗi đau thì không còn nước mắt để khóc nữa. Mợ nằm yên trên giường, người
gầy yếu hơn cả lúc ốm nghén. Tối ngày mợ đắp mền kính cả đầu, thân thể bất
động, chỉ có cái bụng tròn tròn nhấp nhô.
Hai mươi mốt tuổi mợ Tám góa
bụa.
Cây bằng lăng vẫn âm thầm
lớn lên, như cái thai không biết mình đã mất cha từ trong bụng mẹ. Chỉ có mợ Út
là thu mình nhỏ lại, mợ không muốn ra đường, không hay đi ruộng, chỉ cơm nước
trong nhà…
Biết mình sinh con gái mợ
buồn ra mặt vì không còn cơ hội tìm lại hình bóng người chồng yêu quí ngày nào,
nhưng ngoại tôi an ủi “Thôi, vậy cũng tốt con à… biết đâu là con trai con lại
nhớ thằng Công nhiều hơn…” nhưng ngoại tôi cũng quay đi lau nước mắt.
Đứa con gái được đặt tên
Trần Thị Thủy Chung, càng lớn bé Chung càng mũm mĩm, lời đầu tiên tập nói vẫn
là “ba…ba…” như bao đứa trẻ khác. Nhưng lúc đó nó không biết “ba” là gì cho đến
khi nói rành rọt nó hỏi mẹ “Ba đâu”, mợ Tám chỉ lên trời và nói “Ba con đi máy
bay qua Pắc – Tâm - Băng công tác mai mốt về…”. Vậy mà nó “tin như sấm”, mỗi
khi có tiếng ù ù của máy bay là nó chạy ra sân gọi “Máy bay, máy bay qua Pắc –
Tâm – Băng chở ba về cho Chung nhé! Chung thèm ba lắm”. Bé Chung không nói
“nhớ” mà nói “thèm” làm mợ Tám khóc sướt mướt, cho đến bảy tuổi nó vẫn nhắn máy
bay chở ba về cho nó.
Ông bà ngoại tôi già rồi
bệnh mất. Mợ lo tròn trách nhiệm người con dâu Út. Ông bà ngoại di chúc lại, là
để hết phần đất hương hỏa đang có ngôi nhà và cây bằng lăng cho mợ Út để mẹ con
bé Chung có nơi an cư mà lạc nghiệp. Hai cậu và mẹ tôi cũng chẳng tranh giành
gì, vì ai cũng đã có tư có riêng và quan trọng là họ thương mợ Út thời thanh
xuân góa bụa.
***
Có người đàn ông tìm đến với
mợ Tám sau 15 năm cậu tôi thành liệt sĩ, là một tay thợ sửa xe Honda. Vợ chết,
hai con đi làm xa, đề nghị khi “góp gạo thổi cơm chung” thì mợ chặt cây bằng
lăng ấy lấy mặt bằng để ông mở cái tiệm sửa xe. Mợ Út cũng nghĩ rằng tuổi mình
sẽ già, con gái sẽ lấy chồng. Thôi thì gá nghĩa cùng nhau, để có người nương
tựa tuổi già. Nên mợ đồng ý phần bỏ vốn đầu tư cho người sắp làm chồng của mợ. Nhưng
cây bằng lăng thì không ai được đụng đến, người đàn ông ấy bằng lòng bằng cách
“Thôi thì cất sát gốc cũng được” nhưng rồi ông ta…lặng im biến mất
Mợ càng giữ gìn cây bằng
lăng như báu vật. Vậy mà bây giờ nhỏ Chung muốn chặt cây để lấy mặt bằng mở cửa
hàng quần áo thời trang. Và mẹ con xung đột.
Nhỏ Chung bỏ đi từ sáng về
với bó lục bình đầy hoa trên tay, nó khe khẽ chọn những hoa còn búp cắm vào
chiếc bình nhỏ để chút nữa mang lên bàn thờ ba. Rồi lấy cục xà bông đi tắm, nó
xát mãi lên mình như muốn “một phần tư kem dưỡng da” trong xà bông át đi mùi
bùn, mùi rong bám khắp người đó vậy. Tắm xong, Chung bước vô nhà mợ Tám cũng
không hay, mâm cơm đậy lồng bàn nguội ngắt, mợ ngồi hai bàn tay bưng lấy mặt,
nét khắc khổ và tủi buồn nằng nặng cả không gian.
- Mẹ… con xin lỗi… chị Loan
đã nói cho con nghe hết rồi. Chung đến bên mợ Út quỳ xuống và gối đầu lên chân
mẹ.
- …
- Sao từ trước giờ mẹ không
nói cho con biết cây bằng lăng đó là của ba trồng. Thôi mẹ hén, con xin lỗi,
con không dám đòi đốn cây bằng lăng nữa đâu. Mình để đó mai mốt ba về giăng
võng nằm nghe mẹ!?
Mợ Út tôi xoa đầu con gái,
nó đã có chồng có con rồi đó, mà cứ vẫn trẻ con làm nũng mẹ. Mợ nói với nó
rằng, cây bằng lăng đó, mẹ đã không còn nghĩ nó là cây nữa, mà nó là ba của con
đấy! Ngày đó cưới nhau, ba mẹ còn không có được tấm hình cưới làm kỉ niệm. Chỉ
còn cây bằng lăng này, nó lưu giữ mùi mồ hôi tay của ba con khi ông bứng nó về,
mẹ chỉ còn duy nhất một kỉ niệm đó, nên mẹ muốn giữ nó đến ngày mẹ về với ông
bà. Rồi con muốn bứng gốc hay chặt bỏ nó cũng được.
- Không… không… con sẽ giữ
cây bằng lăng mãi, con biết rồi, con sẽ xem đó như là ba của mình. Ba suốt đời
che mát cho con, trổ hoa cho con ngắm, cho con của con hái cài lên tóc trẻ thơ!
Mợ Út tôi gục gặc mái đầu đã nhiều sương nhiều muối của đời người.
Mùa hạ lại về, quê tôi có hai màu hoa tím đua nhau khoe sắc. Lục bình tím ngát trên con sông Cẩm Giang huyền thoại và màu bằng lăng ngoài ngõ, trên đường đang giương hàng trăm nghìn con mắt tím như ngóng đợi người đi xa về lại cho tròn câu hẹn ước thuở nào.
Đào Phạm Thùy Trang