Home » Phạm Thị Mỹ Liên
- Trang chủ
- |
- Giới thiệu
- |
- Quy ước
- |
- Tác giả
- |
- Thư ngỏ
- |
- Lá thư Bông Tràm
Tác phẩm kỷ niệm 10 năm hoạt động của Bông Tràm, có sự góp mặt của 50 tác giả với trên 100 tác phẩm. Sách dày 312 trang, khổ 13 x 19 cm, giá 100.000 đồng.
Rét cuối đông, bầu trời đùng đục lúc sáng lúc tối. Cái khô hanh của thời tiết chuyển mùa như nhắc nhở mọi người năm cũ dần trôi qua năm mới sắp đến. Tết đến xuân về, những kỉ niệm tết tuổi thơ trong mỗi người lại ùa về như một thước phim với miên man nỗi nhớ. Những cái tết không thể nào quên một thời thơ ấu. Tôi lên chuyến tàu không khứ hồi đến với thế giới người lớn đầy chật chội và vội vã. Để rồi khi mùa xuân ghé qua, bất chợt quay đầu nhìn lại những năm về trước thấy dòng chảy thời gian đang lặng lẽ cuốn trôi nhiều thứ. Tết trong mắt những đứa trẻ thuở ấu thơ ấy ngỡ vừa mới hôm qua hóa ra đã xa vắng mất rồi
Cuộc
đời của chúng ta sẽ lên rất nhiều chuyến xe. Chuyến xe của sự trưởng thành.
Chuyến xe đi đến một thành phố khác cùng với bao hoài bão và ước mơ. Hay có cả
những chuyến đi để trở về quê cũ sau nhiều năm xa cách. Nhưng chỉ có một chuyến
xe mà mãi mãi chúng ta không bao giờ đi được, đó là hành trình trở về tuổi thơ,
trở về những năm tháng với những kí ức trong trẻo và ngô nghê.
Tuổi
thơ của mỗi người là những khoảng trời khác nhau. Đó có thể là là những miền kí
ức trong trẻo như những giọt sương sớm mai hay có những người sống trong một tuổi
thơ không được như ý muốn. Nhưng tất cả suy cho cùng dù có đi đâu hay về đâu, mỗi
người trong chúng ta vẫn nhớ về những năm tháng kí ức ấy, những năm tháng đã dạy
chúng ta rất nhiều điều quý báu.
Chúng
ta đều luôn muốn trưởng thành thật nhanh, bởi chúng ta chưa biết cái giá phải
trả cho sự trưởng thành. Bước vào thế giới người lớn rồi
mới hiểu, có những điều tưởng chừng dung dị bình thường lại quý giá đến như vậy.
Tháng Chạp gọi những cơn gió xuân hây hẩy trở về, mang theo bao ước vọng của một
mùa đầu năm mới, của cái Tết cổ truyền đang cận kề. Những người con xa quê
hương chưa bao giờ như ngay lúc này lòng cứ chộn rộn, xao xuyến, bồi hồi một cảm
xúc khó tả. Lòng lúc nào cũng hướng về Tết.
Ngày
còn bé, Tết đơn giản chỉ là dịp được mặc những bộ quần áo mới, phẳng phiu và đẹp
đẽ; Tết được nhận những phong bao lì xì đỏ thắm; Tết được đi chơi mà không phải
học bài… Những cái Tết quê có thể gọi là xưa ấy, tuy còn túng thiếu nhiều về vật
chất, song về mặt tinh thần thì rất vui vẻ, ấm cúng, hạnh phúc. Thích nhất là
đêm giao thừa được xem đốt pháo. Những tiếng nổ to, nhỏ đì đùng trong đêm giao
thừa tiễn năm cũ đi, chào đón năm mới đến với bao mong ước, khát vọng trong
lòng vẫn còn như mới tinh.
Còn
khi lớn lên, dường như sắc màu của Tết cũng trở nên phức tạp và ồn ào hơn. Có
bao giờ bạn ngồi thừ hàng giờ đồng hồ mà không biết rằng, rốt cuộc một năm qua
mình đã trở thành ai trong cuộc đời này? Rốt cuộc thì đến cuối cùng bản thân mong
muốn điều gì? Những câu hỏi tưởng chừng đơn giản ấy nhưng không phải ai cũng
tìm được đáp án trọn vẹn.
Về với Tết là về với những gì thân thuộc bao năm
ta lớn lên từ thuở bé thơ cho đến khi trưởng thành xách va li rời quê lên tàu.
Xuân quê nhà đang đón ta bằng tiếng chim hót chào bình minh réo rắt, tiếng chó
sủa inh làng inh xóm, tiếng gà trưa tao tác nao nao… Về với Tết để được sống lại
khoảnh khắc không khí Tết quê xưa ta quây quần, dẫu giàu hay nghèo nhưng hạnh
phúc đầm ấm vô cùng. Về với Tết, về với phiên chợ quê mẹ dắt ta đi giữa không
biết bao nhiêu người xa lạ. Ôi nhớ làm sao, chiếc bóng bay tai thỏ màu đỏ là
món quà Tết tuổi thơ của ta luôn háo hức. Bát bánh đúc nóng hôi hổi cuối chợ
làm lòng ta rạo rực, thèm thuồng. Những con tò he xanh xanh đỏ đỏ - món quà Tết
tuổi thơ mà bất kể đứa trẻ nào cũng thích.
Chúng
ta mong mình lớn thật nhanh để vẫy vùng ngoài biển lớn cuộc đời, đi qua những
dãi dầu mới thấu: Hóa ra, ngày bé vô tư, thoải mái vui cười vì đã có người gánh
vác hết phần nặng nhọc và sầu thương; hóa ra những bình yên thuở ấy được đánh đổi
bằng mồ hôi, nước mắt của bố mẹ.
Hình
như năm nào, khi mùa xuân bắt đầu gõ cửa bằng sắc hoa đào phớt hồng, bằng chút
mưa bụi không đủ ướt áo, tôi cũng đau đáu nhớ về những vị Tết thơ ấu. Mà chắc
có lẽ, ai trong chúng ta, khi đã trưởng thành rồi đều “chỉ mong bé lại”. Nếu có
chuyến tàu không vé khứ hồi quay lại năm tháng cũ, bạn liệu có đặt chân phiêu
du?
Tôi
nhớ nhiều về những phiên chợ xưa, khi cuộc sống không vội vã và phồn tạp như
bây giờ. Thuở ấy, mẹ dắt tay đi chợ trên con đường ngoằn ngoèo sỏi đá, cổng chợ
đơn sơ với những mái lá lợp tạm bợ. Nhưng không vì thế mà niềm vui Tết nhạt
màu. Chợ vẫn đông đúc, tiếng người cười nói rôm rả, tiếng lạch cạch vận chuyển
hàng hóa…
Quay
vào gian bếp ngày xưa bám đầy bồ hóng, vẫn như bóng dáng mẹ già lui hui bên bếp
củi ấm nóng tro than. Những nồi, niêu, xoong, chảo sắp xếp gọn gàng bên giàn;
những chiếc kiềng, chiếc gióng treo được cất đặt tinh tươm. Trên gác là những
nong, nia, thúng, mủng, dần, sàng nằm nghỉ ngơi sau khi cùng cha mẹ hoàn thành
mùa vụ. Là chiếc cặp lồng cha mang về từ thuở chiến trường thường được mẹ đựng
thức ăn đem lên đồng trong ngày mùa. Quá khứ òa về trong niềm thương nỗi nhớ
khiến ai xem cũng không khỏi mủi lòng.
Dường
như những sắc màu hòa lẫn cùng thanh âm tạo nên một bức tranh rất riêng, mà mãi
sau này, dù đến nhiều nơi, tôi vẫn chẳng thể tìm thấy dáng hình thân thương như
ngày xưa cũ.
Tết
ấu thơ còn là dư vị bánh chưng xanh, thơm nồng và ấm áp. Cha luôn gói cẩn thận
thêm một chiếc bánh nhỏ để cho chị em tôi được thưởng thức trước. Với tôi, chiếc
bánh chưng nhỏ nhắn ấy là món quà yêu thương mà cha tôi đã làm bằng tất thảy sự
chân thành, bởi bao giờ nó cũng vuông vức và đẹp đẽ.
Nhắc
về những mảng màu từ phía xa vãng ấy, có lẽ dù có bao nhiêu ngôn từ ký tự cũng
chẳng thể diễn tả trọn vẹn. Xin lưu lại những ký ức ấy vào một góc sâu trong
trái tim, để nhớ, để thương…
Nhưng
lạ thay, suốt những năm tháng về sau, dù đã quen với máy móc của văn minh, với
những chuyến xe khách tiện nghi ngược xuôi, vậy mà lòng tôi vẫn đau đáu với ký ức
chuyến tàu Tết về quê đầu tiên trong đời mình. Thế giới chòng chành lắc lư
trong những toa tàu bụi bặm, mùi gỉ sét của gờ sắt cũ trên cửa sổ lưới, ghế gỗ
sơn phết mộc mạc… cứ khắc sâu trong tâm trí. Tất cả mãi không thể tan đi.
Tôi
vẫn lên tàu trong một buổi đêm lạnh giá. Cái thế giới làng quê quen thuộc lướt
đi bên ngoài. Những rẫy mía, vườn chuối, nhà tranh vách đất sát đường tàu… dần
nhỏ lại rồi bị đoàn tàu bỏ lại phía sau. Tôi nghe tim mình nhảy nhót theo nhịp
xình xịch của bánh sắt. Tôi cảm nhận sự lắc lư và sức néo giữ thăng bằng của những
khớp toa kết nối. Tôi nghe tiếng xé gió phàng phàng trong đêm đông se sắt. Tôi
nghe mùi làng quê váng vất trên những mái tranh quê theo gió lồng lộng phả vào
toa tàu.
Lớn
lên rồi, tôi có thể mường tượng ra Tết không chỉ có niềm vui, nó còn là nỗi lo
toan, trăn trở cơm áo gạo tiền cho những người có hoàn cảnh khó khăn. Tết là nỗi
bận rộn, áp lực của người lớn, nỗi nhớ nhà day dứt của những người sống xa quê
hương và thèm lắm một cái Tết tuổi thơ mà không biết bao giờ mới có lại được. Dẫu
cho Tết tuổi thơ bây giờ với tôi đã xa xôi diệu vợi lắm rồi, nhưng tôi vẫn mong
ngóng đến Tết. Tôi sẽ có dịp leo lên chuyến tàu ký ức quay về với tuổi thơ, nơi
có khoảng trời trong trẻo với những mảnh ký ức hồn nhiên mà tôi đã trân quý góp
nhặt. Cứ rẽ vào ngõ, bước vào nhà gọi mẹ, tôi như bỏ lại hết những năm tháng chật
vật kiếm sống ở sau lưng. Khi đó mới thấy, chỉ có quê hương, chúng ta mới có những
ngày Tết nồng nàn đến thế.
Phạm Thị Mỹ Liên
Mùa xuân là mùa của lễ hội, mùa của những thi nhân ghép chữ gieo vần, mùa của những lời ca tiếng hát vui tươi rộn rã, mùa của yêu thương, mùa của đất trời chuyển mình đón nhận thời khắc chuyển giao…
Trong các mùa trong trong năm, mùa xuân luôn là mùa đẹp nhất. Mỗi khi xuân về những cơn gió cứ thổi xôn xao làm
lòng người xao xuyến bâng khuâng khi nghĩ về những giờ phút sum họp gia đình.
Mùa xuân, không chỉ là muôn hoa đua nở mà
màu nắng của mùa xuân cũng lung linh óng ả tràn trải khắp muôn nơi, làm cho
khung cảnh đất trời cũng đẹp và thơ như một bức tranh. Trong lòng của những đứa
con xa quê mỗi khi Tết đến Xuân về có rất nhiều nguyện vọng, khao khát. Tôi
nhớ lúc còn nhỏ cứ mong đến Tết vì nào mứt, nào hoa, trái rồi kiệu dưa, thịt muối…
Nhìn vào những việc mẹ tôi đang làm thì lại cảm nhận xuân sao giản đơn hơn nhiều.
Từng chiếc mùng, mền, chiếu, vỏ gối được mẹ cuộn tròn mang lên mương nước gần
nhà để giặt sạch rồi những chiếc áo, quần đã ngả màu nhưng vẫn được mẹ chăm chút
thật kỹ. Hương xuân với tôi là mùi thơm của nắng quyện trong từng chiếc mền,
chiếc chiếu vỏ gối trong những ngày cuối năm.
Ngoài việc dọn dẹp, giặt giũ đồ đạc,
trang hoàng nhà cửa cho tươm tất thì việc mà chị em tôi mong chờ nhất chính là
nấu bánh tét trong đêm giao thừa đón năm mới. Tàu lá chuối được mẹ phơi héo,
róc ra lau khô để đem gói bánh. Chiều về chị em lại quây quần vừa xem bố gói bánh
vừa giúp bố cột lạt, nhìn những đòn bánh tét – thành quả của cả nhà lòng lại
nao nao khó tả. Ánh lửa chiều cuối năm với những làn khói lãng đãng tạo nên không
gian đầy ắp tết. Có lẽ đối với những ai xa quê không kịp quay về sẽ nhớ quay quắt
những hình ảnh bình dị thân quen mà đầy ắp yêu thương. Hương nắng xuân lại được
cuộn tròn trong đòn bánh tét với một chút bâng khuâng chiều cuối cùng của năm.
Một mùa xuân nữa lại về trong lo âu, tất
bật. Làn gió vẫn cứ reo vui trêu đùa cùng muôn hoa khoe sắc. Nắng vẫn trải vàng
khắp cánh đồng quê ánh lên màu vàng của hoa cải. Những cánh mai vàng bắt đầu chúm
chím lúng liếng môi cười chào đón nắng Xuân. Hương xuân len trong từng con phố,
hương dịu dàng cùng cánh đồng quê, trải thảm vàng trên các cành cây ngọn cỏ dù
ngoài kia biến động còn rất nhiều.
Một năm đầy những biến cố với bao nhọc nhằn,
lo toan và cả những giờ phút căng thẳng với bao muộn phiền suy nghĩ. Khi bước
sang năm mới thì chúng ta hãy dang rộng vòng tay mà đón niềm vui phân khởi của
mùa xuân, tin tưởng tương lai tươi sáng cùng ánh bình minh của ngày đầu năm. Hương
xuân lại thấm đẫm trong ước vọng của bao người.
Tôi như được bé lại để cảm nhận được hương xuân trong mùi thơm còn bám trên chiếc mền mẹ mới vừa giặt. Hương xuân trong ánh lửa bập bùng, réo sôi của nồi bánh tét. Hương thời gian nhuốm vàng hoa cải dọc triền sông, ủ hơi trong hương lúa ngọt ngào. Hương xuân chúm chím trong nụ mai trước ngõ, bâng khuâng lòng những ngày đầu năm. Với tôi xuân thật bình dị nhưng vẫn có một nguồn hạnh phúc lan tỏa trong lòng khi được về với mái nhà thân yêu.
Hương nắng mùa xuân vừa mang gì qua ngõ? Xuân mang theo làn gió reo vui, nắng trải vàng, hoa mai vàng lúng liếng môi cười chào đón xuân sang. Mùa xuân của tôi là hương thơm của nắng còn bám trên chiếc mền mẹ mới phơi xong. Bên ánh lửa bập bùng réo sùng sục của nồi bánh tét. Ánh mắt nụ cười đôn hậu của ông bà. Nụ cười rạng ngời của ba mẹ. Với tôi xuân thật bình dị nhưng lại là một nguồn lan tỏa hạnh phúc khi được trở về bên mái nhà yêu thương cùng những vòng tay chào đón. Hạnh phúc là khi sớm mai tỉnh giấc, đã thấy cả không gian sáng rực màu vàng tinh khôi, trong vắt của nắng. Cái nắng non tơ màu mỡ gà sau chuỗi ngày mưa dầm dề khiến con người cảm thấy thoải mái, dễ chịu. Nắng xuyên qua khe cửa, chiếu lung linh trên cành hoa mận nở muộn.
Nắng xuân đánh thức cỏ cây, hoa lá, muôn
loài. Từng giọt nắng nhảy nhót trên búp bàng mới nhú xanh như nghìn ngọn nến,
hong khô thân gỗ ẩm ướt, mốc meo bởi mưa dầm. Nắng phản chiếu sắc vàng rực rỡ của
những chùm hoa đậu biếc vừa hé nở bên tường rào. Nắng rập rờn trên những cánh
bướm bay lượn giữa vườn hoa cải cúc. Cây mộc trước thềm nhà dệt tầng tầng lớp lớp
những bông hoa tí xíu trắng ngà trên nền lá xanh biếc, phả vào không gian làn
hương vani ngọt ngào quyện lẫn mùi chuối chín. Nắng lấp lóa những chùm hoa bưởi
trắng bông nở bung như bỏng ngô, tỏa hương thơm ngát. Nắng vờn trên đám hoa dại
li ti sắc màu rực rỡ mọc tràn hai bờ cỏ. Nắng trải ra mênh mang khắp cánh đồng
lúa đang thì con gái, cho xanh óng thêm những ruộng lạc, ruộng ngô. Dưới đầm,
những búp lá sen non bắt đầu vươn lên, mở xòe đón nắng. Nắng xuân lên làm lòng
người hân hoan phấn khởi. Bà ra sân hái nắm trầu vài quả cau, hương trầu cay
thơm nồng trong nắng xuân. Bọn trẻ con sung sướng chạy nhảy, nô đùa trước khoảng
sân ngập nắng. Mẹ tranh thủ ngày nắng ráo làm vài hủ kiệu hay những món mứt quê.
Bố lại ra đồng thăm thú cây cối thế nào. Ông tỉ mẩn cắt tỉa những cành mai, để
mùa xuân tới thêm sai nụ, thắm hoa.
Đi qua những ngày mưa, càng thấy yêu hơn
những ngày nắng tươi rực rỡ. Nắng xuân luôn biết thay đổi mình để trở nên trẻ
trung, sôi nổi. Nắng luôn gợi lên trong lòng người những cung bậc cảm xúc rạo rực,
hân hoan
Đôi khi,
nắng xuân mang đến cho ta thật nhiều chiêm nghiệm. Nếu như năm cũ gắn liền với
hồi kết của mùa đông thì năm mới bắt đầu từ mùa xuân dệt vàng nắng ấm. Đúng hẹn,
nắng xuân trở về hâm nóng những tháng ngày hắt hiu, ủy mị, để ta biết nâng niu
những khoảnh khắc ngọt ngào nồng ấm, để ta thấy rằng cuộc sống đẹp tươi. Lại một
mùa xuân chạm bước khẽ khàng… Buổi sáng bước ra đường, thấy nắng mới thổn thức
đặt nụ hôn thắm nồng lên má hồng cô thiếu nữ hàng xóm mà bỗng thấy lòng bâng
khuâng khó tả. Đâu đây, nhịp đập yêu thương đang rung lên rộn ràng trong nắng sớm
mùa xuân!
Phạm Thị Mỹ Liên
Từ lâu, chiếc rổ tre là vật dụng quen thuộc của nhiều người.
Trong góc bếp nhỏ của mỗi gia đình thuở xưa luôn có một vài chiếc rổ tre, để
rồi những buổi chiều yên ả trong lúc chuẩn bị buổi cơm chiều bên chiếc rổ tre
bình dị ấy đã gợi lên những ký ức ngọt ngào cho biết bao người về một miền quê
thanh bình.
Ảnh Internet
Ở miền quê đất rộng nhà thưa cây cối tre trúc đua nhau mọc thành những bụi lớn. Từ thuở khai hoang lập làng người nông dân đã biết tận dụng nguồn liệu từ trong thiên nhiên để làm vật dụng trong sản xuất nông nghiệp và trong sinh hoạt thường ngày. Các đồ dùng được làm từ những nguyên liệu sẵn có trong thiên nhiên: thúng, mủng, nia, bội, rổ… Ông cố, ông nội, ba tôi đều biết làm hết từ khi còn nhỏ. Ông nói ông biết làm từ thuở nhỏ: người trước truyền cho người sau, người sau truyền cho người sau nữa nên việc đang rổ đã nối tiếp bao đời ông cũng không còn nhớ rõ.
Tưởng công việc dễ làm nên tôi cũng cầm cái đòn kê lẽo đẽo ra sau hè xin ông cho làm thử. Ông dùng miếng mo cau quấn vào ngón trỏ để khỏi bị nan cắt đứt. Nội bảo dù là người thợ làm nghề vẫn bị khứa vào tay một vài lần khi vót nan, nên cẩn thận vẫn hơn. Nội nói khâu vót nan là khâu quan trọng nhất, mất nhiều thời gian nhất vì phải vót hết pần ruột tre mà vẫn giữ cho phần vỏ tre không bị gãy mà có độ dẻo để khi đan nan tre dễ luồn vào vỉ.
Ngày xưa việc mua bán trao đổi chưa nhiều công việc đan rổ tre của xóm làng chưa phải là một làng nghề nhưng lại gắn bó được nhiều thế hệ của những gia đình trong xóm. Tuổi thơ của lũ trẻ cũng vì thế mà được ươm mầm, gắn kết với nhau. Ngôi quây quần cùng các ông, các bác, ba để xem cách đan để học hỏi và thực hành trong tiết học kỹ thuật ngày xưa. Nan tre sau khi đan thành tấm sẽ được đem đi phơi nắng đến khi héo vỏ xanh của nan để nan dẻo, bền, chắc hơn. Không có một thước đo, khuôn khổ nào cả nhưng những chiếc nan đan vào nhau có khoảng cách thành những ô vuông đều nhau, đẹp mắt. Công việc này tập cho tôi tính kiên nhẫn và hiểu được giá trị đoàn kết trong một tập thể. Một nan tre thì yếu đuối mỏng manh nhưng khi được đan vào những nan tre khác kết chặt lại thì tạo ra một sản phẩm có độ bền chắc, dẻo dai.
Chiếc rổ tre rất thông dụng trong đời sống sinh hoạt hằng ngày của người dân quê tôi. Một thời gian dài chiếc rổ tre hiện diện trong đời sống của người dân nên hình ảnh của nó đã trở thành hình ảnh thân quen và in sâu trong kí ức của bao người. Kí ức về chiếc rổ tre trong tôi không chỉ là một đồ dùng trong góc bếp mà là một món đồ đã đi theo ông tôi hơn nữa cuộc đời. Từ khi ông còn trẻ đã biết tự tay đan những chiếc rổ xinh xinh, cái nhỏ dùng để đựng rau, cái lớn dùng để đựng chén bát, cái tí hon bà dùng đựng kim chỉ. Những lúc nông nhàn ông còn đan để lại cho những người hàng xóm, thêm nguồn thu nhập.
Với tôi chiếc rổ trẻ còn gắn với những kỉ niệm hồn nhiên trong kí ức khi cùng chúng bạn đi bắt cá, xúc hến, hái rau, mót đậu phụng, Những hôm xúc cá, người lấm lem bùn đất, đầm mình trong nước, giật tung những đám cỏ, khuấy động cả một góc trời quê. Tiếng nói cười rộn rã khi cả bọn bắt những con cá lia thia đủ màu sắc bỏ vào ao, hồ cá. Bọn trẻ làng quê cũng hay thiệt lặn ngụp, nghịch ngợm cả ngày cũng chẳng sao cả. Dương như cơ thể đã quen dần với mùi bùn non, dòng nước mát của đồng ruộng, con mương quê nhà mà trở nên rắn rỏi. Những bữa cơm chiều vì thế cũng mặn mà theo.
Theo nhịp độ phát triển của xã hội hiện nay, hàng hóa sản xuất bằng máy móc hiện đại. Nhiều mặt hàng nhựa ra đời, người tiêu dùng dễ dàng mua một chiếc rổ với màu sắc kiểu dáng mà mình thích. Cửa hàng bán rổ tre ít dần và hiếm hoi giữa lòng thành phó nhộn nhịp.
Dẫu chiếc rổ tre chỉ còn là một phần nhỏ trong cuộc sống của mọi người nhưng những làng nghề truyền thống vẫn còn tồn tại vực dậy, bên cạnh những mặt hàng khác chiếc rổ tre vẫn có một chỗ riêng của mình. Có lẽ trong góc nhỏ của tâm thức mỗi người chiếc rổ tre vẫn mang nét bình dị của quê hương mà không có gì có thể thay thế được và đâu đó trong những góc bếp của quê nhà chiếc rổ tre vẫn hiện hữu như kỉ vật để gợi lên trong mỗi chúng ta về một miền quê yêu dấu.
Phạm Thị Mỹ Liên
Con Ngọc mặc đồ cũn cỡn, cái áo lòi cả lỗ rốn, cái quần không còn chỗ nào ngắn hơn nữa đi ngang qua chỗ mấy ông đang ngồi nhậu trên bậc thềm nhà dì Tư. Thằng quỷ nhỏ Liêm ngắm mãi bộ ngực tròn đầy của con Ngọc uống hết ly rượu mà nói vọng ra, chẳng nhằm vào ai cả:
- Nhìn mà chảy nước miếng á hì! Rót cho tui ly nữa na Hải quắn.
Con Ngọc quay quắt lại, sưng xỉa với thằng Liêm:
- Cái đồ mất nết, của bà thích thì bà khoe chứ mắc chi rứa, coi chừng bà đó nghen.
Thằng Liêm giận quá, đứng bật dậy, lớn giọng:
- Ê cái con nhỏ kia, mày nói ai mất nết? Coi chừng tao đó nghen!
Con Ngọc cũng không vừa, trả treo lại: Tui có réo tên ai ra nói mô, tự dưng vơ vô mình rồi tức, coi chừng đột quỵ đó!
Mọi người trong bàn nhậu can ngăn không thì có cuộc chiến đã xảy ra. Thằng Liêm đưa ly rượu dứ dứ về phía con Ngọc như dọa dẫm: Mọi người không can là tao trị cho mày cái tội hỗn xược rồi. Con Ngọc nghe vậy quay quắt, vênh mặt lên thách thức:
- Có ngon thì nhảy ra, chưa biết ai xấu mặt đó nha!
Dì Tư thấy tình hình căng thẳng nên chạy ra khuyên con Ngọc nói bớt đi một câu có chết ai được đâu, đi đâu cho khuây, trách gì mấy đứa đang nhậu. Trong bàn nhậu vẫn có những người lớn tuổi mà.Trước khi quầy quả bỏ đi con Ngọc còn trừng mắt với thằng Liêm “Nể dì Tư tui bỏ qua đó nghen, chứ ông coi chừng tui đó, tui hổng sợ đâu mà hù với dọa”. Thằng Liêm định nhấp người đứng lên nhưng chú Năm lừ mắt nên nó im re, tức anh ách.
Chuyện đơn giản chỉ có vậy thôi nhưng sáng hôm sau, tại quán cà phê cóc ở đầu phố của Bác Thìn “tám” thì tiếng chị Nga bán bánh mì: “Chiều hôm qua, thằng Liêm ghen với thằng bồ mới của con Ngọc, nên hai đứa đánh nhau một trận tơi bời”. “Mô tui lại nghe nói, con Ngọc chọc tức thằng Liêm, con gái mà đanh đá quá có ai ưa mô”, chị Tâm “nail” cũng chen vào. Bác Thìn cũng nói vọng ra từ sau quầy: “Mà hình như là thằng nhỏ thích con đó thiệt rồi, chứ mắc chi ngứa mắt mà lên tiếng rứa hè”. “Ủa chứ ren tui nghe nói thằng nhỏ đòi hôn con Ngọc nên mới bị ăn bạt tai á mà” Thím Ba Nghị giả giọng người thuyết minh chen ngang làm cả quán phải phì cười.
Chỉ một chuyện nhỏ đó thôi mà cả phố rộn ràng bàn tán xôn xao. Đi đâu cũng cái đề tài đó. Nghĩ lại nhiều khi cũng thấy vui. Chị ba Nhạn đang uống cà phê bàn bên cũng góp vui cho tiết mục này: “Tình trong như đã mặt ngoài còn e” rồi phe phẩy quạt, lim dim đôi mắt.
Thằng Chính đang ăn mì ở quán bên cạnh của bà Chín, nghe mọi người bàn tán về anh trai của mình, chưa kịp trả tiền vội vàng vọt lên xe chạy ra chỗ làm của Liêm để gặp anh trai của mình. Liêm đang đẩy xe cát chuẩn bị trộn hồ thì thằng Chính sấn đến, hỏi cộc lốc: “Chứ chiều hôm qua rãnh rỗi sinh nông nỗi hay sao mà lại đi sàm sỡ cái con Ngọc đó rứa?”. Thằng Liêm trừng mắt nạt ngang: “Tao có làm gì đâu mà mi nói sàm thế!”. Thằng Chính xẳng giọng lại: “Hổng có sao đi đâu em cũng nghe người ta đồn rần rần lên thế? Không có lửa thì sao có khói được!”. “Họ nói mặc xác họ, tao không làm là tao nói không làm. Mày tin anh mày hay tin mấy bà “tám” của phố, chưa biết chi đã sớn xác bình loạn… tùm bậy…”. Thằng Chính gằn giọng với anh: “Sao người ta không nói chú Hạnh, chú Chung, hay anh Hải “quắn”… Bàn nhậu thì đông mà sao…”. “Mày đi hỏi mấy con mẹ nhiều chuyện kia kìa, sao lại hỏi tao, tao có biết mô!” Liêm tức tối đáp lại. “Lớn đầu rồi mà làm chi chẳng chịu suy nghĩ, đừng để nhà mình mất mặt đó nha! Ai không chọc lại chọc cái con Ngọc dở hơi hay là…”
Bỏ dở câu nói thằng Chính rồ xe chạy mất hút, không để cho Liêm được nói lời nào. Thoáng chốc, chỉ còn là vệt khói màu đen. Liêm chợt thấy hụt hẫng, trống rỗng, cúi gằm xuống tiếp tục công việc của mình. Bố mẹ qua đời sớm, chỉ có hai anh em nương tựa vào nhau cho đến bây giờ, biết thằng Chính rất thương mình nên mới vậy. Nó biết anh nó hi sinh cuộc sống cho nó rất nhiều dù bản thân học rất giỏi…
*
Chưa lắng chuyện “tình tay ba” của thằng Liêm thì đến anh Hùng Kỳ. Hai vợ chồng có với nhau thằng Phúc. Anh cần cù chịu khó lắm nhưng cái nghèo chẳng thể buông tha. Sáng Chủ nhật khi mọi người còn say giấc nồng thì anh hớt hãi chạy quanh phố. Sáng ni thức dậy, anh Hùng chỉ thấy thằng Phúc nằm bên cạnh, còn vợ đâu mất tiêu. Tưởng vợ dậy sớm đi đâu đó, anh chờ mãi, chờ mãi mà không thấy về. Anh chạy đi kiếm khắp nơi nhưng tin tức người vợ mà chú yêu thương nhưng chẳng thấy đâu. Đến tám giờ tin tức ấy lại loan truyền một cách nhanh chóng. Tại quán cà phê cóc, chị Ba Nhạn là người châm ngòi đầu tiên: “Con vợ của lão Hùng đã theo trai rồi mọi người nghen”. “Tui nghe nói là do ông Hùng đánh bả nên bả tức nên khuôn gói bỏi về quê ngoại” Chị Tâm “nail” cắt lời chị ba. “Hôm trước tui đã nghi nghi vì nó được đưa đón bằng ô tô ở chợ”. Chị Nga từ nãy đến giờ vẫn im lặng, trầm ngâm suy tư không lên tiếng, vì chị hiểu vì sao vợ anh bỏ đi… Câu chuyện chưa có hồi kết thì chị Nga lái câu chuyện sang câu chuyện của chú Kiện: “Tính ra đàn ông phố mình chung tình nhưng trắc trở trong đường tình duyên, chứ chú Kiện đó kìa, vợ anh Hùng biết đâu chị đi đâu đó rồi sẽ về”. Thế là câu chuyện bị vợ bỏ lại nóng hổi dù chuyện đó đã xảy ra cách đây gần hai mươi năm. Chú rất chung tình từ đó đến nay vẫn quay quắt nỗi nhớ vợ. Chú Nguyên Đen đã bao lần giới thiệu nhiều mối để chú đi bước nữa nhưng chú lại từ chối. Gần hai mươi năm rồi, chưa có ngày nào chú quên dõi mắt nhìn dáo dác vào đám đông, hay những người phụ nữ có cái dáng hao hao vợ mình. Tìm vợ không được, chú đâm ra hận đàn bà, hận một cách cực đoan. Dù vậy chú vẫn mong một ngày nào đó vợ chú sẽ về. Chú vẫn mong tha thứ cho người vợ, vẫn muốn gặp mặt một lần. Chú Nguyên Đen kêu: “Coi lấy vợ khác đi, hơi sức đâu mà chờ. Mà vợ của mầy thì không xứng đáng với tấm chân tình của mầy mô”. Chú Kiện lại quay đi che giọt nước mắt đậu quanh bờ mi: “Tui quên hổng được anh Nguyên ơi!”. Hồi vợ chú mới bỏ nhà đi, mỗi lần cái Lan bi bô hỏi “Má đi đâu mà lâu rứa ba, con nhớ má quá!” là chú Kiện ôm nó khóc rấm rứt như con nít. Bây giờ, mỗi lần nhậu say về, chú hay đem chuyện đàn bà ra nói cái Lan: “Mình nghèo, lấy chồng thì phải biết làm cho nó mê mầy để nó hổng bỏ đi nghe hông”. Cái Lan nghe mãi điệp khúc ấy nên ngán ngẫm, nó sụt sịt: “Ba đừng nói ba cái chuyện ấy nữa được hôn. Con hổng lấy chồng đâu. Thấy cuộc đời của ba là con ngán tới cổ rồi, hổng chồng con gì hết cho khỏe!” Chú lại lừ lừ nhìn nó mà ruột gan quặn thắt lòng, như ai cào ai xé, ai xát muối. Có đám đến tìm hiểu là con bé lại trốn tránh như trốn tránh quá khứ của mình. Chú nhắm cái Lan cho thằng Liêm rồi nhưng hình như thằng Liêm lại say mê cái con nhỏ Ngọc thì phải? Cùng chỗ làm nhưng chú nào đâu dám hỏi. Chắc có cơ hội thì chú… Tội nghiệp đứa con gái bé bỏng của mình “Ba thương mày lắm có biết không hả Lan?”. Cái Lan thương ba lắm, thương cái sự cần mẫn, thương cái chung tình. Nó luôn lấy ba làm mẫu chuẩn để chọn chồng sau này dù biết rằng…
*
Chuyện anh Hùng với chú Kiện bị vợ “cắm sừng” còn chưa hết bàn tán trong khu phố thì đến chuyện thím Chu xây nhà mới. Thím Chu là hộ nghèo nhất nhì khu phố, vậy mà đùng một cái xây nhà, nhờ vậy mà chuyện chú Kiện, anh Hùng, thằng Liêm dần đi vào quên lãng, thay vào đó là chuyện người ta đi tìm câu trả lời tiền đâu thím Nhã xây nhà? Chồng thím mới mất cách nay năm năm, bỏ lại một bầy con nheo nhóc ba đứa. Lúc ấy, con Ngọc Trai là con gái lớn, chỉ mới mười sáu tuổi, còn thằng Tý “sún” mười tuổi, con út Thoa chỉ mới ba tuổi. Từ ngày chồng mất, quang gánh bán dạo của thím như trĩu nặng hơn, và đôi chân lại đi xa hơn, bán về đến tận khuya. Tuy nhiên, gánh hàng của thím cũng không thể nào kham nổi cho bốn đứa con đang tuổi ăn, tuổi lớn. Cho nên con Ngọc Trai phải nghỉ học đi phụ giúp quán Karaokê ở phố bên kia để giúp mẹ nuôi em. Ngày con Trai đòi nghỉ học đi phụ quán, thím Chu không cho. Thím nói thím lo được, dù ăn uống kham khổ nhưng nhất quyết không để đứa nào phải bỏ học. Nhưng đó là ý của thím, còn con Ngọc Trai thì không chịu nổi cảnh nghèo túng, không chịu nổi cảnh hàng ngày mẹ gánh gồng nặng trĩu trên vai, đi từ trưa đến khuya lắc khuya lơ mới về. Nó cũng không chịu nổi cảnh những hôm trời mưa, hàng ế, mấy chị em phải ăm cơm chan với nước mắt, nuốt không trôi. Và khi nhìn vài đôi mắt trũng sâu, vết nhăn chằng chịt, nó cũng không chịu nổi. Để cho mẹ yên tâm con Trai vẫn đi học bình thường nhưng thực ra là đi phụ bán ở quán Karaokê. Đến khi thím biết được cũng là lúc nhà trường gởi giấy thôi học. Thím như chết đi sống lại, vật vã cầu xin con nhỏ nhưng nó đã quyết không có gì lay chuyển được. Chuyện con Trai phụ ở quán Karaokê, thay đổi ăn mặt trét son phấn lòe loẹt cũng đã từng là tâm điểm nóng được đưa ra ở “Hội nghị bàn đào” tại quán cà phê cóc. Từ hồi con nhỏ theo đám bạn qua Malai xin việc thì chuyện của nó cũng lắng dịu dần. Hôm chia tay, thím Chu có hỏi con Trai qua đó làm cái gì? Con Trai trả lời nhỏ vừa đủ nghe “Thì phụ bán quần áo, bán quán nhậu chứ chi má, mà thôi má khỏi lo đi, con kiếm thật nhiều tiền để đỡ gánh nặng cho má”. Nghe con nói vậy thì thím Chu tin như vậy, chứ nó qua bên đó làm gì thì ai mà biết. Nó động viên má nó cứ yên tâm rồi cuộc đời sẽ sang trang mới. Thím chỉ biết lặng thinh mà tiễn biệt con đi làm giàu xứ người. Đùng một cái thím Chu xây nhà mới, nghe đâu còn lên một tấm nữa, làm mọi người ngả ngửa, hỏi nhau tiền đâu thím Chu xây nhà? Bà Xuyên gánh gánh bánh bột lọt đi ngang quán cà phê cóc của Bác Thìn, nghe mọi người trong khu phố uống cà phê, uống sữa, bàn tán chuyện thím Chu xây nhà, Bà Xuyên đặt gánh xuống: “Chắc là con nhỏ qua bển gởi tiền về cho bả cất nhà chứ bả làm gì có tiền mà xây!?”. Dì Tư cãi lại: “Con nhỏ đi mới hơn nửa năm làm gì có tiền gởi về cho bà Chu xây nhà? Chắc là bả trúng số độc đắc mà giấu mọi người nè”. Chị Nga bán bánh mì chen: “Trúng số đâu mà trúng số, từ hồi nào bả có mua vé số đâu mà trúng, hay là có tay đại gia nào góa vợ đang ngầm giúp đỡ bả đó”. Chị Tâm “nail” chu cái mõ dài ra: “Trời qươi! Nghe nói ngộ ghê mấy thằng cha đó chỉ tìm đến với những đứa chân dài, nõn nà chứ bả vừa già, vừa xấu ai mà rớ vô”. Chị Hồng khách ruột của chị Tâm bực bội cắt ngang: “Tui nghe đồn là con nhỏ qua đó làm gái đó, mà nói vậy thôi chứ lọt tai mẹ nó là tui đi đời đó nha!” Mọi người ngớ người ra, vì thấy lí do mà chị Hồng đưa ra có vẻ hợp lí nhất nên nhận sự đồng tình rất cao. Dì Tư thở dài: “Chắc là thiệt rồi!”. Đến trưa thì thông tin ấy đến tai thím Chu. Quẩy vội quang gánh tất bật chạy về. Vừa về tới đầu phố, thím Chu chửi đổng từ ngoài vào: “Đứa nào? Con nào dám nói con tui đi qua bển làm gái hả”. Không có tiếng trả lời, con phố vắng lặng trả lại sự thanh bình. Chửi mà không có tiếng trả lời thím Chu tức lắm, ngồi bệt ra đất thở dốc rồi lại rấm rứt khóc, ngửa cổ lên trời “Ba nó ơi, sao ông bỏ tui đi sớm rứa? Để bây giờ mẹ góa con côi, thiên hạ khinh cho đó kìa. Ông ơi là ông!” Tiếng khóc của gì như câu hỏi, hỏi giữa khoảng không vắng lặng.
*
Chuyện nhà thím Chu chưa biết sao thì đến chuyện nhà anh chị Đợi lại bị đuổi ra khỏi nhà. Chị Huyền quỳ trước sân trước mặt bà Châu van xin rối rít. Trời mưa ngày càng nặng hạt. Vệt nắng cuối chiều le lói. Chị Huyền cố gắng: “Mẹ ơi, đáng lẽ con cũng chẳng muốn là gánh nặng của gia đình mình, nhưng tiền bạc tốn biết bao nhiêu nhưng…”. Bà Châu lạnh lùng: “Hổng nhưng nhị gì hết, tui mệt mỏi lắm rồi”. Thấy vợ quỳ khóc lóc, anh Đợi cũng khóc theo mà nói: “Tui có phải là người đàn ông vô dụng không? Vợ khổ mà có chia sẻ được mô? Sao hồi đó em cứ để cho người ta tống tiễn anh về bên kia cho rồi. Mẹ đừng nói ác cho vợ con như thế”. Hai vợ chồng ôm nhau khóc, tiếng khóc ai oán làm sao: “Anh ơi, nếu anh có mệnh hệ gì thì em sống làm sao đây. Mẹ cũng vì giận quá mà nói vậy thôi”. Bà Châu quầy quả bỏ vào nhà còn liếc xéo chị một cái: “ Không đẻ được, chồng chăm cũng không xong thì hỏi có phải là người đàn bà vô dụng không? Tao ăn ở có thất đức mô mà chừ con trai tao phải gánh hả?”. Anh Đợi với theo: “Con đã nói mẹ bao nhiêu lần rồi, lỗi do con chứ có phải là do Huyền đâu?”. Bà Châu đóng sầm cửa lại như thông điệp đoạn tuyệt không muốn nghe thêm lời nào. Anh Đợi trong một lần chở vịt đi bỏ mối thì bị mấy tên choi choi đua xe tông phải nên anh mất đi chân trái, xương sống cũng có vấn đề. Gia đình anh mất đi trụ cột. Chị Huyền bán cả gia sản để lo chữa trị cho anh, nên vợ chồng dắt díu nhau về sống ở nhà bà Châu. Nhưng oái oăm thay là sau vụ tai nạn đó việc có con với anh cả là một vấn đề, nhưng mẹ chồng chị lại đỗ lỗi cho chị và hôm nay nhất quyết đuổi hai vợ chồng ra khỏi nhà. Bà Xuyên đang gánh bánh đi về, nghe vậy chạy sang. Biết chuyện, bà bảo hai vợ chồng bà tạm thời qua nhà bà rồi tính tiếp. Bà Xuyên đi vận động trong khu mỗi người một ít. Nghe chuyện, chị Nga bán bánh mì móc túi: “Tui còn hai trăm bảy để mai lấy bánh mì, à mà thôi kệ”, chị Tâm “nail”, chị ba Nhạn, bà Chín “mì quảng”, bác Thìn bán cà phê, chú Chung, chú Hạnh, Chú Nguyên, anh em thằng Liêm - Chính, cả cái con Ngọc đanh đá nữa chứ… cũng móc túi góp tiền cho chị Huyền tạm thời trong khoảng thời gian này. Còn chỗ ở đã có bà Xuyên lo. Chú Hùng mới vừa đi công chuyện về, chở con Lan về đến nhà rồi chạy qua nhà bà Xuyên. Thấy anh Đợi ngồi đau đáu, đôi mắt tối mịt, cúi gằm xuống đất chú Hùng đến bên an ủi: “Chú là người hạnh phúc nhứt rồi, đừng buồn nữa nghen!”. Anh Đợi chua chát: “Hoàn cảnh của con bi đát như vầy chưa đủ sao mà chú còn nói là hạnh phúc? Con muốn chết đi cho xong”. Chú Hùng nói với anh mà như tự an ủi mình: “Chú đừng suy nghĩ như vậy tội nghiệp vợ con, cuộc sống có giàu sang nhưng không có tình cảm, vợ chồng không hòa thuận, còn chú thì sướng rồi, cô Huyền là người tốt, ráng sống sao cho đừng phụ tấm chân tình của vợ nghen”. Chị Huyền đang làm cơm tối với bà Xuyên nghe chú Hùng nói vậy nước mắt chảy dài. “Ôi cái tình làng nghĩa xóm sâu đậm thế này? Trong khi mẹ ruột thì…”. Sáng hôm sau, chuyện bà Châu đuổi vợ chồng chị Huyền đi vì không đẻ được cháu đích tôn cho bà lại là đề tài được đưa ra quanh quán cóc. Dì Tư khuya hôm qua đi ra nhà bạn chơi, sáng nay ra mì quảng ngoài quán bà Chín mới biết chuyện. Ăn uống qua loa, dì chạy sang quán bác Thìn. Mới bước chân vào chưa kịp ngồi đã nghe giọng oanh vàng của chị ba Nhạn véo von: “Ủa, bà Châu tối ngày đi chùa, ăn chay, cúng dường mà cư xử như vậy sao ta. Kỳ cục thiệt”. Thím Ba Nghị chen vô: “Mọi người đừng có nhìn vậy mà đánh giá vậy! Bả đi làm từ thiện có thiếu chỗ mô đâu mà đối xử với con ruột của mình thế. Thiệt tình chẳng biết đâu mà lần, nhìn thì ai mà biết được đâu?” Dì Tư thở dài: “Dò sông dò biển dễ dò, mấy ai lấy thước mà đo lòng người”. Mọi người im lặng nhìn nhau tưởng chừng như cả không gian lắng đọng lại. Tiếng chim lạc bầy khắc khoải trong sớm mai ở khu phố. Một sáng mà âm thanh chẳng đủ khuấy động…
*
Từ hôm qua nhà bà Xuyên về đến giờ chú Hùng lại thở ra thở vào. Ngôi nhà không có người quạnh quẽ, lạnh tanh. Cái Lan luôn thay má chăm sóc tốt cho ba nhưng từ bữa đến giờ chú lại thèm hơi ấm của vợ - người đàn bà phụ tình. Vì vậy chú nói với cái Lan chú sẽ đi một chuyến. Chú muốn nghe từ miệng vợ giải thích vì sao lại bỏ hai cha con mà đi biệt tăm biệt tích, chừng nớ là mãn nguyện lắm rồi, chết cũng đáng. Cài Lan nghe xong giãy nãy như đỉa gặp vôi: “Má hổng về thì thôi chứ mắc chi ba đi tìm, mà đất trời mênh mông biết ở đâu mà tìm hả ba?”. Chú Hùng đáp lại giọng buồn thiu: “Biết mô được, duyên số của con người như sợi dây vô hình trói buộc con người ta. Duyên giữa tao với má mày chưa dứt đâu, bao nhiêu năm qua bao nhiêu người tìm đến nhưng có nên cặp đâu nào”. Cái Lan chua chát: “Tại ba thương con cái cảnh mẹ ghẻ con chồng chứ chi, thôi ba đừng đi! Chẳng phải ba nói rồi sao duyên nợ còn ắt sẽ gặp được?”. Chú Hùng lặng thinh, ánh mắt buồn thăm thẳm. Cái Lan nói xong chạy vô phòng đóng cửa khóc như mưa. Nó thương ba vô cùng.
Khu phố lại xầm xì, bàn tán. Chị Tâm tấm tắc: “Chú Hùng coi bộ cục mịch mà chung tình ra phết chứ nhỉ!”. Thím Ba Nghị chống nạnh: “Cái ông ni bị khùng hay sao? Người ta đã dứt áo ra đi rồi chẳng luyến tiếc làm gì. Họ có cần mình mô”. Chị Ba Nhạn vừa nhâm nhi nước trà vừa đưa ra ý kiến: “Cũng không trách được đâu, cái duyên cái nợ chưa đoạn tuyệt hẳn nên ổng không thể quên người đầu ấp tay kề, chứ không thì đâu có ở vậy phải không thím Nghị hì?”. Thím Ba Nghị trừng mắt: “Con quỷ này, có ai chọc mày mô, tự dưng tao vào chi rứa!”, bác Thìn lên tiếng: “Người chung tình như rứa thì ai cũng muốn là chồng của mình, đó là nhu cầu chính đáng mà, chứ nhìn một số lão chồng khác là tao phát ngán”. “À mà quên chồng tui cũng nằm hàng top hiếm đó nghen!”. Cả quán cười thật rộn rã để đón chào một ngày mới. Thím Ba Nghị hiểu ẩn ý trong câu nói của Nhạn nhưng đó là quá khứ rồi.
Nói vậy chứ con gái nài nỉ quá chú Hùng không đi nữa. Đùng phát cái tin thằng Liêm sang nhà xin cưới hỏi cái Lan làm cả khu phố một phen té ngửa. Chuyện vui của phố lại được tiếp thêm bởi những người... Hạnh phúc đến… Niềm vui đến… Dù chuyện phố còn bao điều trăn trở…
Phạm Thị Mỹ Liên
Mỗi
khi đi qua con đường đó người ta lại ngại. Con đường gồ ghề đầy những đá dăm, ổ
gà, ổ voi thi nhau xuất hiện. Đất xấu mà không bằng phẳng nên hình như chính
quyền và người dân cũng bỏ quên có một khoảng đất rộng phía sau sự ồn ào tấp
nập. Nhưng bên trong lại có một ngôi nhà gạch cũ ẩn mình trong lùm cây trứng cá
và mặt nhà hướng nhìn ra con đường đầy lầy lội và bụi đỏ. Dường như ít ai biết
đến sự tồn tại của ngôi nhà, mái ngói bạc màu, rêu phong bám đầy, tường bong tróc
từng mảng, cửa ọt ẹp mỗi khi được đóng hay mở. Nhưng nhìn chung thì tạm được
cũng có phần chắc chắn hơn cuộc sống của người sống trong ngôi nhà. Trong ngôi
nhà có một người người đàn bà già nua. Bà ấy nhìn rất đẹp, nghe nói ngày xưa bà
thuộc diện hoa khôi.
Thiếu nữ - Tranh vỏ tràm Quốc Mỹ
Tôi là người hay đi qua đoạn đường ấy để đến nhà bạn ở dãy phố bên kia. Tôi thắc mắc nên hay dừng lại quan sát, có hôm bị bà ấy xua đuổi vì tưởng tôi là ăn trộm. Bà ít đi ra thế giới bên ngoài, chỉ thấy bà ra chăm sóc vườn rau trước và sau nhà. Chắc bà chăm sóc kỹ nên vườn rau vẫn tươi tốt quanh năm dù đất đai khô cằn. Đến mùa thu hoạch rau có người đến mua vì rau của bà chẳng thuốc trừ sâu. Có hôm tôi gặp bà trên đường ra chợ với gánh rau trông rất thích mắt, mơn mởn xanh mát. Tôi dừng lại mua hai bó và để có cơ hội nhìn bà cho rõ hơn. Đúng như lời đồn bà đẹp thật nét duyên vẫn đọng trên đôi mắt dù vết chân chim khá nhiều. Khuôn mặt phúc hậu dù thời gian đã lấy đi của bà nét thanh xuân.
- Bà ơi, ngày mai bà có đi chợ không?
- Còn một ít để ở vườn người quen vào mua thôi!
Có lẽ bà không nhận ra tôi người bị bà xua đuổi dạo nọ. Chắc do tôi lúc ấy bịt kín mặt nên…
Hôm sau tranh thủ ghé vườn của bà mua rau.
- Con cháu bà đi đâu cả rồi? – Tôi lân la gợi chuyện.
- Bà ở một mình.
- Chỉ một mình thôi ư!
- Phải!
Bà đóng cửa, đi vào. Tôi bước vào theo vì tò mò muốn biết cuộc sống của bà ra sao.
Bên trong ngôi nhà chỉ có một chiếc giường lúc nào cũng kêu cót két, một cái tủ quần áo bằng vải, vài thứ đồ đạc lặt vặt khác. Ngôi nhà không có tivi, bà làm bạn với chiếc ra đi ô đặt trên đầu giường. Một cái bàn nhỏ với bốn chiếc ghế. Rất gọn gàng, tinh tươm.
Bà nhìn tôi như dò hỏi. Bà mặt bộ quần áo nâu sẫm lam lũ cùng khuôn mặt sạm đen. Tôi ngó nghiêng xung quanh. Gian nhà giữa là chiếc bàn thờ, trên đó có di ảnh của một người đàn ông. “Ông hả bà?”. Bà im lặng không nói gì. Mắt ươn ướt, ánh nhìn xa xăm…
Chiều tôi lại vòng xe qua con đường. Nắng nhạt hẳn. Mặt trời chậm chạp trôi
xuống rặng núi. Ngôi nhà khuất sau con đường chìm vào bóng tối nhá nhem.
Bữa cơm của bà chỉ có một bát canh, đĩa rau lang luộc, vài quả cà pháo muối chua và cốc rượu. Rượu bà rót vào cái chén con con dùng để uống trà. Mỗi lần uống, bà chỉ dám nhấp một ngụm nhỏ. Cánh cửa sổ ngôi nhà chẳng bao giờ mở, chắc bà không có ý định mở nó ra để nhìn ngắm khung cảnh bên ngoài. Bà nâng chén lên, rượu đã hết rồi, chỉ còn vài giọt vương lại dưới đáy chén. Thấy tôi tần ngần, bà hỏi vọng ra:
- Lại mua rau nữa sao?
- Dạ tiện đường có ghé xem bà thế nào! Bà ăn cơm sớm thế ạ!
- Ăn chứ không chặp nữa điện cà giựt cà tang ni lại đút cơm vô lỗ mũi hử!
Hàng tháng bà vẫn phải xuống chợ đầu mối mua môn rẻ về gọt sẵn rồi bán lại cho người mua. Mỗi ngày kiếm được vài chục, bà tiện tặn vừa trang trải cuộc sống vừa để dành lo cho tuổi già. Phía sau hè có một chiếc xe đạp cũ dựa vào bờ tường. Bà có đi được xe đâu nhỉ!. “Cái xe đó là kỷ vật cuối cùng của chồng bà, lúc còn sống ông hay đạp”
Con đường dẫn ra phố khác hẳn. Những ngôi nhà đồ sộ mọc lên, con người đi lại tấp nập, tiếng còi xe rú inh ỏi. Tôi không nói ra thành tiếng nữa mà chỉ lẩm bẩm vì nơi này không phải là ngôi nhà mái ngói rêu phong và người ở phố thì chẳng bao giờ nhìn thấy một đứa vừa đi xe vừa lẩm bẩm một mình.
Bà cũng tìm đến những ngôi nhà có người quen. Trong số đó, tôi để ý ở cuối phố Điện Biên Phủ có một ngôi nhà sang trọng. Nhà ba tầng, xây theo kiểu biệt thự hay nhà vườn. Ngôi nhà có sân rộng và bà trông thấy rất nhiều loại cây quý bên trong. Có một bức tường kiên cố bao quanh ngôi nhà, phía trên là những thanh sắt sắc nhọn hướng lên trời. Cổng nhà cũng bằng sắt và giờ thì nó đã khóa chặt.
Bà nhìn vào một lát rồi bần thần, vỗ vỗ đầu. “Sao thế nhỉ? Mình lại lú lẫn mất rồi, đây đâu phải nhà mình.” Con chó béc giê thấy bóng người lạ liền chồm dậy, gầm gừ. Con chó to như con nghé, đôi mắt với những tia vằn hung hãn và hàm răng sắc bén đang nhe ra đã cảnh báo bà nên rời khỏi đây. Bà đứng lặng hồi lâu, nhìn ngôi nhà. Tiếng sủa lớn hơn, đôi mắt hung dữ lóe lên những tia máu và nếu như cánh cổng kia được mở ra, nó sẵn sàng phá đứt xích để xông tới kẻ lạ mặt.
“Nhà đâu có ai? Mà làm gì có ai chứ, ái chà, mình lại lú lẫn rồi, nhà mình ở con đường kia mà.” bà lẩm bẩm quay gót trở về nơi ông đang chờ bà về ăn cơm, nhâm nhi chút rượu.
Hàng tháng bà vẫn miệt mài với công việc của mình. Bà đã trở thành một người thân của tôi từ lúc nào tôi không biết. Quần áo thì bà chẳng mấy khi mua. Bà thường mặc lại quần áo cũ, đồ mới bà cất trong tủ vải, cũng được ba bộ.
- Bà ơi!
Bà nhìn ra, thấy tôi bà cười. Bà tiến tới.
- Cháu đi đâu vậy?
- Cháu có việc đi ngang qua đây? Bà đi đâu vậy ạ?
- Bà định ghé qua nhà người quen, nhưng không có ai ở nhà.
- Bà lên đây cháu chở về.
- Thôi bà đi bộ được rồi, không đội mũ bảo hiểm công an phạt cháu đấy! Thôi cháu đi đi!
- Không sao đâu bà! Mà sáng nay bà không cắt rau à!
- Rau đợt nay không được ngon lắm nên ai ghé vườn thì bà cắt cho thôi!
- Thôi bà lên đi cháu đèo bà một đoạn.
Tôi và bà đều im lặng trên quãng đường đi. Mỗi người theo đuổi suy nghĩ riêng của mình. Đến trước căn nhà, tôi để bà xuống. Bà cảm ơn quay gót bước vào.
- Bà ơi!..
Bà nhướn mắt thay cho câu trả lời
- Bà đừng uống rượu nữa nghen, lỡ đêm hôm… Rượu chỉ khiến đầu óc bà thêm mụ mị chứ chả giải quyết được gì. Bà khoát tay bảo tôi đi về.
- Mai cháu rảnh cháu sẽ ghé thăm bà. Nói rồi tôi đi luôn không kịp để bà nói gì. Bốn bức vách khép chặt bà với ngôi nhà, các ô cửa sổ xám xịt vì bụi bặm thời gian nhưng điều đó chẳng khiến bà bận tâm. Bà lại ngửa cổ uống nốt chút rượu còn lại rồi đặt chén xuống. Rượu đã ngấm nhưng vẫn chưa làm bà say. Chiếc đài cứ rè rè và dần dần thì bà chẳng phân biệt được đâu là tiếng người đâu là tiếng sóng.
- Bà ơi! Bà ơi! Bà dậy chưa? Bà có sao không?
Bà tỉnh dậy. Cửa sổ vẫn đóng chặt như mọi ngày. Nhìn tia nắng chiếu qua những kẽ hở của cánh cửa tràn vào phòng, bà biết trời đã sáng. Tia nắng vàng rực, có chút oi ả xuyên xuống tạo thành những khoảng sáng vuông vức dưới nền nhà. Bà vẫn nằm trên giường, tay vắt lên trán, đêm qua lại mơ thấy ông về. Mắt bà hơi lim dim. Phía ngoài tiếng gọi vẫn vang lên tiếng gọi. Bà nằm ráng một chút nữa rồi ngồi dậy. “Cái con bé này, sao đến sớm thế! Phiền quá.”
Công tắc đèn được bật lên rồi lại tắt. Bà quờ đôi chân để kiếm đôi dép. Bà đã tỉnh từ lâu rồi nhưng đôi mắt vừa mới tiếp xúc với ánh sáng nên phải ti hí hồi lâu mới mở ra bình thường. Chân run run, mái tóc trắng phủ xuống vai, bà buộc lại rồi bới lên cao gọn gàng. Bà lấy chút dầu gió xoa đều rồi bóp trán. Phía ngoài tiếng gọi cửa vẫn dồn dập.
- Đợi bà một lát nào. Bà nói như quát ra bên ngoài, làm tôi giật mình, thầm nghĩ “Ai lại chọc bà hay sao mà giọng thế nhỉ!...”
Mặt trời đã lên cao. Nắng gắt hơn và trải xuống như những chiếc lá mùa thu.
Bà vỗ mặt cho tỉnh táo rồi ra ngoài mở cửa.
- Chào bà! Tôi nhìn bà mỉm cười.
- Sao lại đến sớm thế, còn đập cửa ầm ầm nữa. Công an bắt nhốt vì tội gây rối trật tự chừ.
- Tại bà không trả lời, cháu cứ tưởng… Với lại bà ở đây có ai nữa đâu mà cháu phải sợ công an.
Tôi đưa cho bà hộp bánh và chai rượu:
- Bà đặt giùm lên bàn thờ ông giùm cháu nhé!
- Bà chẳng nhận đâu.
- Bà nhận cho cháu vui, với lại cháu đến… xin bà ít rau ạ!
Bà lại ra phố. Lại lững thững trước căn nhà cuối đường Điện Biên Phủ. Con phố được xây dựng khang trang hơn, có thêm vài tòa cao tầng mọc lên. Ngôi nhà ba tầng hiện dần ra. Con chó béc giê dường như đã ăn no và đang thiu thiu ngủ. Bà đứng trước cánh cổng sắt, im lặng hồi lâu. Ngôi nhà quạnh quẽ, chẳng một bóng người. “Mình lại tới đây làm gì không biết?” Bà lẩm bẩm Nắng đã tàn, gió thổi hiu hiu, vài chiếc lá rụng bay xoay vòng hồi lâu trên không rồi tìm một phần đất tốt để đáp xuống. Bà vẫn đứng trước cổng và vẫn im lặng.
Một bàn tay khẽ chạm vào vai bà “Bà tìm ai?”. Có một đôi vợ chồng trẻ cùng một đứa bé, trạc tám tuổi. Họ ăn mặc rất sang trọng, hẳn họ là chủ của ngôi nhà.
- Bà tìm ai vậy? Anh chồng hỏi.
- Tôi... tôi nhầm nhà thôi.
- Bà tìm nhà nào, có khi cháu lại biết? Cô vợ nói với theo.
Bà lắc đầu, chậm rãi quay gót ra về, lại lẩm bẩm một mình… Tiếng chìa khóa lách cách, tiếng cánh cổng mở ra. Tiếng sủa mừng rỡ của con béc giê văng vẳng. Tiếng cười nói vọng nhỏ dần rồi mất tăm. Trời đã về chiều nên đường rất vắng.
Bà đi bộ dưới con phố An Dương Vương. Đi ngang ngã tư thấy có một cô gái gọi với những anh chàng bảnh bao chạy ngang “Anh trai ơi, đi không?” Bà chẳng ngoái lại, đi tiếp. Vài thanh niên tụ tập ở quán nước vỉa hè đánh bài, phả khói nghi ngút. Bà bán nước ngáp dài, phe phẩy quạt. Tiếng trò chuyện rôm rả, có vài tiếng cười. Bà vẫn đi tiếp. Đúng là người ta bảo đây là “ngã tư sung sướng thì phải”.
Một buổi sáng, Tôi lại đến.
- Quê bà ở đâu vậy?
- Bà chẳng biết, chỉ nhớ mang máng thôi. Bà với ông ở đây lâu rồi. Chiến tranh mà…
Tôi nhìn bà, ánh mắt lộ vẻ buồn bã. Bà quay đi. Những ngón tay gầy gò, khô héo lật từng bộ quần áo cũ, chiếc hộp gỗ dần hiện ra. Bà mở nó ra, ngắm nghía hồi lâu rồi nói. “Đây là kỷ vật, những lá thư ông gởi. Chiếc khăn choàng lúc kỷ niệm 20 năm ngày cưới. Những đồng tiền bà lo cho mai sau… Ông bỏ bà đi quá sớm. Mà thôi ông đi vậy cũng thanh thản chứ không di chứng chiến tranh lại hành hạ…” Bà nhìn vào đồ vật trong chiếc hộp, những đồ vật câm lặng nhìn bà. Một cơn gió len qua những kẽ cửa thổi vào, từng đồ vật khẽ lay động. “Có lẽ ông sợ bà buồn nên thường về thăm”.
“Những ngôi nhà mái rơm đã ở rất xa rồi, còn tòa nhà sang trọng, xây ba bốn tầng với những lớp kính luôn khép chặt thì từ lâu lắm cũng đã mất đi rồi. Nhà chỉ là một nơi náu thân”. Bà nói nhẹ mà sao chua chát thế!
Rồi tôi phải tạm biệt bà lên nhận công tác ở nơi mới. Hẹn bà đến tết gặp lại. Một hôm, có tiếng cành cạch phía ngoài cửa. Bà ngồi dậy, bỏ bát mì đấy và nói lớn “Đợi bà một chút, bà ra ngay đây.”
Bà đi ra. Không có ai ở ngoài, bà ngó thử xung quanh nhưng vẫn không thấy gì. Quốc lộ dẫn tới thành phố không một bóng người. Cảnh vật hắt hiu, tĩnh mịch, chỉ nghe thấy tiếng gió thổi. bà đứng ngoài cửa một lúc lâu, rồi lẩm bẩm “Mình quên mất. Con bé lại chuyển công tác rồi mà, mình lẩn thẩn quá đi.” Bà quay vào, đóng cửa lại. Bà mặc thêm chiếc áo khoác vì trời đang trở gió và rất có thể tầm chiều tối sẽ có gió mùa Đông Bắc.
Bà lại ra phố. Nắng bắt đầu lên. Chưa gắt, cũng không hanh mà chỉ le lói, nhợt nhạt chút sắc vàng mỏng manh. Từ đầu đường ngôi nhà sang trọng bốn tầng kiến trúc theo kiểu cổ điển đã hiện ra. Ngôi nhà mới sơn lại nên trông rất sang trọng. Cả con phố ngoài các cửa hàng bán đồ điện tử, quán café… đông đúc kẻ mua người bán.
Bà lại đi đoạn đường dài hướng tới cuối phố, nơi có ngôi nhà tiện nghi kia. Đoạn đường ngắn dần. Cánh cổng sắt đen nhẻm câm lặng hiện ra. Ngôi nhà này rất lớn nhưng nhìn vẫn rất quạnh quẽ. Con béc giê hung dữ vẫn đang ngái ngủ. Nghe tiếng động, con chó giật mình sủa vang… Trong ngôi nhà đó, bà biết có một người sống khắc khoải từng giờ. Bà muốn lắm nhưng biết làm sao đây! Đã có lần bà đã có ý định…
Tết tôi về, ghé thăm bà nhưng không thấy bóng dáng bà đâu. Trong nhà ngoài cái giường cũ kỹ, cái tủ vải nhưng không có đồ của bà. Ảnh của ông cũng không còn. Vương trên giường một tấm hình bà cùng với một bà nào đó, nhìn quen quen. Hình như tôi đã được gặp ở căn nhà cuối đường Điện Biên Phủ. Không ai biết tung tích của bà. Tôi ghé chợ hỏi những người bà thường bán rau. Họ chỉ nói hình như bà về Tiên Phước với bà con gì đấy…
Tôi chạy xuống cuối đường. Căn nhà ba tầng không còn con chó bẹc giê. Chỉ có tấm biển chắn ngang: Cần bán gấp nhà, liên hệ số… Mới gần một năm mà sao thay đổi nhiều thế! Tôi lại mơ màng đến ngôi nhà có mái ngói rêu phong, có những luống rau xanh và có bà trong đó… Phố đã lên đèn, gió lạnh chợt đến. Rùng mình tôi quay gót, lại lẩm bẩm…
Phạm Thị Mỹ Liên