Những khúc tình ca game thứ dịu dàng - Hoài Hương

Có thể chính từ việc cùng quê miền Tây Đô Cần Thơ “gạo trắng nước trong” mà tôi có duyên gặp và làm quen với nhà thơ Nguyễn An Bình. Rồi cũng từ sự tò mò về một người thơ miền Tây Nam bộ, tôi đọc tiểu sử văn học của ông mà ngưỡng mộ, hơn nửa thế kỷ với bề dày và độ chín trong văn đàn đã lan rộng trong nước và hải ngoại, hiện tại là 17 tập thơ - văn - ca khúc phổ thơ  đã được xuất bản, và đăng trên các tạp chí, trang văn học của truyền thông Việt Nam…

Đến khi tôi được ông tặng cho 5 cuốn ca khúc phổ thơ của ông với gần 500 bài: “Tình thơm màu giấy mới”, “Qua miền đất nhớ”, “Về phương Nam tìm một cánh cò”, “Lời hẹn cỏ may”, “Dấu chim bay”, và khi tôi viết những dòng này, về cuốn sách mới nhất của ông trong năm 2020, tập truyện ngắn Tiếng đàn đá trên đỉnh Sơn Trà”, còn biết thêm số ca khúc phổ thơ ông đã lên con số gần 700 bài.

“Tiếng đàn đá trên đỉnh Sơn Trà”, tôi đã mang tâm cảm thơ, đọc 15 câu chuyện ngắn của ông: Chuyện tình trên Phá Tam Giang, Chuột và người, Nguồn cội, Bến sông quê, Tình yêu màu hoa anh đào, Xóm trọ, Sông Ba mùa lũ, Trên đồi sương, Mùa chim dồng dộc, Sông ngoài kia vẫn chảy, Chuyện của hai người, Bên dòng Potomac, Tấm thẻ bài, Còn xanh bóng núi, Tiêng đàn đá trên đỉnh Sơn Trà, như đọc những câu chuyện thơ đầy nhạc cảm, những khúc tình ca gam thứ dịu dàng man mác, dù trong các câu chuyện đó, có vui có buồn, có vơi đầy tình người, có đắng đót xót xa, có thênh thang nỗi nhớ, có diệu vợi tình quê, có thao thiết yêu thương, có chênh chao xứ người, có mộng mơ lãng đãng, có liêu trai sương khói, có mơ hồ vênh vao kiếp người…

Vượt qua cảm xúc những câu chuyện đời, chuỵện tình làm ám ảnh khôn nguôi về kiếp người, sao có phận khổ đến tận cam lai, hay long đong lận đận liên miên đến thế, hoặc về số phận những cuộc tình có khổ trước vui sau, sướng đó lại khổ ngay đó, hợp tan như mây khói gió đùa, phải vượt ngàn trùng xa cách đầy trắc trở rồi mới lại trùng phùng hạnh phúc… Đọc tập truyện “Tiếng đàn đá trên đỉnh Sơn Trà” lại là khám phá thú vị bao nét văn hóa tinh tế, cung cấp thêm chút ít kiến thức về các miền đất Việt hay ở những phương trời xứ bạn.

Đọc Chuyện tình trên Phá Tam Giang, có thêm hiểu biết thế nào là “thả lừ”, “mò trìa” để bắt tôm cua cá, “nò sáo” nuôi trồng thủy hải sản… Hay trong Bến sông quê, có thể biết thêm ít bài bản Đờn ca tài tử Nam bộ với các bản cổ như: “khốc hoàng thiên”, “trăng thu dạ khúc”, “tam xuân”, “phụng hoàng”, “kim tiền bản”, “vọng kim lang”, “văn thiên tường”, “phi vân điệp khúc”..., các điệu lý: “lý giao duyên”, “lý con sáo”, “lý cái mơn”

Đọc Sông Ba mùa lũ, là có thể hình dung con sông “bắt nguồn từ ngọn núi Ngọc Rô tuốt trên vùng đất đỏ ba-zan Tây Nguyên, chảy qua mấy tỉnh Kon Tum, Đắk Lắk, Gia Lai rồi xuôi về Phú Yên theo cửa Đà Diễn ra biển khơi. …”.

Và một cảnh tượng tuyệt mỹ trong khu rừng rậm nhiệt đới  có thể làm ngây ngất bạn đọc dù chỉ là ngôn từ: “Một đàn bướm đủ màu sắc, anh nhận ra có nhiều loài bướm đẹp đặc trưng của Sơn Trà như bướm phượng đuôi kiếm, bướm phượng đốm vàng, bướm phượng đen đuôi vàng...”- Tiếng đàn đá trên đỉnh Sơn Trà

Trong câu chuyện Sông ngoài kia vẫn chảy, ngoài việc cung cấp cho bạn đọc “quy trình” làm chiếc ghe xuồng: “… cưa ván, bỏ mực, rọc dọn, vô vỏ, ráp cong, dằn...”..., thì cách tả dọc ngang đời thương hồ ở miền Tây Nam bộ, qua câu văn mà thấy cả miền sông nước với những cái tên đầy ấn tượng, hình dung ra một miền nước châu thổ sông Mekong thi vị và kỳ bí để khám phá trong một chuyến du lịch nào đó trong tương lai:

Ráng chiều, Ngàn lại lang thang trên sông nước cùng chiếc ghe hàng bông của dì Tư, khi thì qua Cái Sâu, Mái Dầm, Phú Hữu khi thì ngược lên Vàm Xáng, Phong Điền, Cầu Nhiếm, Ba Xe, có lúc lại trẩy lên Ô Môn, Thới Lai Cờ Đỏ, nơi nào có khách thì thuyền cứ đi, nơi nào có bến thì thuyền neo đậu lại..”

Đặc biệt là trong câu chuyện Tình yêu màu hoa anh đào, thật thú vị khi tác giả cung cấp cho bạn đọc ít kiến thức về hoa anh đào ở Nhật mà không phải ai cũng có thể nhận biết, nếu như không phải một người có sự quan sát tỉ mỉ và tìm hiều cặn kẽ:

Ở Nhật có mấy trăm loài hoa anh đào khác nhau như Nhiễm Tĩnh Cát Dã Anh (Somei Yoshino Zakura), Sơn Anh (Yama Zakura), Chi Thùy Anh (Shidare Zakura), Hàn Anh (Kanzakura), Hà Tân Anh (Kawazu Zakura). Hàn Phi Anh, Nhất Diệp Anh  (Ichiyou Zakura), Uất Kim  (Ukon), Anh Đào Hoa Cúc (Kikuzakura), Anh Đào Mùa Thu (Jugatsuzakura)…

Khi nói về một con sông ở Thủ đô nước Mỹ, tác giả tả ngọn nguồn sông, để qua đó cho bạn đọc có thể hình dung dòng chảy như đang được “xem” thực địa: “…sông Potomac bốn mùa trong xanh hiền hòa, nó là một trong những con sông dài nhất nước Mỹ, Potomac khởi nguồn từ tiểu bang West Virginia và lần lượt chảy qua các tiểu bang Maryland, Virginia và Washington DC… xuôi về phía nam đổ vào vịnh Chesapeakerồi hòa vào Đại Tây Dương…”- Bên dòng Potomac

15 câu chuyện trong “Tiếng đàn đá trên đỉnh Sơn Trà” của người thơ Nguyễn An Bình có thể nói là 15 cung bậc của tình yêu, mà ở đó, chữ “tình” giống như chủ thể để biến tấu những gam màu sắc cuộc đời hoặc đắng ngọt, day dứt, chung chiêng đến thương những mảnh đời bất hạnh, hoặc hạnh phúc được sẻ chia, hạnh phúc khi đoàn tụ, hạnh phúc tìm được nhau để có nhau, hạnh phúc khi biết về nguồn cội…

Những câu chuyện tình yêu trai gái tình tiết không tạo sốc, không có những tình huống gay cấn, nhưng luôn làm xốn xang trái tim bạn đọc bởi cái thương khó, chông chênh. Không thể không thương cặp đôi trai gái người mất mẹ kẻ mồ côi cha, cùng có hiếu với người còn lại, cùng chịu thương chịu khó, cùng sớt chia cho nhau vui buồn, tựa vào nhau, để rồi gắn bó với nhau ăn đời ở kiếp hạnh phúc như trong Chuyện tình trên Phá Tam Giang.

Cũng như cảm thông và cầu mong cho nhân vật Ngàn trong Sông ngoài kia vẫn chảy tìm được niềm vui với mối tình thanh mai trúc mã, đi theo tiếng gọi trái tim, vừa là trả ân tình cho những người đã cưu mang cuộc đời, vừa là theo tiếng gọi của dòng sông, của kiếp thương hồ gắn bó từ trong máu thịt… Và có chút ngậm ngùi đồng thuận với tác giả về một tình yêu bị phản bội, bị xem thường như trò lừa dối để mang lợi cho mình trong câu chuyện tình buồn Chuyện hai người.

Trên đồi sương, như câu chuyện “châu về hợp phố”, một bản tình ca ngọt ngào với giai điệu ban đầu có chút trắc trở, để rồi cái kết đẹp như thơ, chàng họa sĩ đã gặp lại người con gái – nguyên mẫu trong bức tranh của mình trong một hoàn cảnh khá cảm thương…

Tiếng đàn đá trên đỉnh Sơn Trà, một câu chuyện tình liêu trai kỳ ảo giữa một nghệ sĩ nhiếp ảnh, không phải với hồ tinh mà với một linh trưởng của rừng Sơn Trà, vọoc Chà vá chân nâu đầy mê hoặc trong vẻ đẹp hoang dã cũng như chất kỳ ảo của tiếng đàn đá- âm thanh của đại ngàn. Và tiếp nối theo mạch bảo vệ thiên nhiên, câu chuyện Sông Ba mùa lũ là một gam buồn cảnh báo những hiểm họa khôn lường do con người nắn sóng đổi dòng những con sông Trời cho…

Có một câu chuyện trong tập truyện này khá sốc, nó gần như mang màu sắc lạ, và thật sự đọc xong vẫn ám ảnh đền rùng mình nổi gai người: Chuột và người, miêu tả cảnh bắt chuột cống hàng đêm của một tay “săn chuột”, từ con người tử tế rồi sa cơ, biến mình thành một loài “chuột” làm cái nghề kinh khủng….

Quê hương trong thơ của  người thơ Nguyễn An Bình như một chủ thể thống nhất trong các tác phẩm thơ của ông, thì ở trong tập truyện ngắn này, ông cũng không bỏ qua “sở trường” của mình để viết hai câu chuyện đầy xúc động: Nguồn cội- nói về những em bé trong chiến dịch “Operation Babylift” của Mỹ di tản trẻ mồ côi ra nước ngoài trước ngày 30/4/1975, tìm về nguồn cội quê hương của mình;

Truyện thứ hai là Mùa chim dồng dộc- Một câu chuyện tình yêu được viết qua những ký ức hoài niệm đẹp về loài chim dồng dộc ở quê nhà, loài chim cần cù chịu khó làm tổ đẻ trứng nuôi con mỗi mùa, để rồi sau đó lại cặp kè nhau tung cánh bay đi về một miền xa tiếp tục sinh sống và trưởng thành…

Tình người trong tập truyện là những câu chuyện cảm động và có thể nói gây xúc động tận tam can bạn đọc. Một Xóm trọ toàn những dân nghèo thênh nghèo thang ở tứ xứ tụ lại, làm nghề cũng đa nghệ, tính cách thành phần tuổi tác cũng đầy phức tạp, nhưng được cô chủ trọ có tình.

Còn xanh bóng núi, câu chuyện buồn the thắt của người đàn ông cựu chiến binh chiến trường K, bị vợ ruồng rẫy, rồi con chết vì bệnh, bên cạnh đó là câuu chuyện một cô sinh viên bị lừa rồi mang bầu, sinh con và bỏ con… Và cái kết có hậu cho những người hảo tâm nhân hậu, họ đã cùng nắm tay chăm sóc bầy trẻ.

Có ba câu chuyện về người Việt xa xứ: Tình yêu màu hoa anh đào; Bên dòng Potomac, Tấm thẻ bài. Cảm giác như gam màu lạnh trong chuyện với những số phận xa xứ nhiều tâm sự, ngồn ngang những mảnh đời, vất vả trong mưu sinh…, nhưng câu chuyện lại thật ấm áp, từ màu hồng hoa anh đào Nhật Bản, ấm từ ngọn gió trên dòng Potomac, ấm từ giai điệu ca khúc “Somewhere my love” đầy ắp tình người xa xứ.

Tập truyện ngắn “Tiếng đàn đá trên đỉnh Sơn Trà” của Nguyền An Bình khá chân phương trong ngôn ngữ, nhiều phương ngôn mang phong cách Nam bộ, giống như một cách kể rỉ ra câu chuyện, không ồn ào, không náo nhiệt, nhưng như những khúc tình ca gam thứ với giai điệu dịu dàng len lỏi, thấm dần vào tâm hồn bạn đọc, gây cảm xúc nhớ nhớ thương thương, chút hoài cảm mơ màng…

Một tập truyện đọc để cảm để rồi khó quên.

 

 

 

 

Hoài Hương

>> Đọc tiếp…

Nỗi lo một mai châu thổ hoang vu - tản văn Hoài Hương

Biển mùa này mặn quá
Sóng khóc kiệt vì buồn
Bãi ngầm như chiếc lá
Rách bời vì sâu ăn..
(Nguyễn Hoàng Trung Hiếu)

Tôi đã liên tưởng đến câu thơ, khi lặng người nhìn những vạt đất lở đỏ bầm như máu ứa cạnh sông Vàm Cái Hố An Giang hay chứng kiến dòng nước xoáy vẫn còn hung dữ  dù đã cuốn trôi bao nhiêu căn nhà dọc theo một đoạn sông Tiền ở Đồng Tháp, và khi lướt qua bao nhiêu làng mạc ở miền đất Cửu Long Giang vào mùa nước lớn mà nước hình như chưa về, đồng vẫn cạn, lá chưa xanh, cá linh vẫn mất dạng đâu đó ở thượng nguồn… Bất chợt như có thoáng lo âu, lỗi một nhịp tim, viễn cảnh một mai châu thổ hoang vu.
Vâng! Câu thơ tưởng chừng viết về biển, nhưng không, nó như một dự báo tương lai “mặn hóa” đồng bằng châu thổ sông Mêkong. Một sự đắng đót đến hoang mang khi nghĩ đến tương lai không xa, miền đồng bằng châu thổ từng được xem là một vựa lúa “Thạch Sanh” của cả nước đang ngày càng thu hẹp lại bởi xâm lấn nước mặn, bởi sạt lở sâu những bờ sông không ngừng mỗi mùa lũ, và màu xanh cây trái cứ lần lượt mất đi tạo những khoảng trống man mác buồn thênh trong tâm hồn…, không chỉ bởi biến đổi khí hậu mà còn do con người vô tình hay hữu ý góp vào hủy diệt sự sống vốn hiền hòa êm đềm của miền châu thổ này.
Tuổi thơ tôi thấm đẫm những câu chuyện như cổ tích như huyền thoại về miền châu thổ sông MêKong, từ truyện Bác Ba Phi “một hạt lúa một nồi cơm”, “cá leo ngọn cây đẻ trứng”, “rắn hổ mây tát cá”, “cọp xay lúa”…, đến dòng Cửu Long Giang sông trào nước xoáy với những con cá hô thân hình to như tấm ván ngựa, vây ánh bạc, hai con mắt to bằng hai miệng chén ăn cơm, quẫy một cái làm mặt sông nổi sóng, tung bọt trắng xóa và tạo nên tiếng động ầm ầm, gặp rằm trăng chúng phi thân trên mặt nước thi triển sức mạnh “chúa tể sông ngòi”… Cuốn “Đất rừng phương Nam” của Đoàn Giỏi đã như một từ điển, một cẩm nang về miền sông nước Nam Bộ suốt thời thơ ấu của tôi, cho tôi hình dung một đồng bằng châu thổ giàu có trù phú thấm đẫm phù sa và bất tận màu xanh…
Quê nội quê ngoại của tôi nổi danh miền Tây Nam Bộ, một Cần Thơ “gạo trắng nước trong”, “miền gái đẹp” với “áo bà ba trên dòng sông Hậu thăm thẳm”..., một Kiên Giang như “Việt Nam thu nhỏ” có sông có biển, có núi có ruộng, có biên giới hải đảo, có “hòn ngọc Phú Quốc”, có “Hà Tiên thập cảnh” nổi danh cùng “Tao đàn Chiêu anh các” từ 4 thế kỷ trước, nhưng rồi theo con nước, theo những nóng giận của ông Trời và sư vô tâm của tình người với đất, cứ mỗi ngày mỗi mất đi một cảnh quan nào đó, mất đi những “nick name” đánh dấu sự độc đáo đặc biệt của miền quê … Ba má kể ngày xưa đi kháng chiến, đất rừng miền Tây đã nuôi cả cuộc kháng chiến thành công, từ ngọn lúa ma ở Đồng Tháp mùa nước nổi, đến những con cá con tôm ở miệt U Minh Thượng, U Minh Hạ, từ những vạt rừng dừa tầng tầng lớp lớp Bến Tre, thốt nốt An Giang, đến những vườn cây trái sum xuê bốn mùa thơm thảo trái chín, sân chim náo nhiệt bản hòa tấu trời xanh miệt vườn Vĩnh Long, Tiền Giang… Tôi như đang trở ngược ký ức của ba má, xuyên không thời gian để trải nghiệm quá khứ, khi hiện tại mọi thứ cứ như đang dần tuột mất trong tầm mắt không chỉ là tính theo năm mà hình như từng ngày từng giờ, tạo nên những vết xước trong tim không hề nhẹ...
Cứ như trải qua nhiều cuộc bể dâu đến xót xa, giống như vết cứa vào tâm hồn càng ngày càng sâu thêm, khi băng qua vùng châu thổ MêKong chỉ thoáng chốc, nhưng “những điều trông thấy mà đau đớn lòng”. Con người chỉ bởi lòng tham và cả sự ngạo mạn trong vai “ông chủ” đã cố tình “uốn nắn” thiên nhiên theo ý và buộc phải phục vụ con người… Chính vì thế mà bao nhiêu gốc tràm, đước bám rễ giữ đất lấn biển, lọc phèn khử mặn tạo nên một miền rừng ngập mặt đẹp như những trang thơ lãng mạn bỗng chốc biến thành những vuông tôm nhân tạo xơ xác cả vùng rừng, để ngay con tôm tự nhiên cũng bỗng nhiên tủi phận mà dần “lặn” mất. Đất châu thổ nặng phù sa Mekong hào phóng cho hai mùa lúa trong năm để làm ra những hạt ngọc trời với những dòng lúa mà giờ phần lớn chỉ còn lưu giữ trong bảo tàng gene với những cái tên cổ tích như nàng tro, ba kiếu, ba trúc, gẫy xe, nanh chồn, châu hàng võ, trắng chùm, trắng lép, huyết rồng.. , để thay vào các loại lúa cao sản mỹ miều Thần nông 73-2, IR64, IR19660, IR42, IR36,  OM 1490, OM 2031, MTL 250, VND 95-20, Khao 39…, tới bốn vụ trong năm. Để không ngừng tăng sản lượng lúa mà đất cạn kiệt sức, bạc màu, nên lại thúc ép đất bằng cách thả xuống hàng triệu tấn hóa chất nhân tạo như một thứ ma túy cho đất, khiến cho đất gần như chai lì, mất cảm giác, cơm từ hạt gạo cao sản không cảm được  hương vị ngọt của đất phù sa.., để thương để nhớ đồng quê mà chỉ thấy càng ngậm ngùi.
Không biết có phải thế mà khi tôi nhìn thấy những gói nhỏ gạo giống lúa Huyết rồng, một giống lúa quý của Ðồng Tháp Mười có cách đây hàng trăm năm, gạo có mầu đỏ và hương vị thơm ngon béo ngậy, đang được gầy giống lại, đã không ngần ngại xẻ ra bốc vài hạt nhai sống, ta nói cái vị ngọt gạo xưa sao nghe thương đến lạ lùng, đến chảy nước mắt vì yêu.
Có một nỗi xúc động đến vỡ òa, khi tôi chạm vào vẻ đẹp lặng lẽ pha chút kỳ bí của rừng tràm Trà Sư thuộc địa phận xã Văn Giáo, huyện Tịnh Biên, An Giang, cách biên giới Campuchia khoảng 10km về phía Tây Bắc và cách sông MeKông khoảng 15km về phía Đông Bắc, với hệ sinh thái điển hình của vùng rừng ngập nước phía Tây sông Hậu, như một khám phá miên man con đường nước màu xanh huyền ảo. Không chỉ cái tên “Trà Sư” vẫn còn đang trong vòng tranh cãi của các nhà ngôn ngữ học, địa lý học, khảo cổ học… tạo nên một vòng huyền hoặc miền này, mà đầy còn là một bức tranh thiên nhiên đầy màu sắc.  
Khi chiếc tắc ráng rẽ những thảm lục bình xanh tiến vào rừng, thấp thoáng đâu đó quanh bờ những tàng cây cổ thụ soi bóng trên mặt nước miên man, những hàng cây uyển chuyển lay mình theo chuyển động của từng con sóng, nối tiếp hiện lên cho tới mãi cuối con đường, nổi bật trên cái nền xanh nướt mát huyền dịu ấy, có đôi lúc bắt gặp những khóm điển điển rực rỡ màu vàng nắng ấm áp, những khóm súng hoa tím mạnh mẽ vươn cao, khóm sen hồng e ấp nụ lấp ló sau tán lá xòe ô, thi thoảng bắt gặp những cánh chim bay liệng trên cao cất tiếnng hót véo von một giai điệu thần tiên diệu vợi, hay vài chú gà lôi đang xòe cánh chộn rộn trong đầm nước, đặc biệt còn nhìn thấy cả giang sen và điêng điểng, hai loài chim quý hiếm trong sách đỏ…, tất cả như những nét chấm phá đầy lạ lẫm mộng mơ cho bức tranh thơ rừng tràm quá đỗi đẹp xinh.
Theo những thông tin được biết thì hiện nay tại rừng tràm Trà Sư với diện tích 850 ha có 70 loài chim thuộc 13 bộ và 31 họ, 11 loài thú thuộc 4 bộ và 6 họ, 25 loài bò sát gồm 2 bộ, 10 họ và 10 loài cá xuất hiện quanh năm và 13 loài chỉ xuất hiện vào mùa lũ, các bộ có số loài nhiều nhất là gặm nhấm (4 loài) và dơi (15 loài), ngoài ra rừng tràm còn là nơi tụ họp của 140 loài thực vật thuộc 52 họ và 102 chi, trong đó có 22 loài cây gỗ, 25 loài cây bụi, 10 loài dây leo, 70 loài cỏ, 13 loài thủy sinh, 11 loài sinh cảnh, 78 loài thuốc và 22 loài cây cảnh, v.v….
Màu xanh của rừng tràm Trà Sư, ở góc nào đó, như  mang đến một niềm hy vọng để tin rằng, miền châu thổ sông Mekong nước Việt rồi sẽ được phủ xanh không chỉ là lúa là rau, là vườn cây trái, mà còn là những khu rừng tràm, đước, mắm, sú vẹt, dừa nước…, giữ đất, rửa mặn thau chua, là những dòng nước phù sa màu đỏ tràn về mùa nước nổi, mà khi tôi khoát một vốc trong rừng tràm Trà Sư thấy sao ngọt đến kỳ lạ, ngọt đến rưng rưng thương.
Nhìn ra xa hơn, những gì miền châu thổ Mekong mà Việt Nam đang trải qua cũng giống như ở Vịnh Chesapeake, sông Columbia, Everglades-South Florida, sông San Joaquin, sông Colorado, sông Mississippi, the Puget South, the Netherlands và sông Po…, sông không hiền như xưa, đất vẫn phập phồng một sớm mai biến theo con nước xoáy, nên vẫn một nỗi lo một mai châu thổ hoang vu, nếu như hôm nay, ngay từ lúc này, không cùng nhau kết vòng tay để yêu dòng sông, thương mảnh đất mình sinh ra lớn lên, nuôi dưỡng các thế hệ dòng tộc trường tồn, bồi đắp làm giàu cho đất cho sông, để cho dù sông có giận hờn chi nữa thì vẫn là sông quê hương làm nên miền châu thổ Mekong hiền hòa, trù phú, ấm áp tình người./.





Mekong Delta 15/9/2019 
Hoài Hương
>> Đọc tiếp…

Về quê - tản văn Hoài Hương

Trời mưa tầm tã, cơn mưa như trận đại hồng thủy biến con đường thành dòng sông... Dòng sông loang dầu nhớt rác rến, và hậu cơn mưa con đường - dòng sông giống bức tranh thời đại chiến. Trên đó là cảnh tranh giành hỗn độn để nhúc nhích từng centimet, cộng với khói và tiếng gầm gào từ động cơ của các kiểu xe hai bánh, bốn bánh...
Quá mệt mỏi bởi một ngày làm việc trong cái hộp khổng lồ mười mấy tầng lầu bít bùng không thấy trời đất, tới giờ được thoát ra lại đụng phải màn chen chúc trên dòng sông - phố. Thôi đành tắt ngang vào cái hộp nhỏ hơn mệnh danh tiệm cà phê dành cho giới “cổ cồn trắng” tìm chút bình yên.
Và bất ngờ... ở cái nơi tưởng chỉ có các giai điệu kiểu “Chat với Mozart” mới được phép, bỗng nghe êm đềm khúc nhạc đồng quê mộc mạc: “Theo anh em thì về... thăm lại miền quê, nơi có một triền đê, có hàng tre ru khi chiều về”(*) Về quê - Ca khúc như tiếng gọi trìu mến đánh thức trong tôi một ước muốn. Thật lâu rồi, tôi không về quê, bao lần biện hộ cho mình - công việc - cái lý do mà bất kỳ ai khi muốn từ chối điều gì cũng vịn vào đó để khỏa lấp tất cả.
Về quê...
Quê tôi nổi tiếng với mỹ danh “Tây đô”, nơi miền gái đẹp, là đất “gạo trắng nước trong”, có dòng sông Hậu mênh mông đem phù sa phì nhiêu màu mỡ nuôi cả một vùng châu thổ trù phú. Về quê... Ra khỏi thành phố, chợt như thấy người nhẹ bỗng, quay hết cửa kính xe xuống cho gió lùa vào mát rượi, mùi xăng dầu bụi bặm cuốn xa, không ồn ào chật chội bức bối nơi thành phố.
Về quê...
Một niềm xúc động dâng trào, là con tim nhộn nhạo chộn rộn như trẻ nít lần đầu đi chơi xa.
Về quê...
Mùa này quê tôi vào mùa lũ, nước lớn, bầu trời đầy mây như chực chờ đổ xuống cơn mưa. Dọc hai bên đường chỉ thấy nước là nước. Những cụm lục bình trôi vùn vụt theo dòng nước xiết, thỉnh thoảng có mấy đám lẻ loi nhỏ nhoi xoáy tròn dùng dằng muốn ở lại, nhưng rồi không cưỡng được với sức nước, cứ trồi hụp mà lao đi.
Bâng khuâng nghĩ về số phận con người, đâu đó thi nhân cũng hay ví von đời người như cánh lục bình ba chìm bảy nổi chín lênh đênh không bờ bến. Mơ màng với mấy cánh lục bình, chưa kịp nhớ được câu thơ nào của ai, lại như một chuyển cảnh đời sông nước, vài chiếc ghe tam bản trên dòng lững lờ buông câu. Phía trước mui, mấy đứa trẻ giỡn chơi tỉnh không như chẳng hề màng tới mối đe dọa ẩn chứa của mênh mông nước.
Và có lẽ mỗi mùa lũ là mỗi mùa thử thách để họ lớn lên, luyện rèn một bản lĩnh đối diện với cuộc đời sóng gió, vững vàng trước mọi chông gai, để tồn tại và mưu sinh trên sông nước... Sông Hậu, bình thường đã thấy mênh mông, vào mùa lũ dòng sông như rộng thêm nhiều lần, nước chảy như xiết hơn. Những cuộn sóng hình như cao hơn, cây cối bên bờ sông xa mờ tít tắp, nhưng dòng sông vẫn mang dáng vẻ hiền hòa, không gợn chút gì đe dọa ai phải sợ.
Có lẽ tất cả những dòng sông đất Việt, không riêng gì sông Hậu quê tôi, đều ẩn chứa trong mình sự dịu dàng êm đềm hiền như lời ru, cho bất kỳ người nào có dòng sông trong tim mình để nhớ, để thương, để quay trở về... Ừ! Chỉ mới xa thành phố có tí xíu, mới chạm vào sông quê mà ta đã thành người khác, mơ mộng, đa cảm...
Về quê...
Tôi được đón tiếp nồng hậu chân tình, tình cảm người miệt vườn chân quê ngọt ngào tròn đầy như chính vị ngọt thơm thảo cây trái trong vườn nhà. Tôi cứ muốn chảy nước mắt vì xúc động. Ơ nơi thành phố dường như tôi đã quên cảm giác ấm áp tình người như thế này. Cũng đúng thôi, ngày nào cũng là sự lặp đi lặp lại một nhịp điệu được lập trình sẵn. Ngay cả câu chào nhau đầu ngày của đồng nghiệp cũng giống công thức vô cảm, và để bù lấp khoảng trống thiếu thốn tình người thì chỉ biết cắm đầu vào màn hình tìm những quan hệ ảo...
Về quê...
Cánh đồng mùa lũ nước đã tràn bờ. Lúa đã được gặt sớm. Vài cụm lúa ma phất phơ như thách thức, nước tới đâu theo tới đó. Sức sống người miền quê y như thế, không có gì làm họ khuất phục được. Lũ con nít trứng gà, trứng vịt đứng trên ghe, xuồng đi học tỉnh rụi như chẳng để nước ngập mênh mông.
Đọc báo, nghe đài, xem ti vi, thấy hoài những tin trẻ con vùng lũ bị chết vì nước cuốn, nay tim cứ thon thót khi nhìn lũ trẻ vô tư hồn nhiên vui đùa trong dòng nước. Có lẽ chúng quá quen voliws mỗi năm con nước đều trở lại, và với chúng cảnh này chỉ là trò chơi mùa nước nổi. Tôi lại thầm liên tưởng tới các em bé “cậu ấm cô chiêu” nắng không ưa, mưa không chịu ở thành phố. Chẳng xa mấy tí khoảng cách địa lý nhưng lại thấy vời vợi đến bao tầm. Tương lai... biết đâu chừng lũ trẻ miền quê sông nước này sẽ cứng cáp hơn người thành phố.
Buổi trưa hừng nắng, một con nắng hiếm hoi vào mùa này khi mà những cơn mưa trắng trời mù đất “ông tha-bà không tha” liên tục trút xuống dâng nước tràn bốn bề, ánh nắng đổ xuống tàn cây tan ra từng mảnh biến thành từng cụm hoa nắng in trên mặt đất ẩm...Tôi tha thẩn ra dòng sông nhỏ là nhánh chính của sông mẹ - sông Hậu, ngắm sông mông lung nghĩ vẩn vơ. Ô rô, cóc kèn, dừa nước lùm xùm xanh rì hai bên bờ.
Đâu đó xa xa nghe giọng hò, rồi tiếng nước lõm bõm, tiếng hát gần hơn, một chiếc xuồng ba lá như chui ra từ đám dừa nước. Trên mũi xuồng, một dáng thôn nữ áo bà ba, nón lá, rất đặc trưng của quê tôi, vừa khua mái chèo vừa hò hát tự nhiên. Chiếc xuồng lướt qua, tôi nhận được nụ cười duyên đẹp đến xao động, và không khỏi buột miệng: “Ồ, bông điên điển”.
Chiếc xuồng chở đầy thứ bông - một loại “rau” đặc sản mùa lũ miền sông nước Tây Nam Bộ. Bông điên điển nấu canh chua tôm, bông điên điển làm dưa ăn với cá kho tiêu, bông điên điển ăn sống với mắm kho... Thèm nhiểu nước miếng, ở thành phố làm sao có được để thưởng thức.
Nghĩ tới ăn uống, không thể quên chợ nổi ngã bảy Phụng Hiệp, mùa này cơ man là rắn. Từng nghe ngoài Hà Nội có làng Lệ Mật nổi danh rắn “danh bất hư truyền”, nhưng so với nơi đây không thấm tháp. Rắn phải tính bằng “tấn”, chứ không tính “con”, đủ chủng loại, màu sắc, kích cỡ... Ai yếu gan không nên đi chợ này bởi chỉ nhìn đã run cả người. Thịt rắn ở đây dưới bàn tay phù phép của các bậc “dao - thớt” có thể chế thành hàng trăm hương vị khác nhau, đến cả vảy da rắn còn biến thành món “chiên xù giòn” cho dân nhậu lăn lóc quên chết...
Về quê...
Sân chim chỉ cách nhà nội tôi mấy vuông đất, một thế giới bay bổng của giai điệu từ những cư dân bầu trời, nơi bình yên của những tổ ấm xinh xinh ẩn trong lùm cây trái. Chiều về, khi nắng dần tắt hắt màu hồng tím lên mặt nước sông, từng đàn chim như những mũi tên nhỏ vạch vào khoảng không, và  vẽ vòng tròn nghiêng dần xuống...  rồi mất hút trong vòm lá, chỉ còn nghe tiếng líu ríu vui tai.
“Đất lành chim đậu”, ở nơi này có lẽ không ai có thể nghĩ tới điều ác, mà những kẻ ác cũng dễ thành hiền lương. “Giấc mơ ông lão vườn chim”, lan man nhớ tới tác phẩm của nhà văn Anh Đức. Ngày xửa ngày xưa khi bom đạn cày xới vùng đất này, ông lão vườn chim chỉ ước mơ một ngày bình yên không bom đạn khói súng, cho lũ chim bay về làm tổ... Còn hôm nay, bình yên, không tiếng bom tiếng súng, nhưng Ông lão chủ sân chim cười buồn buồn với tôi khi hỏi: “Ông mơ gì?”. “Cô ơi, tôi chỉ mong người ta tha cho lũ chim, đừng biến chúng thành đặc sản trên đĩa trên bàn, tội lắm”... Thời nay, cái gì cũng trở thành “đặc sản”, đến côn trùng sâu bọ còn được bày lên thành “mỹ vị” nói gì lũ chim chóc non tơ hấp dẫn này. Cảm thông nỗi buồn của ông lão, chia sẻ nỗi lo của ông mỗi chiều ngầm đếm xem có thiếu đàn nào...
Nếu như tôi cũng có một giấc mơ, tôi mơ mang được tiếng hót và những cánh chim trời này về thành phố.
Về quê...
Ngọt ngào, ấm áp, đầy ắp cảm xúc tình người, tình đất, tình quê, những món quà tặng mộc mạc chân tình mà thấm đẫm tràn trề như sông nước. “Theo nhau ta thì về, nơi mẹ đưa nôi, nơi sáo diều chơi vơi, có dòng sông bên lở bên bồi... Nơi bền lâu là nơi thâm sâu, thiếu quê hương... ta về đâu...”(*).
Giai điệu tha thiết âm vang trong tôi, lời hẹn...
Về quê...
Về quê...



Hoài Hương

__________________________________________
(*)Trích ca khúc “Về quê” của nhạc sĩ Phó Đức Phương
>> Đọc tiếp…