Home » 08- CHÂN DUNG TÁC GIẢ
- Trang chủ
- |
- Giới thiệu
- |
- Quy ước
- |
- Tác giả
- |
- Thư ngỏ
- |
- Lá thư Bông Tràm
Tác phẩm kỷ niệm 10 năm hoạt động của Bông Tràm, có sự góp mặt của 50 tác giả với trên 100 tác phẩm. Sách dày 312 trang, khổ 13 x 19 cm, giá 100.000 đồng.
Nhà tôi ở phố. Có quyền gọi
là phố dù xóm tôi phần lớn làm nông. Nơi tôi sống ngày đó đồng ruộng len lỏi
trong phố. Đô thị hóa dần dần đã vén ruộng đồng khép lại như tấm màn sân khấu khi
bắt đầu buổi diễn.
Tôi là người thành phố.
Dù tôi sinh ra một vùng quê bên bờ sông có nhiều câu hò câu hát ru dập dờn cò lả,
lên ba tuổi má bồng em dắt tôi và các chị theo ba về quê nội.
Tôi là người thành phố.
Dù ba muốn đưa gia đình về quê cách phố 20 km nhưng má nhất quyết bám trụ thành
phố. Má không muốn bầy con gái lam lũ ruộng đồng và việc học hành sẽ thuận tiện
hơn.
Bởi vậy tôi là người
thành phố, dù xóm tôi nghèo lắm, chỉ chừng hơn chục gia đình cán bộ nhà nước,
còn lại là nông dân.
Xóm tôi hồi đó ai cũng
nuôi Tết. Người lớn hay trẻ nít đều muốn nuôi Tết. Người thì nuôi bộ quần áo,
người vài ký thịt heo hay mấy cái bánh tét, có người khá giả thì nuôi luôn bầy
gà hay mấy cái giò heo to đùng. Người nuôi Tết là cô Toan. Trừ lại hơn chục nhà
cán bộ là không cậy cô Toan nuôi Tết, trong đó có ba má tôi. Má tôi bảo nhà có
tem phiếu mua cá thịt đường sữa, có tiêu chuẩn vải may quần áo, có gạo tính
theo đầu người, có lương hàng tháng sao phải đi nuôi Tết.
Thường thì đầu hè là cô
Toan nuôi Tết, phương thức nuôi khá đơn giản. Cô đóng quyển sổ giấy manh dày cộm.
Cô ghi tỉ mỉ những ai nhờ cô nuôi Tết. Ai có nguyện vọng gì sẽ đăng ký với cô.
Ví dụ: Bà Phước nuôi hai ký thịt heo thì phải đóng mỗi ngày bao nhiêu tiền cho
đến khi đủ cô Toan sẽ chốt lại. Ông Tụ nuôi ba cặp bánh tét sẽ phải đóng bao
nhiêu cho cô Toan. Gần Tết cô Toan sẽ giao thịt cho bà Phước, giao bánh tét cho
ông Tụ. Nhờ vậy mà xóm tôi ăn Tết hầu như xôm hơn các xóm khác. Ai khá hơn thì
nuôi vài băng pháo nổ đùng đùng làm nhạc hiệu rước ông Táo về.
Nhờ có nuôi Tết mà xóm
tôi năm nào cũng ăn Tết vui nhất!
Cô Toan vất vả lo cho cả
xóm ăn Tết là vậy. Mỗi sau rằm Chạp là nhà cô nườm nượp người ta chở hàng tập kết,
thôi thì không thiếu thứ gì, ấy vậy mà tới chiều ba mươi là sạch bách. Ai cũng
mong có mà lấy về. Và ai cũng biết ơn cô Toan lắm lắm! Nhờ cô tốt bụng nghĩ ra
nuôi Tết chứ người dân nghèo xóm tôi khó mà dành dụm được. Cô không có thời
gian đi làm việc kiếm tiền vì phải lo nuôi Tết cho mọi người. Mỗi sáng cô pha
ly cà phê đen không đường mang ra bậc thềm ngồi ghi chép tính toán trong cái sổ
giấy manh dày cộm đó, rồi đợi người ta mang tiền đến đóng, cô ghi lại đầy đủ. Quan
trọng là cô Toan tự tính toán giúp rồi nên không ai cần phải nhớ là mình đã
đóng bao nhiêu. Khi nào cô tuyên bố không phải đóng nữa thì ai cũng thở phào, chỉ
nghĩ đến việc được nhận sản phẩm mình đã nuôi mấy tháng trời là háo hức rồi. Ai
thắc mắc là cô giận lắm, cô buồn vì họ chẳng biết ơn. Thông thường cũng đến gần
rằm Chạp mới được nghe cô nói vậy, mới thấy cái sự vất vả vì xóm làng của cô
Toan. Cũng may là cô Toan tranh thủ xây được cái nhà đúc sân thượng to to để có
nơi chất hàng nuôi Tết của cả xóm mỗi độ Xuân về. Cũng may là cô có chiếc xe
cúp để chạy đi chạy về không mất sức. Cô Toan tốt bụng còn sắm hẳn chiếc tivi
to vật vã để cả xóm xúm lại coi cải lương mỗi tối thứ bảy. Cô không hề thu tiền,
ngược lại cô còn phục vụ nước trà đá. Mỗi người bước vào đều nhận một ly, cô phải
tốn công tốn của nấu. Mỗi người chỉ phụ một chút tiền, gọi là góp công chung
vui thôi mà. Tình làng nghĩa xóm là đó!
Cả nhà cô Toan đều sống
vì làng vì xóm. Má chồng cô, người “đàng ngoài” có tên chắc không phải để cúng
cơm là bà Dư Tím. Bà Dư Tím bán quán tạp hóa tả pí lù. Bà tốt bụng nức tiếng, bán
nợ cho tất thảy, mỗi gia đình đều có tên trong sổ nợ của bà. Bà chẳng bao giờ
đòi nợ ai, bà thong thả vì cứ Chạp là họ tự mang tiền lại trả. Bà đặt ra cơ chế
thưởng phạt rõ rành, trả sớm sẽ được thưởng, trả chậm sẽ đóng phạt vài mươi phần
trăm nợ gốc, mà xóm tôi chẳng ai muốn là mất lòng bà Dư Tím. Tình làng nghĩa
xóm là đó!
Canh giờ đông chợ - khoảng
9 giờ sáng là má chồng cô Toan về. Ngày nào bà Dư Tím cũng đi chợ sớm để mua
hàng về bán. Bà là mối ruột của ông Tư Thẻo xích lô. Khi đó con hẻm xóm tôi còn
đất cát lồi lõm, xe đạp phải dắt mấy trăm mét mới ra tới quốc lộ 1A. Mưa nắng mặc
kệ, bà Dư Tím vẫn ngồi trên xe để ông Tư đẩy tới cổng. Thỉnh thoảng bà Dư Tím
cho ông Tư cái áo cũ của chồng chán chê. Vợ ông Tư khéo tay cắt may một cái áo
thành đôi cho ông Tư diện. Ông Tư chỉ cao nhỉnh hơn cái gọng xích lô vài phân.
Mỗi lần đạp là ông chỉ trụ bằng hai cặp giò vì mông không thể tới cái yên lắc lỡ
kia. Bà Dư Tím da trắng phốp, giữa hai đùi là đống chuối mốc thâm thâm cánh
gián ngây ngây mùi cơm rượu mua rẻ hàng dạt. Vậy nhưng bà cắt mỏng mang phơi sẽ
thành những miếng chuối ép thơm sực mà không phải ai cũng có tiền mua khi ấy. Dù
chiếc xích lô ông Tư mua đúng chuẩn từ nơi sản xuất nhưng vẫn làm bà Dư Tím khá
vật vã mỗi khi ngồi lên. Vì bà phải vén phần mềm hai bên hông để nhét gọn vào
xe nếu không muốn nó vắt lên thành hai bên. Có hôm ông vừa đến cổng thì chiếc
xe phản chủ bật gồng lên hất tung ông Tư Thẻo cắm đầu úp ngược vào đống chuối
thâm thâm mùi cơm rượu. Bà Dư Tím thường trả tiền bằng hai phần ba giá bình thường.
Không phải bà so kè keo kiệt hay hiếp đáp, mà bà sợ đưa đủ ông Tư Thẻo sẽ ngại.
Tình làng nghĩa xóm là vậy!
Cha chồng cô Toan là ông
Dư Tím ngoài tám mươi, tóc bạc trắng phơ phơ, da đỏ hồng phơi phới. Cuối xóm có
cô Thuận đông con, có thím Sáu Mướp đi chăn vịt mướn về sinh ba. Tôi ở cạnh nhà
cô Toan, mỗi sáng tót lên cây mận làm một việc mà ít ai biết. Và mỗi sáng ông
Dư Tím ngồi cạnh thùng bánh tráng nướng. Một thỏa thuận giữa ông Dư Tím với cô
Thuận và thím Sáu Mướp: hai bánh tráng trao đổi bằng một lần bóp mông. Cô Thuận
chục bánh tráng sống và hai bánh tráng nướng. Thím Sáu Mướp năm bánh tráng sống
và một bánh tráng nướng. Ông Dư Tím già nên lẫn, rõ ràng tôi đếm không nhầm có
hôm ông bóp thừa đến mấy cái. Có lẽ cô Thuận và thím Sáu Mướp thông cảm với sự
già cả của ông nên chỉ lẳng lặng ôm bánh về. Tình làng nghĩa xóm là đó!
Có một bí mật mà đến giờ
tôi mới tiết lộ. Đó là tôi cũng nuôi Tết. Nhà đông con nên đứa nhỏ mặc đồ đứa lớn,
làm gì có đồ mới. Ngày Tết ở các chợ người ta mời chào nhiều món ăn vặt, nhưng
tiền lì xì hết Tết đều phải nộp lại đồng chí má với câu nói kinh điển: “Má cất
giùm tụi bây, mốt lớn làm vốn!” Cứ bắt đầu hè là ba má tôi tăng ca để kiếm tiền
ăn Tết cho kịp. Sáng bảnh toỏng ba má mới về, ăn qua loa vài miếng rồi ngủ. Đó
cũng là thời cơ để để tôi đi kiếm tiền để nuôi Tết.
Nhà tôi bước ra quốc lộ
1A chừng năm phút có bến xe cũ. Nó là bến xe của chế độ cũ vẫn sử dụng, xe nội
tỉnh hay đường dài đều “quá cảnh” ở đó. Đó cũng là “địa bàn làm ăn” của tụi con
nít xóm tôi và các xóm lân cận. Ở bến xe cũ có nhiều quán cơm bún phở các loại,
có nhiều hàng tạp hóa bên đường. Nhưng thời đó các nhà xe chưa biết cách làm
“vui lòng khách đến vừa lòng khách đi” như thời cạnh trạnh tranh khốc liệt về
sau. Lơ mơ là bị bỏ lại bến xe, vật vạ ngủ đường ngủ chợ vì không dễ mà bắt được
chiếc xe nào. Muốn lên xe phải có vé, xe chợ đen thì nhét người lồi lõm từ bến
gốc. Bởi vậy đâu ai dám léo hánh xuống, các kiểu ăn uống đều ngồi trên xe thò đầu
ra vẫy gọi. Và đó cũng là những cơ hội béo bở của bọn nít tôi. Mỗi lần có vào
chiếc xe dừng trả khách hay lên hàng là bọn tôi xúm lại. Đứa nào cũng leo lẻo
miệng:
- Ai cơm bún phở, khăn mặt
kem đánh răng, dầu khuynh diệp, trà đá trà nóng đây!
Nói chung, đứa nào nhớ
cái gì trong đầu đều rao thứ đó. Mỗi khi có người mua dĩa cơm hay tô bún là bọn
tôi chạy ù tới một hàng ruột, vì mỗi đứa sẽ kết thân với một hàng. Đến bưng cơm
của họ với giá 200 đồng thì bán lại 250 đồng. Không hề đầu tư mà có lãi ngay và
luôn với mọi thể loại hàng hóa mà khách ngồi trên xe yêu cầu. Mỗi chuyến xe
khách ghé lại chừng 15 phút là bọn nít tôi cũng hớn hở rủng rẻng tiền lời vào
túi. Có những chuyến xe bị hư hay nổ lốp thì bọn nít tôi kiếm tiền bằng cách dắt
mấy bà mấy cô đi tiểu đại tiện.
Ngày đó có nhiều cái lạ.
Đó là cứ tối tối lại có mấy
cô chong cái đèn hột vịt thắp dầu hỏa để bán hột vịt lộn. Nhưng chẳng bao giờ
có khách ngồi ăn tại chỗ. Người ta thường hay ăn hột vịt lộn ở các bà ngồi dưới
cột đèn đường. Thường thì khách gọi là các cô bưng thúng đi. Và cũng thỉnh thoảng
các chú tài xế hay khách đi đường lỡ chuyến vẫy bọn nít tôi lại:
- Chạy đến cô nói cô bán
hột vịt bưng lại đây chú ăn rồi chú cho tiền tụi mày!
Lũ trẻ nít bọn tôi tranh
nhau chạy đến léo nhéo:
- Cô ơi chú kia ăn trứng!
Và các cô lại lẽo đẽo
bưng thúng chạy theo bọn nít tôi. Tới đó thôi, bọn trẻ nít tôi chẳng đứa nào
quan tâm các chú ăn bao nhiêu cái đâu, cũng không đứa nào thắc mắc sao chỉ đàn
ông mới thích ăn hột vịt lộn. Đến khi có gia đình tôi mới hiểu tại sao các cô
bán trứng lại hay bưng thúng đi khi khách gọi.
Thường thì sau nửa đêm
tôi mới mò về trèo qua rào vào nhà ngủ, số tiền lẻ kiếm được nhét dưới gối.
Không ai trong nhà hay biết. Sáng sớm tôi chạy qua cô Toan nộp tiền nuôi Tết
ngay và luôn. Cô Toan ghi chép cẩn thận, có lần tôi ghé đầu vào đọc thì bị cô cốc
một phát:
- Tiên sư bố mày, đồ ranh
con bà thì bà giật phắt cóc cho mày nuôi xu nào nữa nhé! - Cô Toan vốn sinh ra ở
làng quê nón quai thao nên cô chửi hay như hát quan họ - Bà giả mày hết tiền
nhé, mày chả nộp được mấy xu nhé!
Và cô vùng vằng móc túi
liếm ngón tay đếm đếm một ít tiền lẻ rồi quăng ra đất:
- Đấy đấy của mày tất, bà
giặt phắt giả lại tất cho mày nhé!
Tôi liếc sơ qua, biết chắc
chắn là số tiền tôi đóng nhiều hơn mớ tiền lẻ cô vừa quăng ra nên giả lả:
- Cháu đùa thôi mà cô,
thôi cho cháu xin lỗi cô ạ!
Vừa nói tôi vừa lúi húi
nhặt hết rồi nhét vào túi áo cô. Cô Toan nhấm nhẳng ứ hự rồi quày quả bỏ đi. Cô
là thế, chẳng bao giờ giận ai lâu. Tình làng nghĩa xóm là vậy!
Đã rất lâu rồi xóm tôi
không còn nuôi Tết. Cô Toan giờ là bà lão tám mươi móm mém thui thủi một mình. Tận
Đà Lạt, hai đứa con êm ấm trong hai căn biệt thự cô sắm sang khi chúng có gia
đình nên chẳng thấy về thăm mẹ. Những người già và cả những người trẻ hơn cô
Toan vẫn bảo nhau lui tới thăm nom cô mỗi khi trái gió trở trời. Tình làng
nghĩa xóm là vậy mà!
Đã rất lâu rồi, xóm tôi vẫn
có những cái Tết ấm áp vui vầy.
Và trước mắt, xóm tôi - à mà không - khắp mọi miền quê sẽ đón một cái Tết nhiều lo lắng, một cái Tết khó đoàn viên, một cái Tết thiếu hụt trăm bề vì dịch bệnh.
Một ước nguyện đầu năm mong tất cả đón Tết bằng an!
Điền
về tới hàng cây so đũa trồng nép bên lộ cái khi trời chiều ngả bóng. Ngày nó
đi, hàng cây mới cao hơn đầu người một tí, tàn lá chưa có, thân cây ốm tong
teo. Điền dừng lại, ngay ngã rẽ vào bờ kinh xáng. Đằng xa là ấp Vàm Kinh, ẩn
khuất trong những vườn cây, nhà nó ở đó.
Điền cúi mặt rồi lại nhìn quanh. Nắng dần phai, phớt vàng trên ngọn cỏ, lá cây.
Những đợt bông so đũa trắng muốt theo từng cơn gió nhẹ buông. Mặt nước trong
veo, điểm xuyết những cánh hoa li ti, chao nhẹ nhấp nhô.
Đã
hơn năm năm rồi, Điền mới dám trở về quê, mà là vào dịp Tết. Điền khẽ lắc đầu,
mím chặt môi như cố kìm lại nỗi xúc động đang dâng lên. Nó đang nhớ về cái ngày
mà nhiều người trong ấp đốt đuốc lá dừa lùng sục kiếm thằng ăn trộm bắt bầy gà
của cô Tư. Một sự trùng hợp hay là sự trêu ngươi của số phận. Người ta thấy nó
đang lóp ngóp ở bờ kinh, quần áo lấm lem bùn đất. Họ xỉ vả, đay nghiến không để
cho nó thanh minh một lời. Họ sẵn sàng cầm gậy xông vào với tất cả sự tức giận.
Nó đành bỏ lại hàng chục lưỡi câu vừa cắm mà chạy thục mạng. Những người đàn
ông vừa đuổi theo vừa la hét: Đánh chết nó đi, thằng không cha ăn trộm...
Như
vết dao đâm thủng vào lòng tự trọng. Suốt đêm ấy nằm trong đống rơm nó đã khóc
đến cạn nước mắt. Nó biết thế nào là nỗi nhục nhã. Nó rùng mình, vơ nắm rơm
nhét vào miệng nhai ngấu nghiến, điên dại. Nó là thằng ăn trộm ư? Má nó từng dạy
phải thiệt thà, trung thực, phải biết tránh xa những thói hư tật xấu. Nó phải rời
quê này thôi. Có gì đó đang âm thầm hối thúc, buộc nó phải suy nghĩ, cân nhắc
lung lắm. Trằn trọc, suy nghĩ miên man đến lúc trời gần sáng, khi bóng trăng đã
nhạt mờ, gối lên ngọn cây phía trảng bưng, nó lẻn về nhà tắm rửa. Lúc này, má
cũng đã ra chợ nổi chất hàng cho mấy ghe thương hồ kịp nổ máy ngược dòng. Nó viết
mấy dòng để lại cho má rồi xách túi ra đi. Nó biết chắc má sẽ đau khổ lắm. Nên
khi vừa ngồi lên chiếc xe liên tỉnh, nó đã nghĩ lại, vì má, muốn quay về để “đối
chứng” nhưng rồi cảm giác căm thù cái ấp nhỏ có những con người hung dữ đã đuổi
đánh nó đã khiến nó hậm hực. Nó ngậm ngùi nuốt nước mắt vào trong...
“Về
rồi hả bây? Dữ ác hôn, làm gì mà đi biệt đến giờ...”. Điền giật mình, dù chưa kịp
quay đầu lại nhưng nó vẫn biết đó là ai. Cái giọng nói vút cao, ngọt xớt dù là
câu trách móc.
-
Dạ, chào dì, con mới về tới đây ạ!
Dì
Hạnh không giấu được niềm vui, cứ ôm lấy vai Điền, giục:
-
Con lẹ bước đi, má con sốt ruột lắm rồi!
Nghe
dì Hạnh nhắc tới má, Điền cảm giác mặt mình nóng lên, những giọt nước mắt bắt đầu
ứa ra. Giọng dì Hạnh cũng nghẹn ngào:
-
Thương má sao không biết đường mà về... Mà thôi, bước lẹ lên đi con!
Điền
“dạ” rồi líu ríu theo chân dì Hạnh.
Đến
trước nhà, lúc dì Hạnh đẩy cổng sắt đã hoen gỉ, xập xệ, tự nhiên Điền như muốn lùi
lại, lòng bồn chồn, bất an. Một cảm giác đan xen nửa như muốn quay đi, bỏ chạy
nửa như muốn chạy ào vào nhà, ôm chầm lấy má đang lúi húi dưới bếp...
-
Má...
Điền
nghẹn ngào, chân như không vững khi dì Hạnh dắt tay má đi ra...
Bữa
cơm đạm bạc, chỉ mấy thức ăn dân dã bắt từ dưới sông, hái ở sau vườn. Vừa gắp
khúc cá kho nghệ bỏ vào chén cho Điền, má nhẹ nhàng gần như thủ thỉ:
-
Sao con bỏ nhà đi lâu như thế?
Miếng
ăn chực nghẹn nơi cổ họng. Nước mắt trào ra. Điền đặt chén cơm xuống mâm, nắm
chặt tay má:
-
Má tha lỗi cho con nghen. Con không về không phải con sợ mà là do con ghét...
Điền
ngập ngừng, cúi mặt. Má ngạc nhiên, dì Hạnh cũng ngạc nhiên, tròn mắt nhìn
chàng trai hai mươi tuổi đang xúc động mạnh. Má gỡ tay Điền ra, uất ức:
-
Con ghét thân phận lạc loài đúng không? Má biết mà, má có lỗi với con nhiều lắm!
Nói
xong, má khóc. Điền bối rối thật sự. Nó hốt hoảng, phân trần:
-
Con thương má không hết chứ làm sao ghét được. Con ghét là ghét mấy người xua
đuổi con, kêu con là đứa không cha...
Điền
lại xúc động, đôi vai run lên, giọng nức nở. Dì Hạnh dỗ dành:
-
Thôi, bình tĩnh đi con trai, mọi chuyện đã qua lâu rồi. Con nay đã trưởng thành
rồi cũng nên biết đâu là phải quấy! Bọn người hay trộm gà bắt vịt đã bị pháp luật
xử tội... Con về ở với má, chăm sóc và yêu thương má nhiều hơn...
Dì
Hạnh âu yếm nhìn Điền thương cảm. Rồi dì chậm rãi nhưng đôi khi riết róng, đầy
bực bõ khi kể lại chuyện những con người hồ đồ từng xua đuổi Điền. Chính họ hoặc
con cái họ đã trộm vặt gà vịt hay giở lồng cá, bắt tôm. Sau khi Điền bỏ đi một
dạo, tình hình mất trộm vẫn còn tiếp diễn, chính quyền ấp, xã phải mời cấp trên
về điều tra làm rõ. Để tóm được bọn người này, các anh công an phải giả dạng mấy
người xứ khác đến gặt mướn, cắt cỏ thuê. Đến hàng tháng mai phục, dò la, mới
tóm được cả nhóm.
Điền
nghe không sót một lời. Nó lén nhìn má. Lòng cuộn dâng nỗi niềm khôn tả. Nó định
mở lời nhưng sự xúc động khiến nó cứ vân vê tà áo đã quăn queo.
Dì
Hạnh lại tiếp tục câu chuyện. Giọng nói của dì khi tức tưởi, lúc ngậm ngùi khiến
Điền thấy thương dì lạ. Nó ngẩng lên chăm chú nhìn dì. Một người bạn của má nhưng
lại coi nhau như hai chị em ruột, yêu thương chia sẻ vui buồn trong cuộc sống.
Dì tên Hạnh nhưng cuộc đời dì lại gặp nhiều bất hạnh, chứ hạnh phúc chưa mỉm cười
với dì lần nào cả. Một thời thanh xuân đi qua, với dì toàn nước mắt. Yêu thương
nông nổi, nhận lãnh hậu quả buồn đau, người ta bỏ dì đi tìm hạnh phúc mới. Dì
âm thầm sống, lo cho cha mẹ già trong căn nhà lá bên bờ sông. Đau đớn hơn nữa,
đứa con mới chập chững bước đi, niềm hạnh phúc hiếm hoi mà dì có được đã ngã xuống
sông trong lúc dì loay hoay vớt mấy giề lục bình. Xấu hổ hay bẽ bàng mà dì đã
tránh giao tiếp với mọi người xung quanh, ngoài má.
Ngày
má mang bầu Điền, mỗi mình dì chăm sóc lo toan. Nước mắt đớn đau của hai người
phụ nữ bất hạnh có thể chảy thành sông, thành suối. Họ thủ thỉ, động viên nhau.
Ông bà ngoại khắt khe đuổi má ra khỏi nhà. Bị gia đình từ mặt nếu không phá bỏ
cái thai nhưng má bất chấp, cãi lời: “Con của con không có tội tình gì tía má
ơi!”.
Điền
từng nghe dì Hạnh kể lại mà xót xa cho má. Nó ngậm ngùi rằng suốt đời này vẫn
không thể quên ơn cứu mạng của má. Thế mà Điền đành bỏ má ra đi để má phải mòn
mỏi đợi chờ. Cứ mỗi lần thấy chiếc ghe nào xình xịch nổ máy chạy ngang nhà, má
đều ra bến dòm chừng. Trong mơ, má hay nói sảng, thấy Điền theo ghé thương hồ về
bến cây bần...
Năm
mười tuổi, Điền lờ mờ biết được ba nó là ai, nhưng nó vẫn cứ cố tình dửng dưng,
làm như thể không quan tâm gì cả. Bữa dì Hạnh hỏi dò rằng nếu ba quay về tìm
hai má con thì nó chấp nhận hay không? Điền im lặng, ném mấy trái cà na xuống
nước, lõm bõm. Biết không thể thuyết phục được thằng nhóc cứng đầu, dì Hạnh lảng
ra, cất lên điệu hò não lòng: “Sông dài cá lội biệt tăm...”.
Rồi
ba Điền cũng trở về đứng dưới bến. Má giặt quần áo ở sàn nước, cạnh gốc cây bần.
Ba dúi vào tay má gói quà cho Điền. Má hất ngược lại, kêu nó không chịu lấy
đâu... Lúc đó, Điền ngồi ở chạc ba cây ô môi rình bắt tổ chim ra ràng. Nó nhìn
thấy hết. Khi chiếc ghe nổ máy xuôi về phía biển nó mới tụt xuống đầy vẻ bực tức,
hai bên háng trầy trụa, rớm máu.
-
Con nhìn thấy cả rồi à! - Má hỏi, tay vẫn vò liên tục tấm áo cũ đã bợt hai bên
vai. Điền gật đầu rồi đi vô nhà nằm, đến bữa má kêu mấy lần cũng không chịu ra
ăn...
Má
ngồi ở hàng ba. Bóng má in một khối buồn. Cơn ho khan khi trời trở bấc khiến má
cứ rũ người xuống. Gió từ ngoài sông thắt thẻo từng cơn.
Điền
nằm ở chiếc võng treo một đầu vào cột nhà, đầu kia mắc vào nhánh bình bát. Nó
đưa qua đẩy lại, trèo trẹo. Hình như má đang nhìn nó. Điền biết khi nó thấy má
thay đổi tư thế, mặt má hướng về phía nó. Điền thương má lắm nhưng vốn tính lầm
lì, ít biểu lộ cảm xúc nên cứ nằm im nghe ngóng.
-
Con về rồi có đi nữa không?
Giọng
má thủng thẳng, nhẹ hẫng rót vào sự tịch mịch của màn đêm khiến Điền giật mình
nhổm dậy:
-
Con không đi đâu nữa má ơi!
Điền
cảm giác nghẹn ứ nơi cổ, giọng như hụt hơi nên tiếng “ơi” không tròn mà gãy bè,
vụn vỡ đầy nỗi niềm.
Má
không nói gì, lẹt quẹt lê dép vào nhà. Khi má vừa khuất sau vòm tối của khung cửa,
Điền thấy lòng chênh chao, day dứt.
-
Má khổ lắm con biết không? - Dì Hạnh đã kéo Điền ra bờ sông kể lại mọi chuyện xảy
ra khi Điền bỏ nhà. Điền ngồi im như con mèo ngoan nằm trong xó bếp, lắng nghe
không sót một lời.
Ngày
Điền rời nhà, má suy sụp, không ăn uống gì. Đêm, má cứ đi lang thang dọc con lộ
hay gục đầu vào gốc bần ngoài bến và gọi tên con. Má vào chợ, ghé hàng bán gà vịt,
mấy người buôn kéo tay má: “Khổ thân chị quá nhưng tụi tui không thể minh oan
cho chị được”. Má lắc đầu, đau khổ. Có người thương cảm, ôm vai má vỗ về: “Thôi
mà, chuyện đã xảy ra lâu rồi, về đi mà đặng mần ăn”.
Má đi đi về về lặng thầm như chiếc bóng. Má ra
ngoài vườn, nhìn lên đọt ô môi hét toáng lên rằng: “Mày xuống không thằng mắc dịch”.
Gặp bọn trẻ đi học về, má chặn đường hỏi: “Thằng Điền đâu rồi bây”, khiến bọn
chúng xô nhau chạy và hét toáng lên: “Bà điên!”.
Má
gầy nhẳng, tiều tụy, tóc xơ rối bù. Ông bà ngoại nghe tin, đón má về bên kia
sông chăm sóc nhưng chỉ được một thời gian ngắn, má lại lén về. Má hay ngồi ở
hàng ba cười hề hề. Thấy chiếc ghe máy nào chạy sát bờ là vẫy tay, hỏi dò: “Có thấy
thằng Điền của tui đâu không?”. Phải mất gần một năm má mới bình phục. Nhất là
khi bọn trộm cắp bị bắt đưa về trụ sở công an. Má tươi tỉnh, bảo với mọi người:
“Nay mai thằng Điền về thôi. Nó đang làm việc trên thành phố...”.
Điền
và má đi chợ Tết. Dọc lô, những chậu hoa xếp ngay ngắn chờ người mua. Hoa thược
dược, hoa lay ơn, hoa cúc vạn thọ... Mỗi loài hoa một sắc màu khoe dưới ánh nắng
ban mai rực rỡ. Dưới sông, hoa từ muôn ngả theo những chiếc ghe cũng đổ về.
Trên bến, dưới thuyền, người mua kẻ bán tấp nập.
Ngang
qua quán cà phê ở góc chợ, nhạc xuân vang dội, Điền bất giác nhìn vào. Có mấy
người đàn ông tụm lại đánh bài ở chiếc bàn kê sát cửa. Trông già nua và nhếch
nhác. Má biết họ là những người từng đuổi đánh Điền nên kéo tay nó đi. Điền
nhíu mày nhìn họ. Một người trong đám bỗng đứng dậy, vẫy tay Điền. Nó ngạc
nhiên, nhìn sững. Ông ta cười thân thiện. Má bất ngờ, đứng nép vào người Điền,
khó hiểu.
-
Điền mới về hả? Thiệt tình, năm xưa, chú…Người đàn ông ngập ngừng, có chút lúng
túng, nhìn vào đám người đang la hét bởi ván bài kết thúc. Người đàn ông nhẹ
nhàng cầm tay Điền nói nhanh nhưng giọng hạ rất thấp:
-
Chú xin lỗi, chú sai rồi... Cũng vì hồ đồ, không biết đâu là phải trái!
Điền
rụt tay về và gật đầu. Một người phụ nữ dáng thấp đậm, xách giỏ lác đi chợ cũng
dừng lại, ngó nghiêng. Điền nhận ra cô Tư. Cô cười với má. Má đưa tay chỉ Điền
như thể giới thiệu. Cô Tư reo lên, thú vị:
-
Mèn đéc ơi, lớn tướng như thế này rồi đấy ư? Rồi cô cúi mặt như nhận ra điều gì
không phải. Cô đặt giỏ lác xuống đất, hai tay cầm lấy tay Điền thủ thỉ:
-
Cô biết con buồn lắm vì cô chửi rằng con là... Cô Tư ngập ngừng... Từ ngày con
bỏ đi, bọn trộm cắp bị bắt, cô ân hận lắm vì đã nghĩ xấu về con... Có má con
nè, cô hay qua nhà con như để chuộc lỗi... Con bỏ quá cho cô nhé?
Điền
bóp chặt tay cô Tư, nhìn gương mặt đầm đìa nước mắt của cô mà lòng nó thấy nhẹ
nhàng. Thì ra, thực tế không nghiệt ngã như nó từng nghĩ, một khi sự thật phơi
bày, con người ta sẵn sàng nhận lỗi và thứ tha. Nó bỏ đi như một thách thức sự
hằn học, hồ đồ của người đời. Còn nếu ngày ấy, nó bất chấp ở lại có lẽ mọi chuyện
đã khác, âu cũng là số phận.
Bất giác, một cơn gió sớm thổi qua, mang theo
hương vị ngọt ngào của hương hoa, của vị mứt sênh đường, cả vị phù sa của dòng
sông quê bốn mùa nước đục khiến lòng Điền sáng khoái, mở căng lồng ngực hít lấy.
Nó sà xuống hàng hoa ven lộ, chọn chậu hoa cúc mâm xôi vừa hé nụ và một cây mai
mini dáng thấp xòe thành ô xinh xắn đầy nụ xanh nõn.
Má nhìn Điền trìu mến. Nó tươi cười, kéo tay má vào chợ. Nó sẽ mua cho má quần áo mới và sắm Tết bằng những đồng tiền chân chính kiếm được trong những năm lưu lạc ở xứ người.
NHỚ
LẮM PHIÊN CHỢ TẾT XƯA
Trong cuộc đời của mỗi người, ai cũng
đã từng dự rất nhiều phiên chợ Tết. Tôi cũng vậy, bởi phiên chợ Tết là phiên chợ
đông vui nhất,
để lại trong tôi nhiều ấn tượng sâu sắc. Tết đến, trăm ngã đường dồn về phía chợ.
Chợ Tết bắt đầu từ ngày 23 đưa ông Táo về trời. Chợ đông vui với nhiều mặt
hàng, đặc biệt là những mặt hàng chỉ xuất hiện nhiều vào dịp Tết như những gian
hàng hoa kiểng, bánh mứt, dưa hấu… Tât cả tràn xuống đường, vỉa hè với nhiều
màu sắc, kiểu dáng mới lạ. Người tiêu dùng dù khó cách mấy cũng không thể làm
ngơ.
Tôi còn nhớ lúc nhỏ tôi cũng thường
theo mẹ đi chợ Tết, chủ yếu là theo xách đồ tiếp mẹ. Cũng như những đứa trẻ
khác, tôi theo mẹ len lỏi trong dòng người đông đúc, tấp nập ấy. Vì là chợ quê
nên người dân bày bán lộn xộn, cứ thấy chỗ nào trống là đến ngồi và bày hàng
ra. Nào là rau cải, thịt cá, bánh mứt, trái cây chen lẫn vào nhau không có trật
tự gì cả nhưng cũng tiện lợi cho người mua đến một chỗ thôi cũng có thể mua được
nhiều thứ khỏi cất công đi xa.
Dần dần chợ cũng trật tự hơn, hàng
hóa bày bán theo từng dãy, từng mặt hàng riêng biệt: khu trái cây, bánh mứt, rượu
trà, khu thực phẩm, rau củ… Đặc sắc nhất là khu hoa kiểng, mỗi năm có nhiều loại
hoa kiểng mới, lạ độc đáo với nhiều màu sắc rực rỡ, trang trọng, quý phái. Các
cây kiểng được uốn theo hình dạng độc đáo, có ý nghĩa nghệ thuật, chẳng hạn
mang hình dáng tiêu biểu của 12 con giáp thật công phu. Nổi bật nhất trong gian
hàng là các loài hoa, hoa mai vàng được mọi người ưa chuộng, vì mai thể hiện niềm
vui, may mắn, hạnh phúc. Sắc mai vàng làm cho mùa xuân thêm rực rỡ, các loại
hoa cúc, hoa hồng, vạn thọ, hướng dương, hoa lan… tất cả tạo nên một bức tranh
đầy màu sắc.
Kế đến là gian hàng bánh mứt: mứt bí
trắng ngần, mứt hạt sen trắng ngà, mứt khoai lang vàng nghệ, mứt dừa nhiều màu
sắc thật hấp dẫn. Bánh cũng được đựng trong những chiếc hộp xinh xắn đẹp mắt,
kiểu dáng mới lạ trông thật hấp dẫn. Những loại rượu, trà, cà phê đặc sản thơm
ngon được bày bán khiến cho ai đi qua cũng không nỡ làm ngơ. Gian hàng trái cây
với đầy đủ trái cây bốn mùa: cam, quýt, xoài, mận, nho, bom, thanh long… Tết nhà
nào cũng bày mâm ngũ quả nên mặc sức mà lựa chọn những trái đẹp tươi ngon để
mâm ngũ quả thêm rạng rỡ. Đến gian hàng thực phẩm, nơi tập trung đông đảo các
bà nội trợ. Các chị, các bà tự do lựa chọn gà, vịt, thịt heo, rau củ và bao
nhiêu thứ cần thiết khác.
Góp phần làm cho phiên chợ Tết thêm
náo loạn là nơi bày bán hàng la. Bằng những bài hát, bài thơ tự chế có vần, có
điệu, người bán giới thiệu những món hàng của mình nghe thật thú vị, vui tai. Những
món đồ được đổ ra từng đống bên đường hoặc một chỗ trống nào đó với giá phải
chăng, phù hợp với túi tiền của người lao động thu nhập thấp. Kẻ mua người bán
liền tay, tiếng cười tiếng nói râm ran náo động cả khu chợ. Người mua tíu tít
xem hàng, người bán nhanh nhẹn gói hàng lấy tiền, thối tiền. Ai cũng bận rộn, vội
vã. Ồn ào nhất vẫn là lũ trẻ, chúng đi chợ không phải để mua sắm mà là để nhìn
ngắm mọi người qua lại, ngắm hàng hóa bày bán. Chúng len lỏi hết chỗ bày đến chỗ
khác, sờ mó, ngắm nghia, bình phẩm rồi phá lên cười nắc nẻ. Chúng thật vui vẻ,
hồn nhiên.
Dòng người lũ lượt kéo vào chợ mỗi
lúc một đông hơn, tôi có cảm giác chợ không còn đủ sức để chứa. Chợ đông vui,
hàng hóa nhiều, có mắc hơn ngày thường một chút nhưng mọi người vẫn cứ mua vì
ai cũng muốn mấy ngày Tết trong nhà có đầy đủ mọi thứ. Một năm làm việc vất vả
để có được mấy ngày Tết bên người thân. Vậy mà vui!
Mỗi phiên chợ Tết đều dể lại trong
lòng tôi ấn tượng đẹp. Được ngắm nhìn quang cảnh chợ Tết, cảnh mọi người sắm sửa
đón xuân, tôi cảm thấy quê hương mình thật đẹp, thanh bình. Mong sao xã hội
ngày càng giàu đẹp hơn để cuộc sống người dân được ấm no, hạnh phúc. Và phiên
chợ Tết năm sau sẽ vui hơn, nhộn nhịp hơn phiên chợ trước.
VẤN
VƯƠNG MÙI TẾT
Cái lạnh của những ngày cuối đông mang
theo những cơn mưa như muốn xua tan bụi bặm của năm cũ để chào đón một năm mới,
khi từng đàn én chao lượn trên bầu trời mang thông điệp đi khắp nơi báo hiệu
xuân về. Mưa xuân lất phất bay như bàn tay mẹ hiền nhẹ nhàng âu yếm, vuốt ve
đàn con nhỏ, mong chúng mau lớn, nên người; giúp cho những mầm non mới nhú lớn
nhanh để kịp đón những tia nắng đầu năm.
Mùa xuân mang đến cho mọi người, mọi vạn vật
một không khí mát dịu, ấm áp khiến cho tâm hồn con người bừng lên sức sống mới.
Hơi ấm mùa xuân lan tỏa khắp nơi, len qua từng chiếc lá, cành cây, ngọn cỏ. Hơi
xuân lướt nhẹ qua từng ngôi nhà, con phố, bay qua những con đường, hòa vào dòng
người hối hả chuẩn bị đón xuân. Xuân rộn ràng khắp mọi nơi để những bông hoa
khoe hương sắc, vươn mình đón nhận những tia nắng sớm để mọi người có dịp chiêm
ngưỡng vẻ đẹp của từng loại hoa và thưởng thức hương thơm nhẹ nhàng, quyến rũ của
các bông hoa.
Từ xưa đến nay, đất nước trải qua biết bao
mùa xuân, biết bao ngày Tết. Đó là sự đồng cảm, hòa hợp giữa mùa xuân thiên
nhiên và mùa xuân trong lòng người. Mùa xuân tự nhiên của đất trời với cảnh sắc
tươi đẹp làm say đắm lòng người. Mùa xuân tự nhiên, có khi là một thời điểm
trong vòng xoáy vô thường của thời gian, có lúc được thể hiện là bối cảnh của đời
sống thường ngày bình dị, thanh nhàn. Chính mùa xuân trong lòng người đã làm
cho bừng sáng lên một vẻ đẹp kiêu sa. Lúc này mùa xuân không còn là mùa xuân của
tự nhiên, mà đã khoác lên vai nó trách nhiệm mang đến bầu không khí vui tươi, hạnh
phúc cho mọi người, mọi nhà. Mùi vị Tết!
Mùa xuân giúp con người gần gũi với thiên
nhiên, cảm nhận và hòa mình vào sự thay đổi của thiên nhiên, sự giao ban giữa
năm cũ và năm mới. Trên khắp các ngõ ngách của làng quê, đường phố, cây cối đều
khoác trên người những chiếc áo xanh mượt cùng với từng lớp chồi non xanh biếc
tràn đầy nhựa sống. Đối với con người, vạn vật, mùa xuân là mùa của tình yêu,
mùa gửi gắm yêu thương. Mùa xuân sẽ cùng với đào hồng thắm, sắc mai vàng, những
cánh én xôn xao, những mùi hương len lỏi đến từng nhà, phảng phất lên từng người
để gửi lại một chút hương xuân. Mỗi sáng thức dậy hít thở không khí xuân căng lồng
ngực mới cảm nhận hết mùi vị của Tết. Khắp nơi ánh lên sắc màu rực rỡ của tất cả
những loài hoa.
Dường như mùa xuân cũng là mùa thi "sắc"
của hoa, các cô nàng cố gắng vươn mình trong nắng mai để khoe sắc, để cho mọi
người chiêm ngưỡng vẻ đẹp của từng loại hoa, để thưởng thức hương thơm nhẹ
nhàng, quyến rũ của các bông hoa. Nào là hoa cúc ngây thơ, duyên dáng, vẻ đẹp
thanh khiết. Hoa phong lan là biểu tượng cho những cảm xúc thầm lặng, những dấu
hiệu đầu tiên về một tình yêu nồng cháy. Hoa súng tượng trưng cho sự trong sạch
của tâm hồn. Hoa sen thể hiện sự cung kính, tôn
nghiêm. Hoa tuylip nét ấm cúng và thoải mái, tượng trưng cho tình yêu hoàn hảo.
Hoa
bát tiên thể hiện sự vương giả, thanh cao, kiêu hãnh" Hoa Đồng Tiền
thể hiện lời chúc mừng, niềm tin, sự thành đạt. Hoa mimosa loài
hoa dành tặng cho bạn trẻ mới yêu. Hoa mai là biểu hiệu của sự may mắn, sự
trung thành trong tình yêu… Và rất nhiều, rất nhiều những loài hoa khác. Chắc chắn
là các cô nàng sẽ rất vui khi được nghe những tiếng trầm trồ, khen ngợi. Chúng
ta không gì khoan khoái, dễ chịu cho bằng việc ngắm một bình hoa với đủ màu sắc
và ngửi được hương thơm dịu dàng của nó, vì thế đừng bỏ qua cơ hội thưởng thức
những bông hoa rực rỡ của mùa xuân để tinh thần được sảng khoái.
Mùa xuân ngắn ngủi, có lẽ vì thế mà mùi của
Tết nồng thắm hơn, đọng lại trong lòng mỗi người lâu hơn, sâu lắng hơn. Có thể
nói mang hương vị đậm đà của không khí Tết nổi bật nhất là ở nông thôn. Nông
thôn là nơi trầm lắng, sâu đậm nhất những tập tục cổ truyền. Phiên chợ Tết ở miền
quê thật náo nức tưng bừng. Hình ảnh đó được nhà thơ Đoàn Văn Cừ miêu tả một
cách tỉ mĩ trong bài thơ “Chợ Tết”. Cảnh họp chợ, cảnh mua bán, cảnh chợ tan thật
sinh động, thật hóm hĩnh. Nó gợi tả được cả linh hồn của làng mạc dân cư. Đọc
thơ mà như thấy hiện ra trước mắt cảnh chợ Tết thật tưng bừng, náo nhiệt, đầy
màu sắc: nào là những thằng cu áo đỏ, cụ già chống gậy, cô yếm thắm, em bé… còn
có cả những người đi chợ tết, những người bán hàng hối hả, tất bật. Đó còn là
mùi của nồi nước lá thơm mẹ nấu cho cả nhà tắm gội trong chiều 30 Tết để tấy đi
những bụi bẩn của năm cũ để năm mới được sáng sủa, tinh khôi hơn. Đó là mùi của
nồi thịt kho nước dừa thơm lừng nứt mũi, mùi của bánh mứt, mùi quần áo mới, mùi
sơn mới… tất cả hương vị đó hòa quyện vào nhau xông thẳng vào mũi làm cho con
người cảm thấy sảng khoái, lâng lâng.
Đối với tôi, mùi Tết đậm nhất là mùi đọng
lại từ bàn tay khéo léo của mẹ gói từng đòn bánh tét, sên từng nồi mứt dừa,
tráng từng chiếc bánh tráng, nướng từng chiếc bánh phồng, từng chiếc bánh kẹp,
chăm chút từng món ăn ngày Tết; mùi từ mâm ngũ quả trên bàn thờ, mùi nhang thơm
nghe linh thiêng, ấm áp; mùi của không khí gia đình đoàn tụ bên mâm cơm cúng Giao
thừa với những câu chuyện, những tiếng cười đầy ấp tình thân .
Mùi vị đó mới ngọt ngào làm sao, khiến cho người ta cảm thấy mùa xuân thật kỳ diệu và rất đổi thân thương. Dù ngày nay cuộc sống công nghiệp hối hả, con người tất bật với biết bao là việc, mùi vị Tết giờ không lan tỏa khắp nơi mà được giữ kín trong những hộp, chai lọ… kiểu dáng đẹp, sang trọng, người ta không còn dịp để thưởng thức những mùi vị quyến rũ đó. Nhưng tôi tin rằng “mùi Tết” vẫn sẽ đọng mãi trong lòng của mọi người. Chắc chắn như thế!