Nơi khởi đầu cho giấc mơ văn chương - Đăng Huỳnh

Giấc mơ sợi tóc bay không chỉ là tuyển tập văn, thơ của các tác giả trẻ mà còn là câu chuyện về nơi khởi đầu cho những giấc mơ văn chương. Ðó là chuyện về Bút nhóm Nắng Thủy Tinh ở An Giang.

Giấc mơ tóc bay do NXB Thanh niên ấn hành, tập hợp các tác phẩm thơ và văn xuôi của 17 tác giả, trong đó có 5 tác giả viết ở cả hai thể loại. Người đọc nhận ra những cây bút trẻ nổi bật của vùng đất An Giang như Trương Chí Hùng, Hoài Phương, Vĩnh Thông, Huỳnh Ngọc Phước...

>> Đọc tiếp…

Viếp tiếp những dòng xanh - Vĩnh Thông

Cuối năm 2011, xuất phát từ phong trào sáng tác văn thơ trong Trường Trung học phổ thông Bình Mỹ (xã Bình Mỹ, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang), một nhóm sáng tác trẻ đã định hình. Nhằm tạo điều kiện phát huy các hoạt động sáng tác của các bạn trẻ, ngày 16/2/2012, Ban vận động Câu lạc bộ Văn Thơ THPT Bình Mỹ ra đời. (Về sau, ngày này trở thành ngày kỷ niệm thành lập Bút nhóm Nắng Thủy Tinh).

>> Đọc tiếp…

Khoảng trời ký ức để nhớ thương - Ngọc Đặng - Ngọc Phước

Mọi thứ sẽ dần phai mờ theo lẽ vốn có của tự nhiên, nhiều ước mơ của một thời tuổi trẻ ngồi trên ghế nhà trường giờ đây cũng chỉ là những điều mơ hồ còn sót lại. Tuy vậy, khi nhắc về Bút nhóm Nắng Thủy Tinh - điều mà tuổi trẻ chúng tôi đã làm được, nó vẫn còn âm ỉ như mới vừa hôm qua. Bởi, nó không chỉ khiến chúng tôi thay đổi, mà còn khiến chúng tôi tự hào.

>> Đọc tiếp…

Lạm bàn về giọng nói - Hoàng Thị Bích Hà

Hôm qua đọc một status của người bạn fb, anh ta làm giám đốc một ngân hàng ở Huế có chuyến công tác ở Sài Gòn mấy ngày. Anh viết rằng: Lúc đi trong một khu phố, mình nói chuyện với mấy người dân họ cứ tròn xoe mắt lên nhìn mình rồi lắc đầu bảo: “hổng hiểu”. Mình cũng từng tự hào về giọng Huế của mình nhưng đi địa phương khác thì…, đôi khi cứ phải chấp nhận như nước sông Hương thượng nguồn khác nước sông khi trôi về biển.

Còn tôi với phận “dân nhập cư” chưa lâu nên khi giao tiếp với người bản xứ thì phải nói thật chậm, có khi còn phải nói theo giai điệu của người SG (không được nhiều, nhưng được chút nào hay chút nấy, miễn sao cho họ dễ hiểu, khỏi hỏi tới hỏi lui hoặc là căng mắt lên nhìn như người từ hành tinh khác tới là được). Có lần nhà thơ LP ở Tiền Giang gọi điện thăm tôi, sau một hồi hỏi thăm sức khỏe, chuyện viết lách xong, ảnh phàn nàn rằng: Vân Khánh ở SG lâu năm rồi nên nói giọng Sài Gòn nhẹ lắm. BH nói giọng Huế rặt, đậm chất miền Trung còn nặng! Tôi nói: “Vậy mà bạn bè tui chưa ai chê tui “noái” giọng nặng hết nghe “ôn”. Ai cũng hiểu chỉ mình ông hổng hiểu là sao ta? Ha.. ha…! Mà sao anh lại đem ca sĩ Vân Khánh ra so- người ta là ca sĩ mà!

Tôi nghĩ bụng “Trời đất ơi! Mình là người Việt, nói Tiếng Việt mà đi khác vùng miền đã khó nghe rồi huống chi ra nước ngoài ta. Ngôn ngữ bất đồng sẽ khó khăn biết bao! BH cũng có học tiếng Anh và thi xong 3 bằng A, B, C (hồi thập niên 90) mà khi qua Sing, người ta nói 10 câu, may ra mình chỉ hiểu có 3 câu. Đi bệnh viện có từ chuyên môn nhiều cần phải có phiên dịch. Còn đi ra ngoài như đi chợ, siêu thị, thì nói được câu nào thì nói, câu nào không nói được thì dịch trên điện thoại chứ biết sao giờ. Mặc dù lúc học ngoại ngữ cũng chăm lắm. Bài nào có bao nhiêu từ mới cũng học thuộc. cứ mỗi ngày 5 từ, đi đâu, ngồi đâu cũng viết ra và lẩm nhẩm (cái này không nói dốc à nghe. Đến nỗi chị Niên kế toán ở công ty Thuỷ Lợi

6 học hơn BH 1 bằng mà chị bảo: “Chị không thuộc hết từ mới mỗi bài đâu, học như BH rứa thì khi bằng A cũng hơn tui bằng B rồi”. Cuối tuần rảnh rỗi BH cùng với cô bạn thường đi vào Đại Nội để tìm mấy người ngoại quốc đi theo họ thực hành nói để cho quen mà thi vấn đáp. Vậy mà kiến thức bao la, những chữ mình học được chỉ như muối bỏ biển. Thảo nào có cô em học xong 4 năm ĐHSP ngoại ngữ xin vào làm ở nhà máy bia huda được mấy tháng thì xin nghỉ vì lý do áp lực, và vì vốn ngoại ngữ 6 năm phổ thông và 4 năm ĐH không ăn thua gì vì từ chuyên môn nhiều, không kham nổi.

Trở lại chuyện người Việt nói tiếng Việt. Đối với tôi (người miền Trung) thì người Bắc hay Nam nói tiếng phổ thông tôi đều hiểu cả, cũng nghe được, dễ hiểu không có gì trở ngại. Nhưng chồng tôi có lần đi ăn giỗ nhà người em ở một làng ven biển trù phú. Ảnh về kể với tôi rằng, người em và người trong nhà cô ấy nói thì anh hiểu còn mấy người bà con của cô em nói thì anh không hiểu gì cả. Anh thấy họ cười thì anh cười theo, thấy họ vỗ tay thì anh vỗ tay thôi chứ anh không hiểu mô tê chi hết!

Hiện nay ở một số làng quê, dân gian, nhất là mấy mệ già vẫn còn dùng nhiều từ địa phương. Theo cô Bạch Nhạn (lúc học ngữ văn, chúng tôi may mắn được học với cô ở phân môn này) cho biết đó là từ Việt cổ.

Ví dụ:

đầu gối - trục cúi.

Đầu - trốôc

Những tài liệu dân tộc học, ngôn ngữ học,… cũng cho chúng ta biết: Tổ Tiên người Việt Nam đã hiện diện hàng thiên niên kỷ trên lãnh thổ Bắc phần Việt Nam, rồi mở cõi di dân đến Trung phần và toàn lãnh thổ VN ngày nay. Là một dân tộc có gốc nguồn xa xưa nhất. Tiếng nói của người Việt đã được hình thành và phát triển qua hàng ngàn năm, đã hình thành được một ngữ hệ dân tộc và phát triển qua các giai đoạn Tiếng Việt cổ đại, trung đại, hiện đại là tiếng Việt phổ thông (mà người Việt chúng ta đang dùng). Để đáp ứng với nhu cầu diễn đạt và ngày càng phong phú.

Ví dụ: “tlâu ăn giữa vạc ló lỗ đã ngụy chưa tề” (trâu ăn giữa vạt lúa trổ đã ngụy chưa kìa.)

Hay là "Mặt blời đã lặn ngang tầm bụi tle" ( mặt trời đã lặn ngang tầm bụi tre)

Trong ca dao, dân ca:

“Trăm năm dầu lỗi hẹn hò,

Cây đa bến cộ con đò khác đưa.

Cây đa bến cộ còn lưa,

Con đò còn đó người đưa đâu rồi.

cây đa, có nơi gọi là cây da, bến cộ là bến cũ, còn lưa là còn lại

Và còn nhiều nữa, thú thật thống kê ra một bản dài đằng đẳng. Cô dịu dàng, dạy giỏi mà tại cái phân môn này nó khô quá nên tôi không thích học phần này lắm nhưng tất nhiên cũng phải ráng để thi mà vượt qua ải! Thật không phải với cô chút nào khi mà có phân môn thì say sưa học, có phân môn thì miễn cưỡng: “Cô ơi! Cô tha lỗi cho đứa học trò học dở như em”!

Mà có lẽ vì sự phân công mà cô phải dạy chứ ai mà chẳng muốn dạy các phân môn khác để nói thao thao bất tuyệt như giảng truyện Kiều hay các tác phẩm kinh điển khác của việt nam và thế giới, để học trò cứ há hốc, tròn mắt lên nghe cô thầy giảng bài đến nỗi trống báo hiệu giờ giải lao rồi mà vẫn không chịu ra. Cả lớp còn ngồi im, lắng động trầm tư mặc tưởng theo dư âm tiết giảng bài mà tiếc ngẩn ngơ vì hết giờ.

Vừa rồi, tôi được mời về làng ăn giỗ. Gặp một cô giáo H người địa phương, dạy địa phương thuộc một tỉnh miền Trung. Cô tự hào bảo: “Ai nói chi thì nói chơ tau dạy học trò là cứ con ja (tạm ghi chứ không tìm ra phụ âm để ghi chữ này) (con gà), cái jáo (cái gáo múc nước) đau trôốc (đau đầu),…”

Tôi không nói gì, vì người ta hội ngộ đang vui không lẽ mình ngồi cãi, nhưng ra về cứ ám ảnh mãi. Ôi cô không dạy tiếng phổ thông làm sao các em làm tập làm văn và còn đi thi lên các bậc học cao hơn. Đồng ý là quê hương như một cái nôi, nhưng trưởng thành thì bước ra khỏi nôi rồi còn tỏa ra muôn phương nữa chứ. Quê hương đâu có đủ chỗ mà ôm ấp tất cả mọi đứa con của mình. Dạy cho trò đi ra chứ không phải dạy cho trò ở mãi một chỗ trong xóm mình cô ạ. Sẽ thiệt thòi cho các em khi phải học cô giáo bảo thủ như vậy. Nhưng tin rằng các em dù học trong nhà trường vốn liếng ít ỏi vậy thì phải tự học, tự tìm tòi, nghiên cứu để trưởng thành để “vỗ cánh” bay khắp phương trời để học hành tiếp và mưu sinh.

Như vậy tóm lại là để cho việc giao tiếp thuận lợi thì cứ ăn cơm vùng nào nói tiếng vùng đó. Trừ trường hợp khi mình đã cũ (lớn tuổi, giọng cứng đi rồi) thì cố gắng nói chậm và bằng tiếng phổ thông để ít mất thì giờ cho việc làm ăn, giao dịch đạt hiệu quả nhất có thể.

Hiện nay lớp trẻ có những bạn để thích nghi đã bắt nhịp cuộc sống cũng như giọng nói rất nhanh. Có lần lên bệnh viện ĐHYD Tp HCM (tại quận 5). Có nữ bác sĩ KN khi nói chuyện với đồng nghiệp thì nói giọng SG, y hệt như người SG, khi khám cho tôi, nhìn thẻ bảo hiểm có ghi rõ hộ khẩu thường trú, nữ bác sỹ quay qua nói giọng Huế với tôi. Và nhiều nữa. ra chợ, vào nhà hàng, lên khu vui chơi, gặp nhân viên họ hướng dẫn bằng giọng SG, nhưng khi nghe mình nói giọng miền Trung, họ quay lại nói bằng giọng miền Trung ngay lập tức với mình. Đó là những người miền Trung sinh sống và lập nghiệp tại SG. Qua đó thấy sự thích nghi là cần thiết. Và cũng qua đây mong mấy bạn ở quê nhà đừng tỏ ra khó chịu khi một ai đó trở về từ Hà Nội, Sài Gòn,… hay nơi nào trên trái đất sau bao năm tháng bôn ba mưu sinh, họ nói quen giọng pha pha chút nơi họ cư ngụ chứ không nói giọng nguyên chất như thuở ở quê nhà. Thì đừng bảo: “Bạn nớ mới lên Hà Nội (hay Sài Gòn,…) mấy bữa mà chừ léo giọng đi rồi”! Khổ lắm, nói giọng mình người ta “hổng hiểu” thông cảm cho người ta! Nói riết thành quen, trở về cố gắng nói lại giọng quê mình được chút nào hay chút đó thôi!

Ví như khi nghe MC Diệp Chi (quê Nghệ An) nhưng nói giọng Hà Nội cứ tưởng cô là người Hà Nội. Hay như Ốc Thanh Vân cô sinh trưởng ở Hải Phòng, năm 18 tuổi cô vào SG mà với chất giọng đẹp và nói dẻo y hệt SG. Cô thành công với nghề MC, diễn viên.

Tôi xin kể thêm chuyện này. Nhà văn Trần Kiêm Đoàn (trước 1975 dạy học ở Huế” một lần chấm thi tú tài tại SG. Ông đã chấm bài luận văn của một thí sinh 19/20. Với điểm số tối đa này, theo nguyên tắc trường thi thời đó phải được đem ra hội đồng duyệt xét lại và giám khảo của bài thi phải chịu trách nhiệm trình bày để bảo vệ cho sự đánh giá của mình. “Tôi đã đem hết khả năng ngôn ngữ (rất Huế) của mình để thuyết phục hội đồng về những nét ưu tú trội bật của bài thi. Tôi không bực mình lắm khi điểm bài thi còn lại 17,5/20. Nhưng cảm thấy bị thương tổn khi một đồng nghiệp từ miền Hậu Giang vỗ vai tôi và “khen” rằng: “Tôi nghe anh nói hùng hồn và rất hay, nhưng anh nói cái giọng ngoải làm tôi không hiểu anh nói gì cả” nghe bi hài làm sao cũng không nhịn được cười. Thế mới hay, giọng vùng miền mới đi trong nước thôi đã vậy, ra ngoài nước nữa thì phức tạp đến cỡ nào, nên phải học và học cả đời không ngừng nghỉ. Mới thấm thía câu nói của nhà văn Trần Kiêm Đoàn: “Tôi nói tiếng Việt để thương mà nói tiếng Anh để sống”, (cũng như nữ bác sĩ đại học Y dược hay ca sĩ vân Khánh nói tiếng Huế để thương và nói tiếng SG để sống” vậy thôi!) đó là câu nói rất hay, rất thực tế của nhà văn Trần Kiêm Đoàn (ông từng giảng dạy tại một trường ĐH ở Hoa Kỳ, hiện cư ngụ tại Hoa Kỳ) khi ông có dịp trở về việt Nam thăm quê.





Sài Gòn ngày 24/7/2023

Hoàng Thị Bích Hà

>> Đọc tiếp…

Mười lăm năm Ông già Nam Bộ ra đi - Nguyễn Thành Công

Ngày 13/8/2008, tại Sài Gòn  nhà văn Sơn Nam vĩnh viễn ra đi, sau 82 năm sống trọn vẹn “một đời Nam Bộ” mộc mạc chân chất nhưng không kém phần thâm thúy  theo cách của Phương  Nam.

Cách Phương Nam trong ngôn từ, phong thái, nếp nghĩ, ở đời sống thường nhật và trước tác đồ sộ của một nhà văn, nhà báo, nhà khảo cứu.

Cùng các quyển sách của Bà Tùng Long, Hồ Biểu Chánh... được giữ ở một vài thư viện gia đình sau 30/4/1975, chú bé xíu là tôi khi ấy mê mải đọc những gì nhà văn Sơn Nam viết về vùng đất “của mình”: Bán đảo Cà Mau muỗi mòng, mặn đắng nước sông nước biển trong màu đước xanh um bám rể  nơi phù sa. Sơn Nam viết bằng chất văn khiến đứa trẻ tiểu học hiểu thấu, đi vào lòng, rõ ràng rành mạch thuyết phục. Sách khảo cứu của ông về bán đảo Cà Mau, vùng Nam Bộ thời trước được in trên giấy tốt trắng tinh, dày dặn, kèm theo thiệt nhiều bản đồ vẽ kỹ song ngòi kênh rạch cửa biển mô tả địa dư đồng bằng. Tôi nhớ như in đến giờ các trang tư liệu của ông dù mấy mươi năm chính bởi cách viết phù hợp “tông” tiếp nhận của người Nam Bộ của một tác giả vô cùng Nam Bộ đến mức thành danh. Những sông Cái Lớn, miệt Đầm Dơi, U Minh, Năm Căn… sống động trong các trang viết của Sơn Nam bởi tác giả viết từng con chữ trên nền lao động điền dã thực tế, bởi nguồn tư liệu chuẩn xác dồi dào được tham cứu, và nhiệt huyết giới thiệu về một phương Nam ông đã sinh ra lớn lên, thăng trầm đến mức dệt thành bút danh.

Sau này, lớn lên, tôi có cơ hội hầu như đi khắp vùng bán đảo, cả Nam Bộ, chạm vào từng con chữ nhà văn đã viết, chạm vào tâm hồn ông. Và, cho dù được tặng hẳn toàn bộ tác phẩm Sơn Nam xuất bản do mua bản quyền toàn bộ, đọc, song cảm xúc khó bì thời nhỏ miệt mài trên con chữ những quyển sách cũ cũng chính của ông viết.

Một dạo lâm vào khốn khó, đi dỡ nhà cho người ta lấy chút công, trong kho sách có những quyển của Sơn Nam thời cũ, và tôi mượn về để đêm dùi mài chép lại, vẽ lại những trang mình thích. Đấy mối tâm giao người đọc và tác giả.

Tập tành làm báo, một hai bước nhỏ trên con đường của ông, được đọc các câu chuyên ngoài lề về nhà văn mình thích và nép nghĩ lối sống của Sơn Nam trung thành với trước tác của ông: liêm chính, thanh bạch, càn lao chữ nghĩa, giữ kỹ hình ảnh ông già Nam Bộ trước biến thiên khốc liệt của thời cuộc vật đổi sao dời. Nếp áo cũ mòn nhưng sạch sẽ, cặp kính, phong thái khi giao tiếp chia sẻ… Bao nhiêu nhà báo trẻ, sinh viên, nghiên cứu sinh đã tìm đến ông như tâm thế tìm đến ánh sáng còn hiếm hoi của một nhà Nam Bộ học - cách dụng từ của tôi - để mong có tư liệu cần và họ đã không thất vọng, có người trân trọng trả thù lao cũng nhiều người không, đời sống nhà văn tiện tặn như nếp áo mòn nhưng sạch của ông vẫn mặc. Sơn Nam thường xuyên lên Sài Gòn đi xe ôm vòng vèo các tòa soạn hỏi nhuận bút, thu nhập ít ỏi nhưng là chính yếu của ông. Đến khi được mua tác quyền toàn bộ ông vãn không khá giả gì, vậy mà có thương nhân tặng mảnh đất 300 triệu để dưỡng già, nhà văn từ chối.

Vùng đất phương Nam có An Biên - Rạch Giá nơi Sơn Nam ra đời, vùng thiêng được mở cõi, một thời binh đao loạn lạc, muông thú cùng sương lam chướng khí cản ngại một đời sống an bình, thử thách con người. Người Việt ở đấy sinh cơ lập nghiệp cạnh dòng nước xiết, tiếng hổ gầm, cần lao mưu sinh và tỏa ra ánh sáng văn hóa đặc thù của vùng. Những người con ưu tú sinh ra chốn ấy đã hấp thu văn hóa đặc thù ấy, chia sẻ bằng con tim khối óc nhiệt thành, có một cái tên “Ông già Nam Bộ” Sơn Nam.

15 năm ông ra đi, thời gian còn mới tinh khôi đấy mà…

 


 

 

Nguyễn Thành Công

>> Đọc tiếp…

Có "Sóng cuồng" trong thơ Trần Mạnh Hảo? - Phạm Đức Nhì

Lời Nói Đầu: 

Bạn bè chuyển cho bài viết của nhà thơ Chu Mộng Long nói về thơ Trần Mạnh Hảo. Chỉ riêng cái tựa của bài viết cũng dễ làm những người yêu thơ giật mình: Trần Mạnh Hảo: Sóng Cuồng Xô Dạt Đền Thơ. Ghê gớm quá! “Ấn Tượng” quá! 

Muốn viết mấy dòng bình luận nhưng gặp lúc “vợ đẻ con đau nhà nước ngập” nên cứ nấn ná hoài. Mấy bữa nay con cái lấy “vacation” (phép) đưa các cháu đi chơi xa nên được ở nhà thảnh thơi, chợt nổi hứng, lấy máy ra gõ lóc cóc mấy đoạn góp vui với bạn bè yêu thơ. 

Phải công nhận bài viết của nhà thơ Chu Mộng Long vóc dáng bề thế (2552 chữ), được viết trong lúc hứng khởi nên tuy là văn, mà lại khá nhiều cảm xúc, đọc cũng đỡ ngán. Đáng tiếc, có một chút hiểu lầm “nho nhỏ”. 


Hiểu Lầm Chữ “Sóng” Trong Thơ 


“Sóng” trong thơ có ý nói đến sức rung động, độ dạt dào của cảm xúc, hồn thơ mà bài thơ khơi gợi được trong lòng độc giả, chứ không phải - và không đến từ - sức nặng, độ sâu sắc của câu chữ, ý tứ. 


Tác Giả Hình Như Không Biết “Sóng” Phát Sinh Từ Đâu 


Đúng ra, phải đọc cả bài mới biết tứ thơ có dòng chảy hay không? Có dòng cảm xúc hay không? Có “sóng sau dồn sóng trước” hay không? Có tạo được cao trào hay không? Cảm xúc và hồn thơ trong bài thơ có mạnh hay không? 

Muốn biết sông có sóng hay không, tốt nhất nên quan sát mặt sông, xem nó có dòng chảy hay lững lờ, phẳng lặng? Nếu có dòng chảy thì dòng chảy yếu, trung bình hay mạnh? Nếu thấy dòng chảy mạnh mới để ý xem có sóng không? Cường độ của sóng đến mức nào? 

Không phải cứ múc vài thùng, vài phi nước từ dòng sông lên nhìn ngắm, xem xét rồi có thể phán “Con sông này sóng mạnh lắm, có thể làm lật cả thuyền câu”. 


Hậu Quả Của Sự “Không Biết” 


Bài viết của ông Chu Mộng Long mang phong cách giống như bình thơ không bàn thi pháp. 

Bình thơ không bàn thi pháp là chỉ bình tán ý tứ và lờ tít phần kỹ thuật thơ (thi pháp). Bình thơ như thế thì dưới mắt người bình bài thơ chỉ là một bản văn – không hơn không kém. Nhà bình thơ đã cầm dao đâm chết bài thơ trước khi cầm bút viết lời bình. Dù vậy, bài thơ cũng được phân tích lớp lang, hết đoạn này đến đoạn kia, để cuối cùng độc giả có thể nhận biết tứ thơ, thế trận của bài thơ hợp lý, nhất quán hay “đoạn trước kể chuyện gà, đoạn sau bàn chuyện vịt”. 

Ông Chu Mộng Long không những không bàn thi pháp mà còn châm biếm việc áp dụng những “phương tiện thẩm mỹ” của thi pháp khi bình thơ. 

Ông nói “Nếu thơ ông (Trần Mạnh Hảo) vào sách giáo khoa hay đề thi với những câu hỏi đọc hiểu lạnh lùng theo cách tra vấn phạm nhân: ‘Bài thơ thuộc thể thơ gì? Đoạn thơ sau nói gì? Chỉ ra các biện pháp tu từ’, chẳng khác gì giết hại thơ ông”. 

Theo tôi, nếu đầy đủ thì sau 3 dấu chấm () nên viết thêm “Cách gieo vần ra sao? Số chữ trong câu cố định hay thay đổi? Với biên độ rộng hay hẹp? Tứ thơ phân mảnh đứt đoạn hay nhất khí, liền mạch? Có mô gò cản đường? Có vờn bóng giữa sân? Tâm thế của thi sĩ trong lúc làm thơ ra sao?” 

Nếu không trả lời những câu “tra vấn” đó thì làm sao ông Chu Mộng Long biết bài thơ có dòng chảy hay không? Có “sóng sau dồn sóng trước” hay không? Cường độ của “sóng” mạnh đến mức nào? Có thể  trở thành “Sóng Cuồng Xô Dạt Đền Thơ”? 


Phương Cách Chứng Minh Không Đúng 


Chính vì không biết “sóng (trong thơ) phát sinh từ đâu” nên ông Chu Mộng Long đã chọn phương cách chứng minh rất kỳ quặc. 

Mỗi bài ông chỉ “móc” ra một hai câu, nhiều lắm là vài ba câu. Tập thơ hơn 500 bài mà ông chỉ chọn trích dẫn 101 câu – 687 chữ (1) mà cũng chẳng cho biết là câu nào trích dẫn từ những bài thơ nào. Cũng phải công nhận là ông có con mắt tinh đời. Hầu hết những câu thơ ông chọn đều mang đậm nét đẹp văn chương, câu cú chắc gọn, ngôn ngữ cao sang, ý nghĩa sâu sắc và mạnh bạo. Nhưng vì bị tách ra khỏi bài thơ nên khô cứng, lạc lõng, có thể khiến cái “phần lý trí” của độc giả vỗ tay khoái chí chứ không hề khơi gợi được nơi họ một chút “sóng tình” nào. 

Vì thế nhóm chữ “Sóng Cuồng Xô Dạt Đền Thơ” từ cái tựa của bài viết không phải chỉ là sự phóng đại quá lố mà có thể nói đó là kết quả của việc “nhắm mắt nói liều” để “nâng” Trần Mạnh Hảo cho tới bờ, tới bến. 


Với Nhà Thơ Trần Mạnh Hảo 


Tôi có cảm tình với lối viết (cả văn lẫn thơ) của Trần Mạnh Hảo. Ông khen ra khen, chê ra chê chứ không vừa “ấy” vừa run như nhiều người khác. Ông cũng không chịu gò bó trong “gia quy, lệ làng, phép nước” mà rất mạnh bạo trong những bước chân khai phá vào vùng đất mới, kể cả những vùng đất cấm mà nhiều người né tránh. 

Tuy nhiên, với văn thì tôi không dám nói, nhưng với thơ thì tôi với ông có khá nhiều điều khác biệt trong việc thẩm định giá trị nghệ thuật – và đặc biệt là hướng đi - của thi ca. 

Theo tôi, thơ Trần Mạnh Hảo còn khuyết điểm, quá đậm chất trí tuệ, nhẹ chữ tình, giá trị nghệ thuật chưa và không thể xứng đáng với những lời tâng bốc vô căn cứ, thiếu cơ sở lý luận văn học của ông Chu Mộng Long.

 

Mời mọi người đọc bài viết sau đây để thông cảm hơn.   

VÀI NHẬN XÉT VỀ BÀI THƠ “SÔNG LAM” CỦA TRẦN MẠNH HẢO 

http://tranmygiong.blogspot.com/2023/07/vai-nhan-xet-ve-bai-tho-song-lam-cua.html   


Kết Luận 


Như đã nói ở trên, do ông Chu Mộng Long phạm hai lỗi “nho nhỏ” là: 1/ Hiểu Lầm Chữ “Sóng” và 2/ Không Biết “Sóng” Phát Sinh Từ Đâu nên đã dẫn đến việc sử dụng hai chữ “Sóng Cuồng” sai lầm và nguy hiểm. 

Tôi vì thơ nên bước vào góp mấy lời nhận xét. Mong nhận được chỉ điểm của các bậc cao nhân trưởng thượng và cả những bạn trẻ yêu thơ. Bởi với thơ thì “gừng càng già càng cay”, nhưng cũng nhiều khi “tài không đợi tuổi”.

 






Phạm Đức Nhì

>> Đọc tiếp…

Tiếng Việt trong ngôn ngữ bảng hiệu - Nguyễn Thành Công

Đã thành hình về phân loại ngôn ngữ trong tiếng tiếng Việt thành kiến thức học đường: ngôn ngữ sinh hoạt, báo chí, chính luận, khoa học, hành chính… Tiếng Việt sống động trong các trang viết và đời sống thường nhật  có khi vượt lên trên các phân loại, cho thấy sự phong phú của thực tiễn. Trong đấy, có thể kể đến ngôn ngữ biển hiệu.

Nếu lại sắp xếp, có lẽ ngôn ngữ biển  hiệu nghiêng về phong cách ngôn ngữ sinh hoạt: nôm na, bình dân, đa sắc màu.

Ở đâu cũng có biển hiệu, từ logo khủng đi cùng danh phận một công ty lớn, thiết kế sơn vẽ công phu, đến tấm biển nhỏ xíu vẽ vụng trên ván đính vào thân cây trên đường làng, hết thảy thuộc về thế giới biển hiệu của hoạt động kinh tế.

Nếu biển hiệu các công ty bề thế được chăm chút thiết kế và thể hiện chuyên nghiệp, thì lô nhô hàng vạn vạn biển hiệu của các cơ sở nhỏ, chỗ mua bán - dịch vụ ở hẻm phố thôn làng lại tùy nghi viết vẽ có khi gây cười, khó hiểu và chuyện sai chính tả là… bình thường.

Đến vùng miền địa phương nào bạn cũng chạm trước tiên vào thế giới biển hiệu dù đến bằng phương tiện gì, “thế giới” ấy thông báo địa chỉ, ngôn ngữ vùng miền, cả văn hóa qua lối thể hiện.

Dân Miền Tây, nhớ lần đầu ra Quảng Ninh, tập thể dục buổi sáng trên các phố ở Uông Bí, nhìn hoài các tấm bảng sơn “ở đây có cho vay lãi suất thấp”, khi đấy trong quê không có lối viết này, thường viết đại loại như “hiệu cầm đồ”, “có cho vay không cần thế chấp”, còn “cho vay” mà “lãi suất thấp” khá sốc.

Một dạo thăm cù lao Tân Quy ở Vĩnh Long, đi lòng vòng giữa các tàng cây ăn trái xanh mướt, chợt thấy tấm biển gỗ đính lên thân cây kèm mũi tên “ở đây có rượu nếp than” thực ấn tượng bởi mộc mạc từ câu chữ đến lối viết, cũng như con người chốn này.

Xứ mình, ở Miền Nam, trước và sau 1975 cho thấy khác biệt lớn trong ngôn ngữ biển hiệu nằm trong sự thay đổi chung. Trước 1975, các biển tiệm quán luôn dùng dấu gạch nối ở những từ ngữ cần mà học đường đã qui định: công - ty, thương - mãi, ngân - hàng… Lượng từ gốc Hán - Việt dùng nhiều hơn hẳn ngày nay. Thời ấy, biển hiệu tiệm quán chuộng đắp chữ nổi hay đã sơn vẽ thích lối chữ chân  phương nghiêm cẩn.

Kinh tế thị trường, biển hiệu xuất hiện và mất đi hàng ngày do cuộc làm ăn thịnh suy, nhu cầu về biển hiệu khiến ngành sơn vẽ thiết kế biển trở nên ngành không nhỏ khi đã làm ăn, tấm biển thuộc về yêu cầu đầu tiên.

Biển hiệu mang một phần của ngôn ngữ tiếng Việt.





Nguyễn Thành Công

 

>> Đọc tiếp…

Vài ý kiến nhỏ khi phê bình thơ - Hoàng Thị Bích Hà

1. HÃY ĐIỀM ĐẠM KHI KHEN CHÊ!

Có một nhà thơ lâu năm, viết nhiều. Tôi tạm gọi là vậy chứ không dám gọi họ là nhà thơ “lớn” hay nhỏ. Điều đó cần thời gian sàng lọc và tùy thuộc vào độc giả.

Nhà thơ nọ nói rằng:

- Bây giờ nhà thơ nhiều quá! Ai cũng làm thơ được, ai cũng in thơ được.

Tôi nghĩ: Nếu được vậy là điều đáng mừng chứ đâu phải đáng lo mà thốt lên có vẻ đầy hoảng hốt vậy! Làm thơ được chứng tỏ trước hết là người biết chữ, là người có tâm hồn, có cảm xúc và dĩ nhiên ít nhiều có năng khiếu. Nhu cầu giải tỏa cảm xúc, nhu cầu giải bày là nhu cầu chính đáng. Thời 1945 có 95% dân số nước ta mù chữ. Bây giờ nhiều người biết chữ là dấu hiệu đáng mừng. Viết được là điều rất đáng khích lệ.

Còn diễn đàn thơ văn đâu phải là mâm cỗ mà sợ nhiều người qúa ăn hết phần của mình đi. Quan niệm “ít ngài dài đũa” không có trên văn đàn chữ nghĩa. Ai viết, cứ để họ viết, không ai có quyền cấm họ cả.

2. ĐỪNG HIẾP ĐÁP CẢM XÚC

Như chúng ta đã biết, viết đôi khi chỉ là giải tỏa cảm xúc, viết vì đam mê, viết vì sự thôi thúc ở bên trong, chứ không phải viết để kiếm danh lại càng không phải viết để kiếm tiền, kiếm sống. Viết vì họ còn cảm thấy có trách nhiệm của người cầm bút đối với cuộc đời.

 Khi cần phản ánh cuộc sống, lưu lại cảm xúc của họ và gửi gắm tư tưởng tình cảm đến với bạn đọc, hướng tới vẻ đẹp chân thiện mỹ. (Số sống được nhờ nghề viết rất ít, đếm trên đầu ngón tay). Thực tế cho thấy, nhất là thời buổi này (trừ những người làm báo trong biên chế) dù gì cũng là nghề của họ. Viết cũng giống như những ngành nghề được tuyển dụng đúng mục đích công việc. Và họ được trả lương. Nhưng cũng không phải thích gì viết nấy. Hiện nay, có một số người viết (nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình,…tự xưng hay bạn đọc, bạn viết mến mộ đặt cho). Nước sông không phạm nước giếng thì ai viết cứ viết. Mỗi người đều có một góc nhìn, chiều sâu trí tuệ, tư duy thẫm mỹ và cảm quan nghệ thuật khác nhau. Tất cả những đóng góp của họ cung cấp nhiều nội dung, nhiều thể loại, tạo nên sự phong phú đa dạng. Họ cống hiến cho bạn đọc một cách tự nguyện và hoàn toàn miễn phí trên fb hay trên các trang Web VHNT, baó điện tử,v..v.

Mỗi người một phong cách. Có người xoáy vào thời sự nóng hổi, có người luôn tả phong, hoa, tuyết, nguyệt (dạng ngâm ngợi này ngày càng ít đi vì bạn đọc không mấy mặn mà) có người chọn lối vào trữ tình, v.v. Người có vốn Hán Việt nhiều, hay dùng điển tích điển cố hướng đến sự hàn lâm. Loại này kén độc giả. Cũng có người ưa khác lạ, dùng từ đánh đố người đọc, ma mị, rất“cõi trên” đọc lên chẳng ai hiểu gì cả. Nhiều tác giả văn phong bình dị dễ đi vào lòng người. Với họ, càng hướng đến sự hiện đại bao nhiêu thì cần đơn giản bấy nhiêu. Họ sử dụng ngôn ngữ thông thường, đẫm hơi thở của cuộc sông, dung dị, dễ hiểu. đối tượng phục vụ của họ là đaị đa số công chúng. Đó là mục đích hướng đến của người viết. Khi đã chọn là viết cho ai, viết với mục đích gì!  Và tác giả nào càng được nhiều công chúng biết đến càng dễ đi đến thành công.

Tôi rất tâm đắc với câu thơ của nhà thơ, nhà giáo Mai văn Hoan, có thể xem đây như một tuyên ngôn của ông:

“Cứ nói điều gan ruột

Hay dở có thời gian”

Bởi vậy viết lách đôi khi như là một cái nợ trời đày, nghiệp đa mang. Ai cũng biết chốn này lắm chông gai, không nhàn nhã, ai dại gì mà đâm đầu vào nếu không bị “trời đày”. 

Cố thi sĩ Nguyễn Bính cũng xem nghiệp làm thơ là trời bắt:

Mình tôi giời bắt làm thi sĩ
            Mẹ mất khi chưa kịp bạc đầu”

 ( Hoa với rượu- Nguyễn Bính)

 

Nữ thi sỹ Lệ Khánh cũng bảo: Làm thi sỹ là do “thượng đế đày”.

Vì Thượng Đế đày tôi làm Thi-Sĩ

Nên tâm tình trào ngọn bút thành thơ

Dâng riêng anh anh nhận lấy, hững hờ

Tôi hổ thẹn bực mình đem đăng báo

 (Em là Gái trời bắt xấu- Lệ Khánh)

Cũng nhờ“nợ trời đày”mà các thi nhân đã để lại cho đời những áng thơ tuyệt tác, mà lúc sinh thời chưa hẳn đã được hiểu đúng giá trị của những áng thơ hay, còn mãi với thời gian.

Trên fb, mỗi người có một trang cá nhân, có thể coi là “nhà” của họ. Ở đó họ chia sẻ tâm tư tình cảm, bộc lộ vui buồn và thể hiện cá tính. Bạn phây (fb friends) nếu hợp, thích thì đọc, không thích thì lướt qua. Nếu không hợp gu có thể rời đi. Bởi vì “bách nhân là bách tính”. Thích hay không còn phụ thuộc vào cảm quan, gu thẫm mỹ, tùy vào khả năng đọc hiểu văn bản. Khả năng cảm thụ thẫm thấu,… của mỗi người cũng khác nhau. Do đó có sự khen chê khác nhau. Bài viết (văn hay thơ) có thể hay với người này nhưng chưa hay với người khác tùy vào tâm trạng, hoàn cảnh nữa. Có thể hôm nay đọc chưa thấy hay, thời gian sau đọc lại kỹ hơn mới thấy thú vị. Có thể ở thời điểm hiện tại đọc rất thích nhưng bẵng đi một vài năm sau đọc lại thấy không hay nữa.

Dù thế nào đi nữa, mình thích hay không thì khi khen chê cần tế nhị. Nếu góp ý có tính xây dựng chứ đừng hiếp đáp cảm xúc của người ta.

Có người đọc xong phang một câu:

- Thơ không có vần điệu

- Thơ không có chất thơ

Tôi hỏi: Theo anh thơ cần phải có chất thơ là như thế nào?

Người đó trả lời:

- Thơ là thơ thôi!

Cách trả lời như không trả lời. Rất chung chung vô thưởng, vô phạt. (người nghe có thể hồ nghi  bạn không đủ kiến thức,… để trả lời)

Khi góp ý không chỉ ra được cái hay, cái chưa hay cho người ta thì không có sức thuyết phục. Và khi góp ý, cần đúng lúc, đúng nơi. Có ý tôt, góp ý xây dựng thì người nghe sẽ tiếp thu, sẽ tôn trọng và cố gắng khắc phục. Còn phang kiểu ta đây giỏi hơn, cho bàn dân thiên hạ thấy thì chẳng khác nào tạt vào mặt họ gáo nước lạnh làm cụt hứng là hiếp đáp cảm xúc. Và nên tự hỏi lại mình có cái quyền ấy không? Mà chắc gì lời bạn nói đã đúng, người làm thơ đó chắc gì đã sai nên đừng chủ quan theo ý mình. Chuyện phán xét hay dở theo cảm tính cần phải khách quan, đừng mang tính chê bai dè bỉu xem như một thú “dìm hàng”, là một thói xấu nhằm hạ thấp người khác nhằm mục đích gì? Đè người khác xuống, mình có nổi lên được không?

 

3. "TRƯỜNG VĂN TRẬN BÚT" LÀ CÓ THẬT

Vừa qua tôi có đọc một vài bài viết của các người viết với nhau (họ là nhà văn, nhà thơ viết lâu năm) thì buồn vô hạn. Người viết này chê người viết khác. Có người thấy đọc chưa xuôi tai, (ví dụ vậy)  nên phang thẳng quá, góp ý trực diện quá!  Sau khi nghe chê bạn mình nên người viết nọ đã ra tay “nghĩa hiệp” kiểu “giữa đường thấy việc bất bình chẳng tha” viết bài chửi lại thậm tệ với ngôn ngữ có những câu rất nặng nề (nếu không muốn nói nghe mùi chợ búa và có phần mất vệ sinh).  Có người bị chê cũng tức tối quá nhảy dựng lên viết bài chửi lại.

Kiến nghị: Đừng biến tranh luận thành tranh cãi, và cãi cùn. Nếu đủ sức hãy tranh luận văn minh, lịch sự và thuyết phục.

Có tác giả nọ sau khi viết được vài đầu sách, hay dở chưa bàn đến nhưng thấy giọng văn trẻ, trong sách có câu rằng nói rằng: Hiện nay có nhiều người tự viết, tự bỏ tiền ra in thơ, in sách kiểu “lấy sách đè người”, nào là lạm phát thơ,… (vận dụng thành ngữ “thấy thịt đè người để tăng tính hài hước). Tuy nhiên nói vậy cũng mang tính chủ quan của góc nhìn hạn hẹp. Có gì sai?

Tự viết, thì đúng rồi, không lẽ viết chung hay là viết phác thảo rồi mang đi nhờ đàn anh, tổ chức hội nhóm nào sửa cho. Còn tự in (tức là bỏ tiền túi ra để xin cấp phép xuất bản và in ấn) thì tốt mà! Có sao đâu để lưu lại những trang viết của họ, ít ra cũng không tốn tiền thuế của dân, không phải mở miệng đi xin kinh phí.

Mà đừng coi thường những người tự viết tự in nhé! Cũng có người bán được sách nhờ độc giả ủng hộ, bù lại được mà còn dư để tiếp tục nuôi dưỡng đam mê cho xuất bản những tác phẩm khác.

Gần đây, có người viết bài đăng trên diễn đàn báo chí rằng: “Muốn làm thơ, viết văn chí ít cũng nên gia nhập môt tổ chức, hội thơ văn uy tín nào đó. Vậy là một ý chủ quan nữa. Tôi không nghĩ vậy và cũng có nhiều người viết chân chính không nghĩ vậy. (Qua thăm dò ý kiến của nhiều người trong giới cầm bút). Bởi vì chiếc áo đâu có làm nên thầy tu. Không phải cứ có mặt trong hội này nhóm nọ là viết hay đâu. Đi chung với nhà thơ, để rồi bỗng chốc mình trở thành nhà thơ, sinh hoạt với nhà văn để mình trở thành nhà văn là điều không thể. Phải viết được thì mới vô hội, nhóm chứ không phải vô hội, nhóm rồi mới viết được. Ý kiến trên hơi bị ngươc rồi! Kể ra thì vô hội này, hội nọ, thêm bạn, thêm vui, cà phê giao lưu chém gió cũng ok (nếu có thời gian). Người viết đa số rất quý thời gian. Nhưng đâu dễ, tôi nghe kể có người xin 17 lần, nhưng anh bạn khác kể là ổng xin19 lần (tức là19 năm) mà không được! Thật là tha thiết quá đi! Nhưng có lẽ anh chưa đáp ứng tiêu chí của hội, nhóm chăng? Giấc mơ anh đành gửi lại trước cánh cửa đóng chặt. Khi về lại nơi chôn nhau cắt rốn để an hưởng tuổi già mới vô hội, vô hè khi tuổi xấp xỉ 80 ở tỉnh, khác với nơi thường trú.

Tóm lại muốn viết lách, phải có thật lực. Năng khiếu và rèn luyện. Dĩ nhiên môi trường sinh hoạt có đem đến cho người viết những thuận lợi nhất định nhưng thật lực là cơ bản, vẫn cứ phải dựa vào bản thân là chính. Trên thế giới, hay trong nước không có một trường lớp nào có thể dạy làm thơ hay viết văn để trở thành nhà văn lớn hay thơ lớn cả.

Thậm chí có những giải thường công bố xong thì hứng gạch đá không ít rồi đi vào quên lãng.

Chính vì vậy, thơ dở tự nó sẽ chết, mọi người yên tâm, đừng lo thơ nhiều. Cứ để họ giải bày cảm xúc. Đó là quyền của mỗi người không ai có thể cấm đoán hay mạt sát, dè bỉu. Độc giả cho thơ sống thì thơ sống, độc giả quay lưng thì thơ chết chứ không một tác giả nào có quyền ấy với đồng nghiệp mình cả.

Nhân đọc một vài bài viết trong thời gian gần đây của giới viết lách, tôi xin góp đôi lời thiển cận. Là góc nhìn của cá nhân tôi- một người viết (thích thì viết) không phải nhà văn, nhà thơ gì cả.




Sài Gòn, ngày 31/3/2023

Hoàng Thị Bích Hà 

>> Đọc tiếp…

Quan niệm về "Ngợm người" trong thơ Thái Quốc Mưu - Châu Thạch

Sau cơn dịch Covid xảy ra tại Việt Nam, các vị quan quyền thành củi đưa vào lò đốt nhiều quá. Mời quý vị đọc quan niệm về “Ngợm Người” trong thơ Thái Quốc Mưu để thấy nhà thơ ghét bọn quan lại tham ô đến độ nào. 

Nếu ai hỏi tôi nhà thơ Thái Quốc Mưu yêu gì và ghét gì nhất, chắc có lẽ tôi không trả lời được điều yêu nhất, nhưng điều ghét nhất của Thái Quốc Mưu thì qua thơ ông quá rõ ràng. 

Trong bài thơ khóc Nguyệt Lãng, một trong những người bạn thơ thân nhất của Thái Quốc Mưu, nhà thơ đã khuyên người quá cố đừng trở lại trần gian chẳng phải vì trần gian là chốn sinh, lão, bệnh, tử hay điều gì khác mà chỉ vì trần gian là chốn có nhiều “ngợm người”: 

Đừng nên trở lại nơi trần thế

Một cõi quanh anh lắm ngợm người

(Khóc Nguyệt Lãng) 

Trong một lần “Viếng Trời” nhà thơ cũng so sánh sự khác biệt đáng kể nhất giữa cõi trời và cõi người mà cõi người có lắm “ngợm người”: 

Nước trời trên dưới cùng tôn quý

Khác với nhân gian lắm ngợm người

(Viếng Trời) 

Vậy “ngợm người”là gì? 

Thật ra chữ “ngợm người” không tìm ra một định nghĩa chính xác. Tự điển Việt Nam có sách định nghĩa: “ngợm người” là người ngu dại”; có sách định nghĩa: “ngợm người là người, với ý nghĩa xấu nói chung”. Lại có người cho chữ “ngợm” phát xuất từ chữ “ngựa” nên chữ “ngợm người” là, “nửa ngựa nửa người, nghĩa là người không ra người mà ngựa chẳng ra ngựa”. Cũng có giải thích “ngợm người” như sau: “Ngợm là gì? - Ngợm cũng đi bằng hai chân, mặc quần áo, mang hia, đội mão, có trí tuệ, có tiếng nói, ăn từ thượng vàng hạ cám đến cao lương mỹ vị xuống bắp luộc khoai nướng nhưng khác con người ở chỗ, con người có thể ăn được đủ thứ nhưng không bao giờ ăn thịt đồng loại, còn ngợm thì đến thịt đồng loại cũng sẵn sàng ăn sống nuốt tươi” (Tất nhiên người mà ăn thịt người chỉ nói theo nghĩa ngụ ý mà thôi). 

Như thế chữ “ngợm người” cũng như chữ “chó má”. Con chó có thể ăn bẩn nhưng dứt khoát không ăn thịt đồng loại, còn con má về hình thức giống y như con chó nhưng đến thịt đồng loại cũng không từ! Có người nghĩ rằng, “ngợm người” là lũ người “điên” cần phải đi học. Học gì? - Học làm người, học để biết thiên chức của con người”. 

Xem như thế “ngợm người” hay “người ngợm” quả nhiên không phải người tốt. 

Tóm lại, “ngợm người” để chỉ những kẻ có hình thể, vóc dáng của con người, nhưng cách sống với đồng loại, chưa đạt được cái bản chất đích thực của CON NGƯỜI, mà tôi đã đọc trong mục danh ngôn đâu đó câu: “Hãy sống sao cho người ra NGƯỜI” của Thái tiên sinh. 

Ngoài ra, trong bài thơ Niềm Mơ Ước Vĩ Đại Của Tôi, Thái Quốc Mưu đã viết: 

Mặc ai mơ nước Thiên Đàng

Mặc ai mơ cõi Niết Bàn xa xôi

Tôi sinh ra giữa Đất, Trời.

Chỉ mong làm được CON NGƯỜI – viết hoa. 

Theo Thái Quốc Mưu thì giống động vật mang tên người, khi được “Viết hoa” thành CON NGƯỜI thì vô cùng khó khăn, lớn lao, vĩ đại, và cao quý hơn tất cả. Nó nằm trên tất cả những ước mơ – kể cả Thiên Đàng hoặc Niết Bàn. Bởi, khi tất cả giống người biết tu thân để trở thành CON NGƯỜI được viết hoa, thì xã hội lúc đó đa số chỉ có những CON NGƯỜI đích thực là NGƯỜI. Họ toàn là bậc chính nhân quân tử, lương thiện, gắn bó yêu thương,... thì Thiên Đàng hoặc Niết Bàn đã hiện hữu giữa trần đời, chẳng phải tìm đâu xa. Khi ấy, lũ “ngợm người” không còn đất dung thân, chẳng thể tồn tại. Sẽ tự diệt. 

Bây giờ qua thơ Thái Quốc Mưu ta thử tìm xem những thành phần nào trong xã hội mà nhà thơ ghét nhất? Câu trả lời, chính xác nhất, đó là lũ “ngợm người”. 

Trong bài thơ “Trên Chót Đỉnh” Thái Quốc Mưu đứng trên núi nhìn xuống “đời”, ông đã thấy “lắm lũ loài”. Ông dùng chữ “lũ loài” chứng tỏ ông rất ghét hạng người nầy, đó là hạng người tranh bả lợi danh, giựt dành lợi lộc làm mất cái nhân tính đích thực của CON NGƯỜI: 

Ngó xuống. Ôi chao lắm lũ loài

Tranh chấp bả danh nhân tính mất

Giựt dành lợi lộc hận thù sôi

(Trên chót Đỉnh) 

Cái bọn người mà bả danh vọng và lợi lộc đã làm cho họ sôi máu hận thù, mất đi nhân tính đó, đã được nhà thơ gọi đích danh trong bài thơ “Khác Biệt” của ông: 

Quan tham đầu óc như “lì đỗn”

Chỉ biết thu gom với nhét vào

(Khác biệt) 

Đọc ngược hai chữ đóng trong ngoặc kép ta thấy Thái Quốc Mưu khinh bọn quan tham đến cỡ nào. 

Và với Thái Quốc Mưu bọn người ấy không những là phường phi đạo đức, bất tài, bất nhân, bất nghĩa, tham lam vô tận, lừa bịp, thất học, ngô nghê trước quần chúng; vậy mà hay lếu láo khoe khoang, vênh váo,... ăn trên, ngồi tróc để lèo lái mọi việc chẳng khác nào như bác tài vừa dỡ lại ba hoa: 

Đạo đức trống không hay lếu láo

Chân tài rỗng toác cứ thày lay

(Có những bác tài) 

Nhà thơ Thái Quốc Mưu không tiếc lời giận dữ điểm mặt bọn người xấu xa trên với lời lẽ vô cùng cay cú: 

Hôm sớm đem đầu ra đội đít

Trưa chiều gục mặt để chờ khi

Cong lưng đổi miếng mồi danh lợi

Ngậm miệng ăn ba cái bã chì

(Vịnh ông Táo) 

Và cuối cùng Thái Quốc Mưu không còn nể nang gì nữa và thẳng tay chỉ vào mặt bọn người mà ông ghét nhất trên trần gian nầy, công bố, vạch trần tội lỗi xấu xa nhơ nhuốt của họ, lũ “ngợm người” mà từ xưa đến nay thời nào cũng có: 

QUAN ÔN XƯA NAY 

Phẩm chất kém - cần sơn, phết, xi

Bằng cao. dốt rặt mới ly kỳ

Văn thư nguệch ngoạc run cầy sấy

Chữ ký loằng ngoằng méo miệng ghi

Quán nhậu nghênh ngang tuồng hổ, sói

Cửa quyền hống hách tựa tần, phi

Gặp thời chồn cáo vươn nanh vuốt

Sớm tối vênh vênh cái mặt chì. 

Vậy qua thơ ta biết thứ mà nhà thơ ghét nhất trên đời là ai vậy? 

Tất nhiên không phải là những người mang chữ “ngợm” với nghĩa xấu bình thường. Tất nhiên, đó không phải là người ngu dại; tất nhiên không phải người khuyết tật, người phạm tội hình sự, kẻ vô tình, vô tâm... Nói chung tất cả những người bị cho là “người xấu” đó, đều không phải thứ “ngợm người” mà Thái Quốc Mưu muốn đề cập. Thái Quốc Mưu nói thẳng lũ ngợm người ấy chính là những kẻ ngồi ở ghế quan lại trên cao mà kém tài, thất đức, bám danh hưởng lợi,... 

Qua thơ Thái Quốc Mưu, bọn “ngợm người” là bọn “Quan ôn” vô lại. Bọn đó làm cho nhà thơ Thái Quốc Mưu chán chê thế gian nầy đến nỗi ông đã nhắn với người bạn thơ tri âm của mình: 

“Nhớ bút hãy đùa cùng trăng gió

Thèm thơ xin nhắn cái thằng tôi” 

nhưng, 

Đừng nên trở lại nơi trần thế

Một cõi quanh anh lắm ngợm người”. 

Với bọn “ngợm người” nầy nhà thơ Thái Quốc Mưu cho rằng đã hết thuốc chửa rồi, cho nên ông chẳng cần nhắn nhủ khuyên lơn, dạy bảo gì họ cả, mà chỉ lắc đầu bỏ đi, buông ra cho chúng một câu để nhớ đời: 

Chớ tưởng quyền uy thay trí óc

Đừng hòng sỏi đá hoá trân châu .

(Biển Đời) 




                           

Châu Thạch

>> Đọc tiếp…