Home » Phan Anh
- Trang chủ
- |
- Giới thiệu
- |
- Quy ước
- |
- Tác giả
- |
- Thư ngỏ
- |
- Lá thư Bông Tràm
Tác phẩm kỷ niệm 10 năm hoạt động của Bông Tràm, có sự góp mặt của 50 tác giả với trên 100 tác phẩm. Sách dày 312 trang, khổ 13 x 19 cm, giá 100.000 đồng.
Anh bạn tôi nói tết bây giờ nhạt hơn ngày xưa, tâm trạng chờ đón tết và không khí chuẩn bị cho tết vẫn còn đấy nhưng không còn náo nức, háo hức, hồi hộp, mong ngóng từng ngày như thời trước nữa. Ngẫm những điều bạn nói thấy quả thực như thế. Nghĩ vậy nhưng sợ rằng mình võ đoán nên đôi lúc cũng băn khoăn, trong lòng tự vấn, phải chăng do mình không còn trẻ nữa mà tết trong những nỗi niềm cũng thay đổi theo thời gian? Cứ thế, miên man nghĩ suy về tết mà trong lòng lại rộn lên bao nỗi nhớ và tết xưa lại trở về theo dòng ký ức nao nao thương luyến. Nhớ tết xưa để nghĩ về tết nay. Tết xưa trong ký ức còn lại như một miền “cổ tích” xa xôi còn tết thời nay có gì đáng nói? Ngẫm thế mà lại thấy bùi ngùi tiếc nuối, dường như xã hội ngày càng phát triển, lối sống của thời công nghệ làm cho người ta không thể dềnh dàng theo kiểu sống chậm được cho nên cái sự chuẩn bị cho tết bây giờ cũng thu ngắn lại, chỉ vội vàng, gấp gáp, tập trung, dồn dập vào mấy ngày cuối năm. Chẳng thế vợ tôi bảo có tiền là có tất cả. Tết một buổi là xong hết. Tết đầy ngoài đường, tết thiếu gì trong siêu thị mà cứ phải lo. Cứ có tiền là sẽ có tết. Tiền nhiều là tết to, tết vui. Nghe thế lòng lại bùi ngùi, nôn nao nhớ về tết xưa, nhớ về một thời “trông bánh chưng chờ trời sáng” để được tíu tít vớt bánh, ăn những chiếc bánh cua xinh xinh.
Tết
ngày xưa, thời bao cấp, sang tháng Chạp là mọi nhà đã bắt đầu náo nức, rộn ràng
chuẩn bị. Có lẽ ngày ấy “tết” nhất phải kể đến nồi bánh chưng. Thời đó, với mỗi
nhà, có thể nói: “Phi bánh chưng bất thành tết” cho nên chuẩn bị đón tết nhà
nào nhà ấy lo lắng, tất bật sắm sửa rất chu đáo, kỹ càng cho nồi bánh chưng. Từ
hàng nửa năm trước người ta đã nhặt nhạnh, cất giữ những gộc tre, cành cây to,
cháy bền, đượm than như củi nhãn, củi bạch đàn để đến tết nấu bánh chưng cho tốt.
Những nhà làm ruộng, đến vụ mùa đã phải tính toán một mảnh ruộng để gieo trồng
lúa nếp, phải là loại nếp cái hoa vàng để có gạo ngon đồ xôi ngày giỗ và gói
bánh chưng ngày tết. Những nhà không có ruộng có khi phải mua gạo cất đi từ
hàng tháng trước tết. Nói chung cứ phải có đủ gạo nếp để gói bánh chưng rồi mới
yên tâm về tết.
Nhà
tôi thời đó cũng vậy. Ông tôi thường dành mảnh ruộng trên khu đồng cao nhất để
trồng lúa nếp, ngoài ra ông còn tăng gia ở dọc bên đôi bờ mương trên cánh đồng
gần nhà những đám đỗ xanh để làm nhân bánh. Ông chăm mảnh ruộng lúa nếp kỹ lắm. Mỗi khi đến
vụ gặt, ruộng lúa vàng óng; bông lúa cúi đầu; chĩu chịt hạt thóc to tròn, căng
mẩy. Khi gặt lúa mang về nhà ông cho đập riêng, phơi riêng để khỏi lẫn với thóc
tẻ. Và năm nào ông cũng nấu một nồi bánh chưng rất to, khoảng hai thúng gạo nếp
để đón tết và chia cho các con các cháu. Bây giờ ông đã đi xa, ruộng lúa ấy
cũng đã bị thu hồi làm công trình của nhà nước nhưng mỗi khi tết về lòng không
khỏi bâng khuâng nhớ về ông, nhớ về một trời kỷ niệm của tuổi thơ với nồi bánh
chưng ngày tết.
Tôi
nhớ, cứ vào khoảng ngoài mùng mười tháng Chạp, đến phiên chợ Trôi ông đã nhắc
bà mua lá dong và mấy ống giang về trẻ lạt. Khi lá dong mang về ông cho vào bồn
(khi xưa nhà dệt vải nên có bồn để ngâm sợi) lấy nước mưa rửa ba, bốn lần cho
thật sạch rồi để ráo nước, xếp thành từng lớp bó vào mấy cái cột bên hè để hàng
tuần cho lá không bị rách, gãy; khô ráo; giữ được nguyên vẻ tươi xanh. Còn ống
giang được ông cạo sạch lớp vỏ màu xanh bên ngoài, đem ngâm qua nước cho có độ
mềm và dẻo sau đó pha ra thành từng thanh rồi chẻ ngang thành từng sợi lạt. Trẻ
lạt xong ông cất đi đợi đến hai bảy hoặc hai tám tết đem ra gói bánh.
Nhà
tôi thường nấu bánh chưng vào đêm hai mươi bảy. Để có nồi bánh chưng bắc được
lên bếp vào đêm hai mươi bẩy thì tối hai mươi sáu bà tôi phải đem gạo nếp và đậu
xanh đã vỡ bằng cố xay đá cho bong vỏ đem ngâm. Gạo và đậu ngâm qua đêm đến
sáng ngày hai mươi bảy vớt ra đem vo đi vo lại cho thật sạch rồi để cho ráo nước,
rắc thêm ít muối sóc đều lên; riêng đậu xanh rắc thêm ít hạt tiêu đã xay. Cũng
sớm đó bà ra chợ chọn mua chỗ thịt ba chỉ thật ngon đem về thái miếng và ướp muối,
ướp tiêu. Đến đầu giờ chiều, ông cởi các bó lá ra lấy khăn khô lau lại một lần
nữa rồi đem gói bánh. Ông tôi gói bánh rất khéo. Ông không cần khuôn mà gói
bánh tám góc vuông vức đều nhau chằn chặn. Cứ lần lượt ông đổ một bát ăn cơm gạo
xuống lá dong đã sắp sẵn rồi rải một lớp đậu xanh vào giữa, sau đó đặt nhân thịt
rồi lại dải lớp đậu xanh lên trên, xong rồi lại đổ tiếp bát gạo nữa lên trên
cùng, sao cho gạo nếp trùm kín đậu, rồi bắt đầu gói lá buộc lạt sao cho không
quá chặt để khi đun bánh, gạo nếp còn nở được, không bị sùi. Ông không chỉ gói
bánh chưng vuông mà còn gói dăm chiếc bánh chưng tày. Tôi vẫn còn nhớ ông đổ
bát gạo vào giữa sống lá dong, dàn đều ra và cho đậu xanh lên trên gạo, tiếp đến
là để miếng thịt lợn lên trên đậu rồi lài lấy đậu phủ kín thịt, sau đó đổ tiếp gạo
lên trên cho kín đậu. Khi phủ gạo xong, ông cầm hai mép lá dong kéo lại vào
nhau, cột chặt lại, gấp mép lá lại thành hình trụ, lắc cho tròn đều, dùng lạt
buộc dọc, buộc ngang. Một loáng những chiếc bánh đã được gói xong nhìn tựa như
những tày giò. Và bao giờ cũng thế, khi gần gói xong, ông tôi thường gói vài
cái bánh chưng vuông cỡ nhỏ (gọi là bánh cua) để khi đun bánh xong, sau khi thắp
hương mời tổ tiên thì lấy bánh cua cho các cháu ăn trước. Những bánh khác treo
lên xà ngang đợi đến ba mươi tết làm cỗ mời tổ tiên rồi mới bắt đầu được ăn. Nhớ
lại hồi ấy chúng tôi chỉ thích ăn bánh cua, thức đêm đun bánh cũng là để chầu
chực ăn bánh cua mà thôi. Có lẽ khi chưa tết ăn bánh lúc đó mới ngon. Đến khi tết
rồi, có nhiều thứ ăn và bánh chưng lúc đó cũng được ăn thoải mái nên không còn
thòm thèm. Phải chăng vì thế tết ăn bánh chưng cảm giác không thấy ngon bằng ăn
bánh cua mấy hôm trước.
Gói
bánh chưng thường thì cũng phải mất cả buổi chiều. Bánh gói xong được ông xếp
vào nồi. Tôi nhớ trước khi đưa bánh vào luộc ông để hai cái bánh vuông quay mặt
vào nhau và dùng lạt bó lại thành một cặp rồi mới xếp vào nồi. Trước khi xếp
bánh vào nồi ông lấy những cuống lá dong để ở đáy nồi để
khi đun bánh không bị cháy và dính vào đáy nồi. Nồi đun bánh khi đó là cái thùng tôn to như
thùng phuy nhưng chỉ cao bằng hai phần ba thùng phuy. Thường ngày nhà tôi dùng
thùng này đựng thóc. Tết mới bỏ ra để đun bánh chưng. Nấu xong của nhà lại cho
mấy nhà hàng xóm mượn cũng để đun bánh. Khi xếp bánh vào nồi ông làm rất cẩn thận.
Ông để bánh chồng lên nhau ngay ngắn thành các tầng thật chặt và cũng là để
giữ bánh cố định phòng khi nước sôi có đẩy bánh cũng không bị xô lệch mà vỡ
bánh. Khi bánh xếp xong vào nồi thì nhấc nồi lên các viên gạch kê sẵn trong
bếp. Khi kiểm tra đã đảm bảo chắc chắn rồi thì tiến hành đổ nước vào nồi. Ông
đổ nước mưa ngập bánh. Nước đổ xong thì bắt đầu đun. Củi cho vào bếp khi đã đỏ
lửa lại được rắc thêm chấu xung quanh cho tăng thêm nhiệt. Khi nước trong nồi
sôi ùng ục thì giảm lửa chỉ để lửa liu riu, âm ỉ. Thỉnh thoảng phải kiểm tra
nước trong nồi để tiếp thêm cho không bị cạn, cháy nồi, hỏng bánh. Nhà tôi
thường luộc bánh khoảng chín đến mười tiếng đồng hồ. Đến khoảng một nửa thời
gian, sau khi đun độ năm tiếng thì thay toàn bộ nước và trở bánh lại và đun
tiếp để bánh không bị sống, chín đều. Khi bánh chín ông vớt ra ngâm vào thùng
nước mưa khoảng mười lăm phút rồi xếp từng cặp lên mặt cánh một chiếc cánh cửa.
Xếp xong ông lấy một cánh cửa khác úp lên rồi lấy cối đá nhỏ, lấy thùng đổ nước
vào trong để lên nhằm nén bánh xuống cho nước ra, bánh không bị nhão. Ép khoảng
bốn tiếng thì bỏ ra treo bánh lên xà nhà chờ đến tết.
Với tôi những đêm đun bánh
bao giờ cũng thú vị nhất. Chập tối, cơm xong, khi dọn dẹp xong thì cả nhà quây
quần bên nồi bánh, chuyện trò rôm rả; hết chuyện thì mấy anh em chơi tam cúc
bôi nhọ, búng tai với nhau. Càng về khuya, khi cơn buồn ngủ kéo đến, mọi người
rút dần lên nhà đi ngủ. Cuối cùng chỉ còn lại hai ông cháu. Thực ra tôi cũng
chẳng thức được lâu, chỉ là ngủ trong bếp mà thôi. Khi ấy gọi là thức đun bánh
nhưng cũng chẳng phải là tôi đun (vì có phải đun đâu, ông mới là người đun),
cái chính vẫn là thức để chờ được vớt bánh, đợi ăn bánh cua. Sao cái bánh cua
khi đó ăn ngon đến vậy. Ăn hết mà vẫn thòm thèm. Nhớ lại khi xưa ngồi xem đun
bánh mà đến giờ vẫn thấy thèm cái mùi khói củi lẫn mùi nước bánh chưng sôi. Đó
là những mùi vị đặc trưng của từng loại gỗ và mùi thơm của bánh chưng bốc lên
từ nồi nước ùng ục sôi và tỏa khói nghi ngút vào trong không gian mà chẳng thể
lẫn vào mùi vị nào khác được.
Bây giờ cuộc sống không còn
khó khăn như những ngày xưa. Đường sữa, bánh kẹo, thịt cá trẻ con nhìn thấy đã
sợ nên bánh chưng không còn là món ăn xa xỉ phải đợi đến tết mới có hoặc mong
ốm để được ăn. Nhưng song hành với sự phát triển ấy thì con người cũng bị cuốn
vào guồng quay của công việc. Công việc tăng lên nhiều gấp bội. Nhà nhà, người
người lao vào làm việc để kiếm tiền. Bởi thế tết bây giờ đâu có còn được nhiều
thời gian để dềnh dàng, nhẩn nha chuẩn bị. Hơn những thế, có lẽ bởi vì sung
túc, không còn thiếu thốn mà người ta cũng mất đi cái cảm giác thèm thuồng, háo
hức đợi chờ bánh chưng. Bây giờ đến tết ở quê tôi ít nhà vẫn còn duy trì việc gói, nấu bánh chưng ngày
tết để cho các cháu được sống trong bầu không khí tết cổ truyền nhưng cái háo hức
đợt chờ khi vớt bánh dường như không còn nữa. Trẻ con dường như không còn thích
thức đêm trông bánh như ngày xưa. Nhìn tết nay mà nhớ lại tết xưa. Nghĩ thế trong
lòng lại ao ước bao giờ cho đến ngày xưa.
Phan Anh
Một ngày cuối năm, tôi có dịp được về đất Mường Hòa Bình ăn tết sớm theo phong tục truyền thống của đồng bào dân tộc nơi đây. Chuyến đi này chúng tôi được ăn tết ở nhà bà lang Dương Yến, người Dao ở phường Thái Bình, thành phố Hòa Bình. Nhà bà lang ở ngay cạnh Bảo tàng không gian văn hóa Mường của họa sỹ Vũ Đức Hiếu nên tôi đã có dịp được khám phá, trải nghiệm về vùng đất và con người của những chủ nhân bên dọc đôi bờ Đà Giang hùng vĩ và thơ mộng qua một không gian văn hóa cô đọng, đậm đặc mà chất chứa bao tình người. Chuyến đi này với tôi thực sự thú vị. Tôi vẫn bảo với mọi người đây là chuyến đi “ăn” Dao “chơi” Mường.
1. Cỗ “lá” người Dao
Cỗ
"lá" hiểu giản đơn là mâm cỗ được bày trên tàu lá chuối, không dùng
bát đĩa để chứa đồ ăn trên mâm theo cách sinh hoạt bình thường hàng ngày. Có thể
nói, đây là nét văn hóa ẩm thực sơ khai của người Dao đến nay vẫn còn lưu giữ
được trong những dịp lễ, tết, hội hè. Mâm cỗ “lá” của đồng bào mộc mạc như
chính những nét sinh hoạt của cuộc sống hàng ngày với các vật nuôi trong nhà,
cây lá ngoài vườn hay trên rừng. So với mâm cỗ của người miền xuôi, về cơ bản cỗ
“lá” của người Dao thiên về các món ăn của miền sơn lâm. Nhìn mâm cỗ của người
miền xuôi thường ta thấy thực phẩm có sự hài hòa giữa gia cầm và gia súc; giữa
vật nuôi trên bờ và vật nuôi dưới nước. Tuy nhiên so sánh giữa mâm cỗ “lá” của
người Dao ở đây và mâm cỗ thường thấy ở miền xuôi ta dễ thấy bản sắc văn hóa
vùng miền được thể hiện khá rõ nét.
Với mâm cỗ “lá” của người Dao ta dường như thấy
vắng bóng “hải vị”. Chỉ có “sơn hào” với những món chế biến từ lợn thui cùng với
các loại củ, quả, lá rừng. Nhìn các món ăn trên mâm cỗ ta sẽ thấy rõ phương thức
sản xuất theo lối tự cung tự cấp từ ngàn xưa của ông bà truyền lại là chính. Lợn
nuôi trong chuồng bằng cám, bã, rau vườn, bẹ chuối là nguồn nguyên liệu chính
cho mọi món ăn trên mâm cỗ. Con lợn làm cỗ của người Dao không quá to như lợn
nuôi theo phương thức công nghiệp ở miền xuôi. Vẫn là giống lợn rừng chưa bị
lai tạo nuôi mãi cũng chỉ được khoảng ba chục cân. Con lợn sau khi chọc tiết được
đem thui vàng nhìn rất hấp dẫn. Có điều cách thui bây giờ hiện đại hơn. Không
còn đốt rơm ngồi quạt chảy nước mắt mà dùng đèn khò bằng bình ga. Từ con lợn,
người Dao chế biến thành rất nhiều món như thịt nướng; thịt hấp; xương om củ,
quả; lòng dồi, tim gan luộc, hấp… Có điều những món ăn này được chế biến theo
cách của người Dao nên rất lạ miệng và thơm ngon. Ngoài các món ăn từ con lợn,
mâm cỗ lá của người Dao còn có gà đồi và các loại rau rừng. Gà đồi là loại gà
được nuôi thả tự nhiên trên các triền đồi suốt ngày ăn côn trùng và cỏ, lá nên
thịt thơm và rắn chắc. Rau rừng là những thứ lá rau, củ, quả của rừng núi; mâm
cỗ của người Dao không thể thiếu được món măng chua. Người Dao lấy măng rằng
ngâm với các loại gia vị và làm chua bằng cách đem ngâm trong hộp, lọ… Sau khi măng
ngâm chua người Dao lấy măng đem chế biến cùng với các loại thực phẩm khác như
nấu với xương, thịt lợn hoặc cá suối… thành nhiều món ăn rất ngon và lạ. Nhưng
độc đáo và hấp dẫn nữa còn phải kể đến các món chấm của người Dao. Ngoài muối,
nước mắm thông thường, người Dao còn dùng các gia vị như ớt, hành, chanh… đặc
biệt là hạt dổi. Khi mâm cỗ bày ra người ta lấy than đỏ bỏ vào bát sứ đựng muối
và hạt dổi rồi đảo than cho tới khi muối khô trắng, dổi cháy vỏ, mùi thơm bốc
lên thì gắp than ra, thổi sạch tro, đem giã nát muối với hạt dổi thành một hỗn
hợp chấm. Mùi hạt dổi thơm ngai ngái như mùi thuốc bắc. Đồ luộc chấm muối hạt dổi
rất ngon. Ăn nhiều thành quen có khi bị nghiện. Mâm cỗ “lá” ấy ngoài các món thịt,
rau, củ, quả rừng như đã kể còn phải có bát canh miến nấu lòng gà và các cây
gia vị như rau thơm, hành lá; đặc biệt không thể thiếu món bánh giầy dùng để
cúng lễ trời đất, tổ tiên. Bánh giầy của người dao cũng khác bánh giầy ở miền
xuôi. Bánh giầy của người Dao không có nhân. Đồng bào Dao đồ xôi đậu rồi cho
vào cối giã. Giã xong đem nặn thành từng chiếc bánh hình tròn dẹt. Bánh nặn
xong đem tẩm gia vị. Gia vị mặn, có mùi thơm như thể muối vừng. Bánh giầy của
người Dao khi ấy ăn vào ta sẽ thấy có độ dẻo dai của gạo nếp; vị đặm đà, thơm
phức của gia vị…
Mâm cỗ “lá” của người Dao giản dị, mộc mạc
nhưng đúng là đặc sản của núi rừng. Nó không màu mè hoa mỹ như thể mâm cỗ với đủ
vị của người miền xuôi nhưng được thưởng thức mâm cỗ ấy hẳn người ta sẽ nhớ mãi
cái hương rừng Tây Bắc. Mâm cỗ “lá” ấy như thể chứa đựng cả biết bao ân tình tròn
đầy, hiếu nghĩa của con cháu dâng lên với thần linh, tiên tổ; để bày tỏ tấm
lòng hiếu khách của chủ nhân với bè bạn, bản làng. Ngắm nhìn, thưởng thức cái
mâm cỗ dung dị ấy ta sẽ nhận ra đằng sau cái vẻ mộc mạc đơn sơ là những sắc màu
và hương vị riêng biệt của núi rừng quê hương người Dao. Đó là sự hòa hợp của
con người với thế giới tự nhiên; một lối sống gần gũi với tự nhiên, hòa đồng
cùng thiên nhiên. Cái lối sống ấy bây giờ ở chốn phố phường có lẽ đã trở thành
xa xỉ. Đến với cỗ “lá” người ta như thấm nhuần cái lối sống giản dị và hòa hợp
với tự nhiên. Bởi thế mà đã có không ít người đã bỏ phố lên rừng.
2.
Nhà sàn người Mường
Người
Mường ở nhiều nơi nhưng có lẽ tập trung nhiều nhất vẫn là các tỉnh Phú Thọ, Hòa
Bình, Thanh Hóa; trong đó xứ Mường Hòa Bình được xem là thủ phủ (có số dân đông
nhất trong các tỉnh thành có người Mường sinh sống, có số dân đông nhất so với
các tộc người cùng sinh sống trong toàn tỉnh, là một trong những địa bàn cư trú
đầu tiên của người Mường - người bản địa). Xứ ấy từ xưa đã nổi tiếng thiên hạ với
tứ đại đất Mường: “Nhất Bi, nhà Vang, tam Thàng, tứ Động” (Mường Bi thuộc huyện Tân Lạc, Mường Vang thuộc huyện Lạc Sơn,
Mường Thàng thuộc huyện Cao Phong, Mường Động thuộc huyện Kim Bôi). Bảng xếp loại
này không chỉ thể hiện những đánh giá về sự dài rộng của đất đai mà còn là phản
ánh về hệ thống quyền lực của quan Lang; sự đông đúc, giàu có và cả nhiều con
gái đẹp … của các Mường. Danh xưng Mường ban đầu vốn không phải để gọi tộc người.
Người Mường tự xưng là con Mol hoặc con Monl với nghĩa con người.
Danh xưng Mường ban đầu dùng để gọi một vùng đất cư trú gồm có nhiều làng bản.
Mỗi vùng cư trú này có một quan Lang cai quản. Còn thực tế về nguồn gốc của tộc
người, theo một số nhà dân tộc học, khi nghiên cứu về ngôn ngữ đã cho rằng người
Mường và người Kinh có chung một nguồn gốc Việt - Mường cổ. Trong thời kỳ Bắc
thuộc, khoảng thế kỷ thứ VII – VIII, bộ phận người Việt – Mường cổ ở đồng bằng
có sự hòa trộn với người phương Bắc về văn hóa, ngôn ngữ, nhân chủng nên chuyển
biến dần thành người Kinh; bộ phận người Việt – Mường cổ cư trú ở vùng miền núi
ít bị ảnh hưởng của người phương Bắc nên bảo tồn được bản sắc cổ của người Âu Lạc,
sau này trở thành người Mường. Như vậy những biến động của lịch sử cũng như quá
trình giao lưu về mọi mặt với các tộc người khác mà người Kinh và người Mường
đã trở thành hai tộc người khác nhau và tên gọi tộc danh “Mường” cũng đã được đồng
bào chấp nhận.
“Lạc”
vào bảo tàng không gian văn hóa Mường của họa sỹ Vũ Đức Hiếu tôi đã thấy một chất
Mường đậm đặc, nguyên thủy. Cái chất Mường này không chỉ thể hiện ở những thứ
sưu tầm qua trang phục, đồ dùng sinh hoạt cũng như lao động sản xuất, tín ngưỡng
của đồng bào mà còn thể hiện ở những ngôi nhà. Những ngôi nhà Mường nguyên thủy
được dựng bên những sườn đồi không chỉ nói lên tập quán sinh hoạt mà còn thể hiện
cả một hệ thống quyền lực cũng như những quan niệm, tư duy của người Mường xưa.
Những thứ này dường như ở chính những bản Mường cổ xưa cũng đang có những sự biến
đổi theo sự phát triển của xã hội hiện đại.
Nhà
sàn ở nước ta không chỉ có ở tộc người Mường. Nhiều tộc người khác cũng có.
Nhưng với người Mường ngôi nhà ấy có những quan niệm và quy định riêng về thứ bậc,
địa vị mà ở tộc người khác ít thấy. Nhìn chung, nhà sàn với người Mường đó là một
không gian có chức năng dùng để ở, sinh hoạt, cất giữ tài sản và thực hành các
nghi lễ tín ngưỡng. Chẳng những thế nó còn là nơi che chở cho con người trước
thiên tai và thú dữ; nơi nuôi dưỡng tâm hồn các thế hệ người Mường; nơi giữ
gìn, trao truyền bản sắc văn hóa của tộc người cho con cháu đời sau. Theo sử
thi “Đẻ đất đẻ nước” kiến trúc ngồi nhà truyền thống ấy được thần rùa mách bảo:
“Bốn chân tôi làm nên cột cái/ Nhìn sườn dài sườn cụt mà xếp làm rui/ Nhìn qua
đuôi làm chái/ Nhìn lại mặt mà làm cửa thang cửa sổ/ Nhìn vào xương sống làm
đòn nóc dài dài/ Muốn làm mái thì trông vào mai/ Vào rừng mà lấy tranh lấy nứa
làm vách/ Lấy chạc vớt mà buộc kèo”; “Chặt cây lim làm cột/Lạt buộc bằng cây
giang/Cỏ gianh dùng để lợp”… Người Mường đã theo lời dạy bảo đó để làm nhà. Có
thể nói, câu chuyện thần rùa dạy người cách làm nhà sàn đã trở thành điển tích
về sự ra đời của nhà sàn của người Mường và trở thành một môtip trong văn học
dân gian của một số dân tộc vùng Tây Bắc (người Thái cũng có câu chuyện thần
rùa dạy cách làm nhà sàn). Ngôi nhà sàn truyền thống của người Mường có bốn cột như
bốn chân Rùa và chia ra làm ba tầng với bốn mái. Tầng trên cùng là gác, dùng để
cất giữ lương thực và đồ dùng sinh hoạt của gia đình. Tầng giữa là sàn nhà; nơi
sinh hoạt, nghỉ ngơi và thực hiện các nghi lễ của gia đình. Tầng cuối là gầm
của sàn nhà, nơi để công cụ sản xuất và gia súc, gia cầm. Nguyên liệu để làm
nhà là các loại gỗ quí như trai, chò chỉ, nghiến, sến, táu, dổi, de, đinh,
lát... Ngoài gỗ để làm cột, kèo, xà… nhà sàn của người Mường còn dùng các loại
tre, bương, luồng, hóp để làm đòn tay, đan vách hoặc làm sàn... Mái nhà được
lợp bằng lá cọ hoặc cỏ gianh, hai mái trước dựng theo hình thang cân, hai mái
đầu hồi dựng theo hình tam giác cân. Kiến trúc nhà sàn của người Mường còn phải
kể đến hệ thống cầu thang. Theo truyền thống, nhà sàn của người Mường có hai
cầu thang (chính và phụ), các cầu thang này tùy theo sàn nhà cao hay thấp mà có
số bậc tương ứng. Bậc cầu thang của người Mương bao giờ cũng làm theo các số
lẻ: ba, năm, bảy, chín (người Mường quan niệm số lẻ là số dương,
may mắn, dùng cho người sống; số chẵn là số âm, thường dùng làm cầu
thang trong nhà mồ cho người đã khuất). Cầu thang chính đặt bên
ngoài, phía từ cổng đi vào nhà. Đây là lối đi chính để lên, xuống và đón
khách đến nhà. Khi tổ chức lễ, đám thì quanh chân cầu thang này
người Mường tiến hành một số nghi lễ. Cầu thang phụ đặt phía bên trong,
phía lên nhà bếp hay phía gian trong. Đây là cầu thang nội bộ, dùng cho các
thành viên trong gia đình lên xuống làm việc trong nhà. Phần mái nhà ở khu vực đặt cầu
thang chính, người Mường thường cho lợp mái rộng ra để đặt cối
xay, giã gạo, vại nước (rửa chân sạch sẽ trước khi lên nhà). Nhà sàn người
Mường không có vách ngăn mà thông thủy. Gian đầu tiên từ cầu thang
chính lên gọi là gian gốc. Đây là gian linh thiêng của ngôi nhà; là nơi tiếp
khách và cũng là nơi để bàn thờ tổ tiên. Tiếp theo gian gốc là gian bên trong,
hướng nhìn ra sân. Gian này để bếp và là nơi diễn ra mọi sinh hoạt của gia đình.
Ở gian gốc người Mường chọn và để một cây cột to hơn các cây cột khác, gọi là
cột gốc, ở gần cầu thang. Trên cột gốc người Mường đặt thờ tổ tiên. Trên cột
này, bất kỳ ai cũng không được bôi bẩn, tựa lưng, gác chân, treo quần áo hay đồ
vật; dưới sàn nhà, cột này không được buộc trâu bò hay treo công cụ lao động.
Gian gốc dành cho đàn ông, đàn bà không được làm bất cứ việc gì ở đây. Ở gian
gốc có một bếp nhỏ dùng để cho đàn ông trong gia đình ngồi sưởi ấm vào mùa đông
và đun nước uống hàng ngày hoặc tiếp khách. Xung quanh nhà người mường để rất
nhiều cửa sổ cho nên nhà sàn rất thoáng, mát. Khi dựng nhà, người Mường ít trú
trọng hướng mà quan tâm đến địa thế đất rất theo phong thủy. Thường thì nhà sàn
được làm ở những nơi cao ráo, dựa lưng vào sườn đồi, mặt nhìn về phía trước là
đồng ruộng thoáng mát, rộng rãi (đồng bào kiêng ở những
thế đất có hố sâu hoặc dốc đứng ở đằng sau)... Với kiểu nhà ba tầng, bốn mái
như lời thần rùa mách bảo như vậy người Mường còn gửi gắm, thể hiện quan niệm
về thế giới trong kiến trúc nhà ở. Đó là ba tầng bốn thế giới: tầng cao nhất là thế giới của
Mường Trời, nơi ở Vua trời và các phò tá; tầng giữa là Mường Pưa, nơi ở của người
sống; tầng thứ ba là Mường Pưa Tín, có hai thế giới (ở dưới mặt đất và ở đáy nước,
mường Vua Khú). Người Mường quan niệm bên dưới mặt đất không phải là âm ty mà
là thế giới của người tí hon và vật tí hon; có lối thông lên mặt đất. Thế giới
của Vua Khú là vương quốc của bọn khú dưới quyền cai quản của Vua Khú.
Với không gian văn hóa Mường, qua hệ thống nhà sàn, chủ nhân của bảo tàng không chỉ tái hiện thế giới vật chất và quan niệm tâm linh của người Mường xưa mà còn cho du khách thấy được cả hệ thống quyền lực Mường qua các công trình kiến trúc nhà ở. Với bốn mô hình nhà sàn: nhà Lang, nhà Ậu, nhà Noóc, Nhà Noóc Trọi, chủ nhân của bảo tàng đã cho người xem thấy được sự phân hóa giai tầng qua hệ thống quyền lực và đời sống của các tầng lớp người trong xã hội Mường cũ. Nhà Lang là nhà của tầng lớp quý tộc (quan Lang) nắm quyền thống trị và có quyền lực cao nhất ở xứ Mường. Nhà Ậu là ở của tầng lớp người giúp việc cho nhà Lang. Nhà Noóc là của tầng lớp người bình dân. Nhà Noóc Trọi là nhà ở của tầng lớp người bần cùng nhất trong xã hội. Quan sát các công trình kiến trúc này chúng ta có thể nhận ra sự khác biệt của nhà quan Lang với các nhà khác không chỉ ở quy mô, vật liệu làm lên ngôi nhà mà còn được thể hiện ở khoảng cách chiều cao của gầm sàn. Nhà quan Lang có gầm sàn cao hơn (tính từ mặt đất lên sàn nhà cao khoảng ba mét) các nhà Ậu, nhà Noóc. Trang trí trong nhà lang ngoài các dụng cụ sản xuất, thóc lúa, ngô, khoai … còn phải kể đến dàn cồng chiêng, súng săn, mũi tên, cung, nỏ và các chiến lợi phẩm thu được như sừng tê giác, sừng bò, sừng trâu cùng lịch đọi cũng như các đồ cúng lễ theo tín ngưỡng truyền thống. Có thể nói, bảo tàng văn hóa Mường của họa sỹ Vũ Đức Hiếu đã tái hiện được một xã hội mường xưa trong một không gian thu nhỏ. Đấy là “hồn” Mường còn tương đối đầy đủ hiếm hoi còn lại trên đất Mường. Một của quý giữa lòng “thủ đô” Mường, nơi neo giữ hồn Mường cho nhưng ai muốn hoài niệm về xứ Mường xưa.
Thành phố Hòa Bình - “thủ đô” của xứ Mường nằm bên công trình thủy điện nổi tiếng một thời và dòng sông Đà hùng vĩ với “trăm bảy mươi thác trăm ba mươi ghềnh” ở nơi cửa ngõ của miền Tây Bắc thơ mộng còn lưu giữ trong mình biết bao dấu tích cửa người Việt cổ. Về với đất Mường Hòa Bình là về với những tấm lòng rộng mở, về với một miền văn hóa còn lắng đọng trong mình biết bao trầm tích để tìm lại dấu xưa. Cái nơi mộc mạc và dung dị ấy cũng còn chứa đựng biết bao điều bí ẩn như thể đang mời gọi. Hãy một lần đi đến Mường để thưởng thức “cơm đồ, nhà gác, nước vác, lợn thui, ngày lui, tháng tới”.
Phan Anh
Nghe
kể, mùa nước lên, khoảng từ tháng 8 năm trước đến tháng 3 năm sau, nhà máy thủy
điện Na Hang đóng đập, lòng hồ thủy điện mênh mông nước, sông Gâm trở thành điểm
đến hấp dẫn và làm say lòng du khách với những cảnh quan thiên nhiên kỳ vĩ và
thơ mộng. Khi ấy biển nước trong vắt một màu xanh rêu hiện lên giữa đại ngàn
Đông Bắc tựa như áng tóc của nàng sơn nữ đang buông lơi, sóng đôi cùng trập
trùng núi non hùng vĩ để không hổ danh là một “Hạ Long trên núi” như đồn đại của
bàn dân thiên hạ với những vách đá dựng đứng hàng chục mét nghiêng ngả, rung
rinh theo sóng biếc trên mặt nước cùng những rừng già nguyên sinh soi bóng cổ
thụ xuống lòng hồ hay những thác nước tựa như dải lụa trắng tinh nối trời cao với
đất bằng, đêm ngày gầm réo tung bọt trắng xóa đổ nước xuống dòng sông. Và rồi,
từ tháng 4 đến tháng 7, nhà máy thủy điện Na Hang xả nước phục vụ đời
sống và sản xuất ở vùng hạ lưu mà nước trong lòng hồ hạ xuống, sông Gâm trở lại
với dòng chảy như cũ. Có chỗ lòng sông nhỏ lại như một dòng suối to làm lộ ra
những bãi cát và dải đá ngầm với muôn hình vạn dáng kỳ thú tạo thành một bức
tranh sơn thủy rất hữu tình mê hoặc lòng người, trở thành những điểm chụp ảnh
hút hồn giới trẻ. Sông Gâm thì như vậy nhưng còn cảnh sắc bên đôi bờ sông Gâm
cũng mỗi mùa một vẻ, da diết và níu giữa hồn người không kém. Chỉ riêng mùa
đông thôi, cái yếu ớt của nắng vàng quyện cùng cái lạnh vùng cao khiến ta không
khỏi vấn vương cùng màn khói sương huyền ảo bàng bạc quấn quanh trên đỉnh núi
tựa như màn voan mềm mại hay bảng lảng, lững lờ nhẹ nhàng êm trôi trên mặt nước
dòng Gâm dịu hiền mà làm nao lòng lữ khách.
Một lần nữa tôi lại chưa được đến với sông nước Bắc Mê
vì lẽ con đường từ Du Già sang Bắc Mê đang sửa, tỉnh lộ 176 với nhiều đoạn
đường phá núi mở rộng các chỗ cua hay bị sạt lở nối nhau dài hơn hai mươi cây
số, đất đá ngổn ngang, máy múc và xe chở đất đá vào ra không nghỉ, khiến giao
thông trên tuyến đường dừng nghỉ liên tục làm trễ thời gian mất hơn ba giờ đồng
hồ. Sự cố về đường xá ngoài ý muốn này không nằm trong dự kiến của lịch trình
đã định nên chúng tôi phải cắt bớt chương trình theo kế hoạch. Đã vậy xe lại
nhầm đường hơn hai chục cây số về thị trấn Yên Phú, trung tâm huyện lỵ Bắc Mê. Bởi
vậy dù có đi qua đất Bắc Mê nhưng rồi chúng tôi vẫn chưa đủ duyên với áng tóc
trữ tình của sơn nữ nơi đại ngàn Đông Bắc và lỗi hẹn với cả khu di tích được
coi là địa chỉ đỏ, ghi dấu nhưng trang sử bi hùng một thời của dân tộc ở nơi
tuyến đầu Tổ quốc, nằm bên dòng Gâm xanh biếc - Căng Bắc Mê.
Dù lỗi hẹn với dòng sông và khu di tích lịch sử cách
mạng nhưng cảnh sắc đất trời của Bắc Mê dọc bên quốc lộ 34, từ phố huyện Yên
Phú đến thành phố Hà Giang đã đi vào trong tầm mắt và làm xôn xao cõi lòng bao
người để rồi tâm trí tôi cũng không ít lần bị lạc lối bởi sắc nước, hương rừng
và núi non, mây trời trên những cung đường đầy mê hoặc. Phía bên tay trái thị
trấn Yên Phú trên đường về thành phố là hồ nước xanh màu diệp lục phẳng lặng
như gương ẩn hiện giữa những khe núi với những vách đá dựng đứng, xanh ngắt cây
rừng. Nhìn lên những trái núi nối tiếp nhau xanh biếc cây phủ thi thoảng có làn
sương mù lượn lờ, quấn quyện như màu khói lam chiều huyền ảo dưới những cồn mây
trắng muốt; trông xuống mặt nước thấp thoáng trên mặt hồ xanh bồng bềnh vài ba chiếc
mảng hay thuyền ngư phủ buông câu, thả lưới êm trôi nhẹ nhàng như thể mộng du. Cứ
như thế bầu trời mặt nước tĩnh lặng và an yên, hiện lên đẹp như một bức tranh
thủy mặc. Bắc Mê không chỉ đẹp như cõi mộng mà còn hùng vĩ bởi những cung đèo
vô cùng ấn tượng xứng đáng với những lời truyền tụng “Thứ nhất Su Phì thứ nhì
Bắc Mê”. Đi khoảng 60 cây số từ phố huyện Bắc Mê về thành phố Hà Giang, quốc lộ
34 khá vòng vèo, quanh co với những đỉnh đèo cao thấp. Phải nói rằng đây là một
cung đường tuyệt đẹp, chạy dài giữa những dãy núi mờ sương xen lẫn những rừng già
thanh vắng, âm u, trùng trùng, điệp điệp. Thấp thoáng, ẩn hiện giữa núi rừng
mênh mông hoang sơ, dọc bên đường đi là những bản làng nhà sàn mộc mạc đầy thơ
mộng của đồng bào các dân tộc, những thửa ruộng bậc thang trập trùng nối dài từ
đồi này sang núi nọ như những dải lụa mềm mại giữa đại ngàn mênh mông. Ngang
hai bên đường, bên mép núi quanh co, đây đó có vài lán hàng đơn sơ, hiu hắt với
dăm ống cơm lam hay mấy mới rau rừng của người bản địa dành cho khách bộ hành đi
qua… Nhưng cung đường tuyệt đẹp ấy không phải là dễ dàng cho những du khách,
không dành cho những người tay lái còn non. Chỉ tính riêng đoạn đường cách phố
huyện khoảng mười cây số có chỗ đổ đèo ước chừng tới năm cây số, không tính
những chỗ cua lẻ, chỉ tính những chỗ cua tay áo liên tiếp hình chữ U, tôi đã
đếm được tám khúc cua liên tiếp. Có lẽ cung đường này hiểm trở không kém gì
đoạn dốc chín khoanh trên quốc lộ 4C, đường lên Đồng Văn. Về đến gần thành phố,
từ trên con đường giữa lưng đèo chúng tôi đã nhìn thấy thủ phủ của Hà Giang
xinh đẹp, hiện đại nằm bên đôi bờ Lô giang hiện lên trong tầm mắt với những nhà
cao dãy dài san sát, đông vui, nhộn nhịp. Chợt nhớ ngày nào đó, mười ba năm
trước, thị xã nơi địa đầu cực Bắc mới được công nhận là thành phố. Mới đó mà đã
thay da đổi thịt nhanh quá. Ngắm nhìn thành phố ở giữa cái thung lũng xinh đẹp
được bao bọc bởi những núi non hùng vĩ nên thơ cùng dòng sông Lô trong xanh vắt
qua ngang mình bất chợt tôi lại nghĩ đến sông Thames chảy qua Luân Đôn cổ kính
(Anh) hay sông Hoàng Phố đi qua Thượng Hải (Trung Quốc) thơ mộng. Có lẽ, chẳng
bao lâu nữa thành phố trẻ Hà Giang cũng sẽ nổi tiếng và được nhiều người biết
đến như những thành phố bên đôi bờ dòng sông. Cứ thế, miên man suy nghĩ về thành
phố và dòng sông từng là chứng nhân của lịch sử trên địa đầu Tổ quốc này trong
lòng chợt ngân lên giai điệu da diết và man mác hoài niệm của nhạc sỹ Minh
Quang: “Sông Lô chiều
cuối năm bất chợt gặp câu thơ/ Ai bỏ quên giữa dòng/ Câu thơ nói về một người
con gái/ Bao năm tháng chờ đợi người lính ấy sao mãi không về/ Sông Lô chiều cuối
năm ai tìm về bên ai/ Ta tìm về bên em” (Sông Lô chiều cuối năm).
Thế đấy, một chiều chưa được hòa mình trong nước biếc của Gâm
giang nhưng lại được đắm mình với đèo cao, vực thẳm của núi non hùng vĩ giữa
bao la sắc núi hương rừng. Ta lại lỗi hẹn với dòng Gâm nhưng được trở về với một
dòng Lô trong bao nỗi niềm mê mải, man mác. Bắc Mê ơi, Gâm giang ơi, ta lại hẹn
nhé một lần gặp khác!
Phan Ngọc Anh
Nhắc đến du lịch Yên Bái người ta hay nhớ đến Hồ Thác Bà như một vịnh Hạ Long trên núi bởi vẻ đẹp hữu tình của non nước; thắng cảnh ruộng bậc thang nổi tiếng ở Mù Căng Chải với màu vàng óng ả của những thảm lúa uốn lượn giữa mênh mông trên các sườn núi hay mùa nước đổ nức tiếng bởi bao la ruộng nước lấp như tấm gương khổng lồ phản chiếu cả bầu trời mênh mang; khung cảnh núi rừng hoang sơ, kỳ vỹ ở Tà Xùa bởi sống lưng khủng long chọc trời bồng bềnh trong mây trắng; những bản làng tuyệt đẹp với vẻ bình yên, thơ mộng của đồng bào H’Mông ở Cu Vai, của người Thái ở Tú Lệ… mà bỏ quên một thung lũng được xem là nơi sống chậm, đẹp như tranh vẽ ở Lâm Thượng của người Tày huyện Lục Yên.
Thung
lũng Lâm Thượng cách chợ đá quý Lục Yên khoảng mười lăm cây số, giáp với huyện
Quang Bình của tỉnh Hà Giang. Từ bao đời nay thung lũng luôn trù phú, nằm ẩn
mình dưới những tán rừng xanh mướt bốn mùa và được bao bọc bởi các núi đá vôi
thoai thoải kéo dài tựa như bức trường thành che chắn cả bốn phía; lại được những
con suối, ngọn thác quanh năm mang dòng nước trong lành mát ngọt nuôi đất dưỡng
người nên cảnh sắc nơi đây lúc nào cũng tươi đẹp, tràn trề nhựa sống. Ấy vậy trong
suốt những năm dài, thung lũng ấy dường như bị bỏ quên trên tấm bản đồ du lịch
của Yên Bái. Mấy năm trước đây vùng đất này vẫn giống như một “nàng công chúa
ngủ quên trong rừng” bởi chưa được nhiều người biết đến. Thế rồi một ngày những
tín đồ đam mê xê dịch, thích khám phá chán ngấy những cảnh núi non chập trùng,
rừng thẳm hang sâu, biển rộng sông dài, hồ hoang nước biếc… muốn tìm cho mình một
chốn thanh an, trong lành, yên tĩnh, thư thái để xả bỏ những bức bối, ồn ào,
căng thẳng nên đã rong ruổi khắp các bản làng ở chốn rừng sâu núi khuất mà phát
hiện ra vẻ đẹp bình yên, xanh tươi, trong trẻo, mộng mơ, đáng yêu của Lâm Thượng.
Và rồi những tấm ảnh tuyệt đẹp về nơi non xanh nước biếc với đủ cả đồng cỏ như
thảo nguyên với núi đồi, hang động với muôn hình thạch nhũ lung linh, thác reo
suối chảy xanh trong nhìn soi thấu đáy, nhà sàn mái cọ thấp thoáng bên đồi hoặc
ẩn hiện giữa ruộng lúa nương ngô xanh tươi mát mắt... xuất hiện trên mạng xã hội
làm người ta thích thú, truy tìm và đưa nhau đến. Cứ như thế mà nơi miền xanh
khuất nẻo được thức dậy với một sức sống tiềm tàng dư sức hút hồn không ít người
qua, cả tây lẫn ta, khiến cho bao kẻ thi thoảng lại phải bỏ phố tìm về để vừa
tìm kiếm cho mình một trải nghiệm tươi mới vừa rũ bỏ mọi phiền muộn cho thân
tâm được thanh lọc.
Giờ
đây Lâm Thượng như một công chúa xinh đẹp của núi rừng Tây Bắc vừa bừng tỉnh sau
giấc nồng say nhưng vẫn đang còn bỡ ngỡ, e thẹn duyên dáng trước những đôi mắt
mê mẩn của lữ khách tình si cảnh lạ. Núi đồi và những thảm cỏ xanh tươi, ruộng
nương và những cây lá xanh ngát của thế giới tự nhiên ở Lâm Thượng cùng hòa
trong sắc màu của những bộ trang phục lam chàm lấp lánh ánh kim hay dịu dàng
trong màu xanh nõn chuối của những cô gái bản kiều diễm với làn da trắng ngọc
trắng ngà làm cho khắp cả không gian trong thung sâu ngập tràn một màu xanh đa sắc,
hữu tình để mà gợi lên trong lòng người ta cảm giác về một vẻ đẹp trong lành, tươi
mát, mê say, sảng khoái với một lực hấp dẫn khó cưỡng khiến bước chân người qua
dễ bị níu kéo. Từ trên cao nhìn xuống, giữa màu xanh bát ngát, trập trùng ấy lại
được điểm xuyết bởi thấp thoáng những nhà sàn mái cọ màu nâu hay những con đường
bê tông như những sợi chỉ quanh co nối ngõ này sang ngõ khác, làng nọ đến làng kia
của Bản Lẹng, Bản Khéo, Bản Tông Cại, Bản Tông Pắng A, Bản Tông Pắng B, Bản
Tông Pình, Bản Nặm Chắn, Bản Hin Lạn A, Bản Hin Lạn B, Bản Thâm Pất, Ban Chang,
Bản Nà Pồng, Bản Nà Kèn, Bản Nà Bẻ, Bản Nặm Chọ, Bản Muổi, Bản Thâm Lay, Bản Nà
Kéo. Cứ như thế, Lâm Thượng ru hồn người ta bằng cái cảnh sắc chân quê, bình dị,
nhẹ nhàng nhưng rất ma mị, đầy khơi gợi, quyến rũ ngọt ngào bởi không chỉ ở những
vẻ đẹp nguyên sơ của núi rừng mà còn ở cái không gian mang đậm chất cổ xưa. Nó
khác hẳn nhịp sống hiện đại với những vội vàng, hối hả, tất bật, ồn ào, xô bồ đầy
rẫy những áp lực khiến con người cảm thấy bức bối, khó chịu. Cảnh và người Lâm
Thượng như thế bảo sao người đến không khỏi nao lòng, hoài cổ; bảo sao người ta
lại cứ thích ở mãi; bảo sao người đến đã về rồi lại ước ao có ngày được trở lại!
Có
một thực tế, khi xã hội càng phát triển thì con người ngày càng có xu hướng
quay trở lại với thiên nhiên như thể tìm về cội rễ. Bởi vậy những năm gần đây
trong ngành công nghiệp không khói, loại hình du lịch sinh thái rất được quan
tâm và yêu thích. Hẳn là, đến với du lịch sinh thái người ta sẽ được hòa mình
vào với thiên nhiên, được tận hưởng bầu không khí trong lành của người mẹ hiền vĩ
đại... Chính cái sức hút mạnh mẽ ấy đã làm cho không ít nhà đầu tư quay về xây
dựng các khu du lịch sinh thái ở khắp mọi nơi từ biển khơi cho đến núi rừng, từ
thành thị cho đến nông thôn. Ở những khu du lịch ấy người ta đã phải kỳ công tạo
dựng nhưng cảnh quan giả mà như thật với những “Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng,
cây trồng/ Dải nước đen giả làm suối, chẳng thông dòng/ Len dưới nách những mô
gò thấp kém” để cho du khách có cảm giác được trải nghiệm, có cái cảm giác được
hòa mình vào mẹ thiên nhiên. Chẳng sao. Trải nghiệm thế cũng tốt. Có vẫn hơn
không. Dù sao những sinh thái ấy phần nào cũng giúp tâm hồn người ta được chút
thảnh thơi, làm cho mệt mỏi cũng được rũ bỏ phần nào. Nếu so sánh sinh thái ấy
với môi sinh của Lâm Thượng hẳn người ta sẽ thấy nơi đây là một thiên đường
trên mặt đất. Một sự thật hiện hữu với những tuyệt mỹ từ bản làng, cây cỏ đến rừng
núi, hang động, thác, suối… Tất cả mọi thứ, cái gì cũng có, cũng gợi lên một cảm
giác mãn nhãn với vẻ thanh bình, trong lành khiến ai đã đến thì đều chẳng muốn
rời đi. Này nhé, ví như ngọn thác và dòng suối Nậm Chắn hiện lên trong tầm mắt như
một bức tranh thủy mặc về một vùng sơn cước với vẻ đẹp tuyệt trần, tựa tuyệt
tình cốc. Quanh năm thác nước tung bọt trắng xóa, cấp cho con suối dòng nước
trong xanh văn vắt đưa về các bản làng. Thác, suối Nậm Chắn ấy đến giờ vẫn giữ
nguyên vẹn vẻ hoang sơ cùng với những núi đá và rừng cây xen lẫn lau lách rậm rịt
dọc bên đôi bờ. Men theo lối mòn lên đỉnh thác ta sẽ được hòa mình vào thế giới
tự nhiên không chỉ với cây rừng, hoa lạ mà còn có cả với những thanh âm róc
rách của tiếng nước chảy, tiếng líu lo của chim hót khiến cho tâm hồn được
phiêu thả theo bản hòa tấu của đất trời giữa thiên nhiên kỳ vĩ. Chẳng những thế,
cuối năm bên dòng Nậm Chắn còn là mùa bông lau. Những chòm hoa phất phơ, rung
rinh bên suối lại càng khiến cho núi rừng Lâm Thượng đẹp đến ngỡ ngàng. Những
bông lau bên suối ở Lâm Thượng không mọc nhiều thành bãi mênh mông như thể bên
triền đồi hay bãi sông mà thành từng chòm dưới chân các khe đá. Những đám lau
cao vút, vượt quá đầu người, uốn câu đung đưa sắc trắng của những cánh hoa li
ti đong đưa trong gió tựa như một dải lụa uyển chuyển, bồng bềnh dưới nền xanh
mướt của rừng tre làm cho bao người xao xuyến, mê mẩn. Vẻ đẹp hút hồn của những
chòm lau khiến bao cô nàng không nỡ rời bỏ một cách lạnh lùng mà phải chụp cho
mình một tấm hình bên chòm hoa trắng rung rinh như thể tranh thủ ghi lại một
khoảnh khắc của cuộc đời được hòa mình, tan chảy bên dòng suối mơ mộng, giữa rừng
già cao cả thâm u.
Có
thời đất Lâm Thượng có tên gọi là Minh Khai và Gia Tự… Vùng đất ấy cứ vậy mà
tách ra rồi lại nhập vào, nhập vào rồi lại tách ra, hết Tây Sơn rồi lại Hồng
Phong, cuối cùng lại trở về với tên gọi rút gọn Lâm Thượng. Nói trở về là bởi lẽ
thủa xưa, khi còn là vùng phên dậu của Đại Việt vào thời Lê Sơ vùng đất Đông Bắc
châu Lục Yên, trấn Tuyên Quang này vốn có tên gọi là Lâm Trường Thượng. Nghe kể,
sau khi trung hưng, nhà Lê đã đưa dân từ Hải Dương lên vùng biên viễn Đông Bắc
(trong đó có Lâm Thượng) cùng đồng bào bản địa vừa khẩn hoang phát triển kinh tế
vừa trấn giữ bờ cõi đất nước. Cho nên sau này dù nhà Mạc có xưng vương ở khu vực
này thì dân Lâm Thượng vẫn theo Vũ Văn Mật (người đưa dân đi khẩn hoang) “phò
Lê diệt Mạc”, dấu tích còn lại là đình Lâm Thượng ngoài thờ các thiên thần tự
nhiên, thành hoàng thì còn thờ cả Đức vua Lê Thái Tổ, vua Lê Thái Tông và công
thần Lê Lai. Cái tên Lâm Thượng theo triết tự có nghĩa là rừng trên. Có lẽ là rừng
đầu nguồn chăng? Lâm Trường Thượng phải chăng là rừng dài ở bên trên, phía đầu nguồn,
nơi có thác nước chảy ra. Mải mê ngẫm nghĩ triết tự về địa danh bỗng sực nhớ có
lần được nghe người già nơi đây kể rằng: ở Lâm Thượng tên bản, tên làng vẫn giữ
nguyên tên gọi ngày xưa, không thay đổi theo cách đánh số để người sau còn biết
về lịch sử vùng đất quê mình. Theo đó mỗi bản là một câu chuyện lý giải đầy sức
hấp dẫn. Thâm Quang là nơi hươu nai rủ nhau về để cùng nhau ngụp lặn, tắm mát
giữa những ngày hè oi bức. Thâm Lay là nơi tụ hội của họ nhà lươn nhà trạch.
Thâm Pấc là đầm lầy ngày xưa vịt trời thường bay về tắm gội. Nà Kèn là chỗ hang
động có mạch nước chảy róc rách đêm ngày tựa như tiếng kèn vang lên trong những
ngày hội rộn ràng. Tông Pình Cài là làng có nhiều cây vải lớn. Bản Chỏi là nơi
có nhiều ánh nắng mặt trời… Cứ thế tên bản, tên làng làm người ta hình dung ra
Lâm Thượng là cả một thế giới tự nhiên vô cùng phong phú, hấp dẫn. Nơi đó từng
là chốn hội tụ của muôn loài, mọi vật với đầy đủ sự nguyên vẹn ban sơ. Nghĩ thế
đã thấy sự trong lành, an yên của một miền đất.
Lâm
Thượng là vậy. Bình dị và an yên từ ngày xửa ngày xưa cho đến tận ngày nay. Chốn
thung sâu này vẫn còn nguyên đó cái trong veo của khí trời, cái mát lành của suối
nguồn, cái thơm thảo của cây lá. Nơi ấy cũng có thể là một chốn tìm về cho ai
đó muốn chữa lành, dung dưỡng hay tái tạo năng lượng cho thân tâm; hóa giải được
mọi phong bế; khai mở được luân xa… Thung lũng ấy đúng là nơi con người và đất
trời có thể giao hòa vào nhau, nói như người phương Đông là làm cho tiểu vũ trụ
hòa vào trong đại vũ trụ. Về Lâm Thượng thả hồn trong những bản làng còn nguyên
vẹn nét ban sơ ta mới thấy trân quý cái cái bầu dưỡng khí trong lành, thanh
bình, yên ả cùng với cảnh quan xinh xắn, tươi xanh có thể đạt tới cảnh giới của
cuộc sống hiện hữu trên mặt đất. Nhưng rồi lại chợt nghĩ cái cảnh giới ấy liệu
giữ được bao lâu trong cơn lốc kiếm tiền bằng mọi cách của xã hội thời nay.
Nghĩ thế lại cầu trời người Lâm Thượng sau này hãy học người xưa mà giữ lấy môi
sinh cho muôn đời con cháu. Nghĩ vậy và hy vọng thế.
P/s:
Thung lũng ấy đẹp. Người trong thung lũng ấy cũng đẹp, giàu tình, hiếu khách. Về
đến nhà mà bên tai vẫn văng vẳng đâu đó câu khắp coọi lúc chia tay: “Trăng lặn tháng sau trăng lại mọc/Người xa
người biết gặp lại khi nào”.
Cuối
năm về miền đất Ngọc, 31/12/2023
Phan Anh
Một ngày cuối năm, từng chùm nắng vàng như tơ óng ánh tỏa xuống mặt đất làm cho màn sương khói mờ ảo của đợt gió lạnh tăng cường tan biến, khiến cho vùng quê ngoại thành Hà Nội trở nên căng tràn nhựa sống. Màu nắng hanh hao chảy dài trên những vòm cây xanh biếc, ruộm vàng những góc tường, vắt ngang những mái ngói thâm nâu, nhảy nhót tung tăng cùng những làn gió thoảng trên cánh đồng hoa cúc vàng mênh mang làm cho chúng tôi quên đi cái lạnh khô se sắt đang nứt nẻ thịt da để tìm về quê hương của Tô Hiến Thành, quan đại thần phụ chính nhà Lý và thăm thú, tìm hiểu, vãng cảnh miền đất một thời từng là kinh đô của nhà nước Vạn Xuân với tên gọi là thành Ô Diên.
Ô
Diên thành cũ là một vùng đất rất cổ nay được xác định nằm ở xã Hạ Mỗ huyện Đan
Phượng. Cách đây khoảng mười lăm thế kỷ, miền đất từng đóng vai trò là trung
tâm chính trị, quân sự quan trọng của triều đình Hậu Lý Nam Đế - Lý Phật Tử. “Đại
Việt sử ký toàn thư” của Ngô Sỹ Liên có ghi lại rằng: Năm 557, Lý Phật Tử đem
quân xuống miền Đông, đánh nhau với vua Triệu Việt Vương ở huyện Thái Bình, năm
lần giáp trận, chưa phân thắng bại mà quân của Phật Tử hơi lùi, ngờ là vua có
thuật lạ bèn giảng hòa xin ăn thề. Vua nghĩ rằng Phật Tử là người họ của Lý Nam
Đế nên không nỡ cự tuyệt, bèn chia địa giới ở bãi Quân Thần (phường Thượng Cát
thuộc quận Bắc Từ Liêm) cho ở phía Tây của nước, Phật Tử dời đến đóng đô ở
thành Ô Diên (xã Hạ Mỗ, huyện Đan Phượng). Sau Phật Tử cho con trai là Nhã Lang
lấy con gái của vua là Cảo Nương. Vua bằng lòng gả. Vua rất yêu quý Cảo Nương
nên cho Nhã Lang ở rể. Trong thời gian ở rể, qua Cảo Nương, Nhã Lang biết được
bí mật về sức mạnh móng rồng của Triệu Việt Vương. Sau đó Nhã Lang đã ngầm đổi
móng rồng rồi về cùng cha đánh úp nhà vua và chiếm lấy nước. Sau khi chiếm được
nước, Lý Phật Tử dời đô về Phong Châu. Lý Phật Tử giao thành Ô Diên cho Biệt
suy là Lý Phổ Đỉnh cai quản. Sự kiện chính trị trọng đại này cũng đã được Lê
Ngô Cát phản ánh trong “Đại Nam Quốc sử diễn ca” như sau:
“Triệu Vương giáp trận Thái Bình
Lý thua
rồi mới thu binh xin hòa
Triệu về Long
Đỗ Nhị Hà
Lý về Hạ Mỗ,
ấy là Ô Diên
Hai nhà
lại kết nhân duyên
Nhã Lang
sánh với gái hiền Cảo Nương”…
“Tình
con rể nghĩa vợ chồng
Tin nhau ai
biết ra lòng lừa nhau
Lâu la mới
ngỏ tình đâu
Nhã Lang trộm
lấy đầu mâu đổi liền
Trở về giả
chước vấn yên
Giáp binh đâu
đã băng miền kéo sang
Triệu Vương
đến bước vội vàng
Tình riêng
còn chửa dứt đường cho qua
Đem con chạy
đến Đại Nha
Than thân
bách chiến phải ra đường cùng”
Đất
Ô Diên thời ấy từng có một vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng khi nằm kề bên
ba dòng sông nổi tiếng: sông Hồng, sông Hát, sông Nhuệ. Trước khi trở thành
kinh đô của Lý Phật Tử vùng đất này là một địa bàn gắn liền với cuộc kháng chiến
chống quân xâm lược nhà Lương của Lý Bí và sau khi Lý Phật Tử dời thành về
Phong Châu thì thành Ô Diên vẫn là một quân thành của tướng Lý Phổ Đỉnh. Như vậy
ít nhiều đất Hạ Mỗ cũng gắn liền với không ít các sự kiện trọng đại của đất nước
trong suốt thế kỷ thứ VI và thứ VII. Đặc biệt, ở vùng đất linh thiêng ấy khoảng
năm thể kỷ sau cũng là quê hương của quan Thái úy Tô Hiến Thành (1102 - 1179), một người tài đức vẹn toàn, nổi tiếng là
công minh chính trực, từng phụng sự ba triều vua Lý: Lý Thần Tông, Lý Anh Tông,
Lý Cao Tông và có nhiều công lao trong việc chống giặc ngoại xâm, mở mang bờ
cõi.
Đôi
lời nhắc lại về vùng đất đế đô và nhân kiệt một thủa của Hạ Mỗ như vậy cũng là muốn
tỏ rõ cái căn cớ, mục đích mà đôi chân đã bị dẫn dụ tìm về. Dường như sự dẫn dụ
ấy chẳng phải chỉ riêng mình chúng tôi mà chắc hẳn còn có rất nhiều người cũng
vậy từ bao đời nay. Tuy chẳng còn vàng son lộng lẫy nhưng thời nào Hạ Mỗ cũng có
không ít những tao nhân mặc khách tìm đến để ngưỡng vọng cùng hoài niệm trong
những luyến tiếc:
“Núi sông Lý -
Triệu tan tành
Diều bay mấy
chốn một mình thương ôi!
Chiến hòa
cuộc, phó nước trôi
Cỏ xanh mây
biếc loi thoi đầy thành.”
(Ô Diên cổ thành – Khuyết danh)
Chúng tôi dạo
bước trên đất Ô Diên thủa nọ thấy Hạ Mỗ hôm nay đã có nhiều đổi thay. Diện mạo
của làng quê ngày nào còn thưa thớt dân cư và chưa được trù phú thì nay đã thay
da đổi thịt. Nhà cao tầng mọc lên san sát, đường cái rộng thênh thang trải nhựa
phẳng lỳ, đen bóng đẹp như phố thị, con mương chảy qua làng và khúc sông thủa
xưa sót lại làm thành cái hồ tựa như bán nguyệt được kè đá thoai thoải vững
chắc bên đền Văn Hiến, lăng mộ Thái Úy cùng đình Vạn Xuân, chùa Giác Hải, miếu
Hàm Rồng… giữa muôn vàn cây xanh đang vươn cành rợp bóng, đêm về lại hòa trong
ánh điện tỏa sáng lung linh khiến cho đất Ô Diên xưa đẹp một cách cổ kính mà
tráng lệ.
Về Hạ Mỗ hôm nay, ngắm nhìn
các công trình, di tích đền đài đã được xếp hạng nhưng mỏi mắt vẫn chẳng thấy dấu
vết nào của kinh thành Ô Diên thủa trước. Dấu tích của tiền nhân nay đã vắng
bóng. Ngẫm cũng phải thôi, lịch sử đất nước thăng trầm mười lăm thế kỷ đâu phải
là ngắn. Ô Diên đi
qua tháng năm đằng đẵng với bao bãi bể nương dâu của thời cuộc cùng những với vật
đổi sao dời, quân thành vàng son ngày nào cùng những tòa ngang dãy dọc của người
xưa khó có thể “trơ gan cùng tuế nguyệt”. Bất giác chúng tôi sực nhớ và đi tìm
thành cũ trong nỗi niềm cảm hoài của bao đời thi nhân tiền bối.
“Ô Diên nền cũ
dấu khôn tìm
Bia cổ mờ rêu
có biếc nêm
Quang Phục hồn
thiêng khe suối nghẹn
Cảo Nương mộ
vắng tuyết hoa chìm
Được thua sự
thể theo hoàn cảnh
Canh cử chòm
thôn vẫn cổ kim
Hưng phế người
làng đâu hiểu nhẽ
Ngoa truyền
vua Triệu tiếng đàn đêm.”
(Quá nhị Mỗ -
Ngô Thì Nhậm)
Thế
đấy, những dấu tích vật chất thì đã tàn phai và mất đi theo năm tháng nhưng ký ức
của người đương thời về thủa xưa thì vẫn còn ẩn hiện đâu đó trong dân gian tựa
như lớp trầm tích lắng đọng trong thời gian theo những lời truyền khẩu:
“Làng chúng
tôi Đế vương đất cũ
Người chúng
tôi Tể phụ ngày xưa”
“Đất này là đất cố
đô
Người trung,
trung tự thuở xưa đến giờ”.
Theo
cái mạch chỉ dẫn ấy chúng tôi đi tìm thành cũ đâu đó còn lại trong ký ức của
dân gian; trong niềm tự hào của muôn đời con cháu được gửi gắm trên những bức
hoành phi, câu đối để ngợi ca tiền nhân còn treo trong những đình, đền, cổ tự;
trong sự ngưỡng vọng, tôn thờ của người đời và con dân của Hạ Mỗ.
Bắt
đầu là đình Vạn Xuân. Đình nằm ở giữa làng, mặt nhìn về hướng Tây, đối xứng Văn
Hiến đường và Tri Chỉ đường. Đình thờ Lý Bát Lang và phối thờ Hậu Nam Đế - Lý
Phật Tử và Biệt súy Lý Phổ Đỉnh - đây là các nhân vật nổi tiếng thời Tiền Lý
(thế kỷ thứ VI). Đình được xây dựng trên khu đất cao, rộng và có hình thế “quy
vờn ngọc”. Đình Vạn Xuân có những nét kiến trúc độc đáo, khác biệt với nhiều
ngôi đình nổi tiếng trong vùng. Đình không làm theo kiểu hình chữ nhất, chữ nhị,
chữ công, chữ môn mà thiết kế theo kiến trúc kiểu nội công ngoại quốc với các
nóc nhà được liên kết chặt chẽ với nhau ở phía trên; hệ thống cửa bức bàn kéo dài,
bao quanh mặt trước và cùng tiền sảnh nhà đại đình ở phía dưới tạo thành một hệ
thống liên hoàn tựa như một dinh thự, một hành cung của vua chúa thời xưa, nhìn
rất cổ kính, sang trọng, trang nghiêm. Trong đình hiện có treo đôi câu đối
cổ phản ánh một dấu tích một thời của thành xưa: “Nam Đế Lý triều quốc hiệu Vạn
Xuân, diên đình lưu tích thánh/Ô Diên cảnh thắng đô thành nhất thế, quán tự
hiển thần linh” (dịch nghĩa: Triều Lý Nam Đế, tên nước là Vạn Xuân, ngôi đình
lớn ghi lại tích của đức thánh/ Thắng cảnh đất Ô Diên một thời là Kinh đô, tất
cả sự thờ tự rạng rỡ về sự linh thiêng của Thần linh).
Qua đình chúng tôi sang chùa Giác Hải. Đây là
ngôi chùa rất cổ, toạ lạc trên một khu đất rộng, bằng phẳng ở phía rìa làng.
Theo truyền thuyết, chùa Hải Giác được xây dựng từ thế kỷ thứ VI, cùng thời với kinh đô Ô Diên của nhà nước Vạn
Xuân ở Hạ Mỗ. Chùa được kiến trúc theo trục chính là Đông Nam - Tây Bắc. Bên
ngoài chùa có hai Tam quan. Tam quan ngoại làm giả theo kiểu hai tầng tám
mái. Cổng chùa mở ra phía đường làng. Từ cổng đi vào có con đường dẫn
tới một giếng cổ rất to. Giữa giếng có dựng lầu Quan Âm. Bên trái đường
là Tam quan nội. Tam quan này xây theo kiểu nghi môn với bốn trụ biểu.
Trên thân trụ có các câu đối bằng chữ Hán. Kiến trúc chùa từ Tam quan đi sâu
vào bên trong cũng làm theo kiểu nội công ngoại quốc. Phía sân trước có ba
bia đá dựng dưới gốc cây bồ đề. Tiếp đến là toà Phương đình hai tầng
tám mái, tầng trên treo bộ chuông, khánh cổ đúc từ thời Gia Long (1802-
1820). Đối diện với Phương đình là nhà Tổ và nhà Mẫu. Hai nhà này có quy mô,
kiến trúc giống nhau. Nhà Tổ nằm bên trái, rộng năm gian, xây kiểu tường
hồi bít đốc, gian giữa đặt mười tượng sư tổ. Nhà Mẫu nằm ở bên phải, gian
giữa có bày bộ tượng Tam phủ (Mẫu Thiên, Mẫu Thủy, Mẫu Nhạc), hai bên là
động Sơn Trang và bàn thờ Đức thánh Trần. Sau nhà Mẫu và vườn Tháp. Cách
Phương đình một cái sân gạch rộng là tòa Tiền đường. Tiền đường gồm năm
gian hai dĩ, gian giữa nối với toà Thượng điện khá sâu. Hai gian giáp
đầu hồi có cửa “thoát tục” dẫn vào hành lang tả và hành lang hữu với
dãy tượng gồm mười tám vị La Hán. Hai góc cuối của dãy hành lang nối
với toà Hậu đường rộng bảy gian. Trong Hậu đường có Mật Động. Chùa Hải
Giác hiện còn lưu giữ rất nhiều tượng quý, trong đó có năm mươi tượng tròn mang
phong cách cuối thời nhà Lê đầu thời nhà Nguyễn. Bên trái Tiền đường có tượng
Đức Ông và hai thị giả (Già Lam và Chân Tể); bên phải là Thánh Tăng và hai thị
giả là Diệu Nhiên và Đại Sĩ. Góc tường hồi bài trí giống nhau mỗi bên có bốn
vị Kim Cương và hai vị Bồ tát. Phía đầu nhà Thiêu hương có Hộ pháp Khuyến
Thiện và Hộ pháp Trừng Ác. Dọc theo hai bên là Thập điện Diêm Vương, ở hai
góc cuối có Quan Âm Tống tử và Quan Âm Chuẩn đề. Hiện trong chùa cũng còn lưu
giữ được đôi câu đối có nội dung ca ngợi thành Ô Diên: “Giáo liệt tam tông Hồng
Lạc tảo khai kim thế giới/ Cảnh tiên thập vịnh Ô Diên biệt chiếm ngọc càn khôn”
(dịch nghĩa: Ba giáo phái cùng truyền đạo lý, con cháu Lạc Hồng sớm mở hoàn cầu
quý như vàng bạc/ Mười bài thơ ca ngợi cảnh về trước, kinh thành Ô Diên giữ
riêng trời đất đẹp tựa ngọc ngà).
Kết thúc hành trình vãng cảnh vùng đất đế đô chúng tôi
thăm đền Văn Hiến và viếng “Tô Vương lăng Thái sư mộ”. Đền Văn Hiến nằm ở đầu làng, nhìn về hướng
Đông, nằm trên khu đất khá cao bên hữu ngạn sông Nhuệ xưa. Cảnh quan đền xanh rợp
bóng cây, mát mẻ và thoáng đãng. Khởi đầu đền Văn Hiến là văn chỉ thờ Khổng Tử
để biểu dương các vị khoa bảng trong làng. Nhưng sau khi Tô Hiến Thành qua đời,
nhân dân Hạ Mỗ đã chôn cất, xây mộ và thờ ông tại đây. Qua nhiều lần sửa chữa,
tôn tạo, đền Văn Hiến hiện nay được mở rộng rất nhiều nhưng cơ bản vẫn giữ được
những kiến trúc cũ và các giá trị truyền thống như bộ bia Khoa Tràng ghi tên
các vị đỗ đạt trong các khoa thi; các bản khắc gỗ in bộ thơ văn “Cổ Kim Truyền
lục” do các nhà nho trong làng sáng tác và xuất bản hồi đầu thế kỷ XX cùng nhiều
đồ cúng tế, trang trí khác như thần phả, câu đối, hoành phi, long ngai, hương
án, đồ tế khí, bia đá, đồ sứ, đồ đồng, tượng gỗ… Tất cả những hiện vật này được
xem là những tư liệu văn hóa vô cùng quý giá của Hạ Mỗ.
Đền
Văn Hiến ngoài thờ Tô Hiến Thành thì còn thờ Đỗ Trí Trung (đỗ Tiến sĩ năm
1475). Nhìn từ ngoài đường vào ta thấy trên cổng đền có đắp bốn chữ Hán và đôi
câu đối. Bốn chữ Hán là “Thánh vực hiền quan” (cõi thánh người hiền). Hai câu đối
nội dung cũng lưu ký ức về một thời thành cũ: “Nhuệ thủy giang biên, Văn Hiến
thiện đường kim thánh vực/ Ô Diên thành ngoại, Kim Sơn linh tích cổ hiền quan”
(dịch nghĩa: Bên bờ sông Nhuệ, Văn Hiến thiện đường nay là cõi thánh/ Ngoài
thành Ô Diên, Kim sơn linh tích xưa thuộc cửa hiền. Trong sân đền có tượng danh
nhân Tô Hiến Thành. Văn Hiến đường gồm có các nhà: Tiền tế, Bái đường, Hậu
cung. Trong Hậu cung có chân dung Khổng Tử và Tam thánh (Văn Xương Đế quân – thần
chủ văn chương, Quan Thánh Đế quân (Quan Công), Phu Hựu Đế quân (Lã Đồng Tân, một
trong Bát tiên quá hải). Tượng Tô Hiến Thành và Đỗ Trí Trung cùng bài vị Thành
hoàng làng. Đặc biệt trong khuôn viên đền còn giữ được lăng mộ của Tô Hiến
Thành cùng văn bia bằng đá.
Thái
sư Tô Hiến Thành không chỉ là niềm tự hào của làng Hạ Mỗ mà còn của cả đất nước.
Đương thời ông là nhà chính trị nổi tiếng. Thời vua Lý Anh Tông ông là tướng chỉ
huy dẹp loạn Thân Lợi ở Lạng Sơn. Do có công lao lớn với nhà Lý nên năm 1159
ông được phong chức Thái Úy, ít lâu sau lại được phong Vương. Cùng năm đó giặc Ngưu Hống
và Ai Lao xâm chiếm nước ta, ông lại được cử đi ngăn chặn và thắng trận. Năm
1161, ông lại được giao cầm hai vạn quân đi kiểm tra miền Tây Nam và vùng ven
biển, trấn áp giặc cướp, giữ yên cương vực. Trong giai đoạn này, ông đã tổ chức
cho quân dân khai hoang lấn biển và lập lên nhiều làng mới ven biển thuộc các
tỉnh Quảng Ninh, Hải Phòng, Thanh Hóa... Năm 1167, giặc Chiêm lại tấn công
nước ta, vua Lý Anh Tông tiếp tục cử ông Nam chinh. Tô Hiến Thành lại một lần
nữa ra trận và chiến thắng làm vị thế của quốc gia Đại Việt đương thời trở nên
hùng mạnh khiến các nước lân bang phục nể, nhà Tống phải dè chừng. Năm 1175 Khi Lý Anh Tông ốm nặng, trước khi mất, vua
có ủy thác cho ông giúp đỡ Thái tử Long Trát. Khi đó Thái tử mới hai tuổi. Bà
hoàng hậu Chiêu Linh muốn đưa con mình lên thay đã đem vàng bạc dụ dỗ ông nhưng
ông khẳng khái từ chối và nói: “Làm việc bất nghĩa mà được giàu sang; người
trung thần nghĩa sĩ lẽ nào lại làm? Huống chi lời nói của vua trước còn văng vẳng
bên tai. Tôi không dám vâng lời”. Năm 1179, ông ốm nặng, Tham tri chính sự Vũ
Tán Đường ngày đêm hầu hạ chu đáo. Bà Thái hậu họ Đỗ đến thăm nhân tiện hỏi về
người thay thế. Ông đáp “Trần Trung Tá có thể làm được”. Thái hậu nói “Tán Đường
ngày nào cũng hầu hạ thuốc thang sao ông không nói đến”. Ông đáp “Vì Thái hậu hỏi
người thay tôi nên tôi mới cử Trần Trung Tá, nếu hỏi người săn sóc, nuôi dưỡng
tôi thì không phải Tán Đường thì còn ai khác nữa!”. Đánh giá về ông, đời sau
Phan Huy Chú có viết: “Ông làm quan đầu triều, nhận trọng trách hết lòng hết sức;
khéo sử trong khi biến cố, dù sóng đánh đập, lay chuyển mà cột đá vẫn trơ trơ
không đổi, cuối cùng khiến cho trên yên, dưới thuận, thực không hổ thẹn với
phong độ của bậc đại thần thời xưa”.
Chân
bước đi trên đất người xưa, “Cỏ xanh mây biếc loi
thoi đầy thành” cũng chẳng còn. Bất chợt trong lòng trào dâng một nỗi niềm
hoài cổ và lại nhớ đến câu thơ của Trương Hán Siêu khi dạo chơi trên sông Bạch Đằng
thửa xửa:
“Đứng lặng giờ lâu.
Thương nỗi anh hùng đâu vắng
tá”
Nghe nói, cách đây vài năm chính quyền Hà Nội công đã công nhận xã Hạ Mỗ là một điểm du lịch. Hy vọng trong tương lai “thành cũ” “người xưa” ở Hạ Mỗ sẽ được nhiều người biết đến và tìm về ngưỡng vọng… Và có cả một ước mơ: “Ô Diên” sẽ được nghiên cứu và phục dựng để cho một thời vàng son không chỉ còn lại trong ký ức.
Phan Anh
Một ngày đầu đông, những tia nắng mơ màng, dịu êm thả mình nhẹ nhàng trên những ô cửa của những ngôi nhà mái ngói thâm nâu trên phố với muôn sợi vàng tơ mong manh giữa tiết trời đã bắt đầu se lạnh nhưng còn vương vấn mùa thu bởi heo may vẫn thấp thoáng như thể đang chần chừ chưa muốn dời đi hẳn khiến cho đất trời trở nên trầm mặc bâng khuâng nhưng cũng không kém phần kiêu sa, quyến rũ khiến cho lòng người không khỏi thổn thức, chộn rộn mà lâng lâng, xao xuyến. Cái khí trời như thế bỗng làm ta rạo rực nhớ về xứ Mường chốn đất Tổ với những ốc đảo trập trùng xanh biếc hương chè, bồng bềnh trong sương mây và rồi không khỏi thôi thúc, giục giã đôi bàn chân ngồi yên một chỗ. Phải bước ra khỏi nhà, xách ba lô lên và đi… Nhanh nhanh, kẻo mùa đi không trở lại.
Gác lại những bộn bề của công việc,
rủ thêm mấy đồng nghiệp cùng đi, chúng tôi dành một ngày cuối tuần để đến vãng
cảnh Long Cốc, đất Mường ở huyện Tân Sơn tỉnh Phú Thọ. Chẳng là, trước đó tôi
được nghe mấy ông bạn phượt bảo rằng chỗ đó có những đồi chè trập trùng nối
đuôi nhau đẹp mê hồn, tựa chốn bồng lai tiên cảnh và được ví von như vịnh Hạ
Long của vùng trung du nên rất náo nức. Cả đêm lục đục tìm kiếm thông tin đường
đi, nạp pin và xem lại máy ảnh, nghe ngóng thời tiết …; sáng sớm, í ới gọi nhau,
rồi theo đại lộ Thăng Long, mấy anh em nhanh chóng đi qua vùng núi Tổ Ba Vì, vượt
cầu Đồng Quang bắc qua sông Đà, cắt ngang Thanh Thủy, Thanh Sơn bỏ lại sau lưng
những phố với phường cùng bao ồn ào, bùi bặm để tiến về Long Cốc. Khi xe đi qua
điểm cuối của tuyến đường cao tốc, đi hết đất Thạch Thất và chạy trên đất Ba Vì,
qua cửa kính của xe ô tô, chúng tôi thấy hiện dần ra trước mắt một không gian
bao la yên tĩnh với những cỏ cây mướt mát cùng với dòng nước trong xanh của mùa
thu để lại trên các con suối và dòng sông. Một cảm giác thanh bình và trong
lành của bầu sinh thái vùng bán sơn địa chợt dâng lên trong lòng làm cho ai nấy
khoan khoái, thích thú. Chẳng ai nói ra nhưng dường như ai đấy đều quá chán
ngán với những cái ngột ngạt của nhà kính, của đường tắc, của khí trời ô nhiễm,
của âm thanh hỗn tạp… nên thoáng thấy cái an lành của đất trời bỗng trở nên hân
hoan và thèm khát. Thì ra, ở những nơi có dãy nhà chọc trời, trên những con phố
lấp lánh ánh điện, dập dìu tàu xe… người ta vẫn đói khát. Đó là cái đói khát dưỡng
khí trong lành. Bởi thế bảo sao người ta cứ thích kéo nhau lên rừng, xuống biển;
tìm về những chỗ đồi xanh, núi tĩnh, hồ trong… để bổ sung dưỡng khí mà hồi
sinh, bảo dưỡng, thanh lọc cho thân tâm. Cứ thế, mải mê trong những nghĩ suy về
việc tìm kiếm sự thư thái, an lạc cho tâm hồn và bổ sung nguồn dưỡng chất tinh
khiết cho tâm hồn mà xe đi vào xứ chè đất Mường lúc nào chẳng rõ.
Những ngày chớm Đông, tiết trời giao mùa ở xứ
chè hiện lên đẹp như cổ tích khiến cho Long Cốc lúc nào cũng như mời gọi và hút
hồn người xem. Men theo những con đường nhỏ mà hơi sương còn đẫm trên những đám
cỏ, uốn lượn bên xuống bên sườn đồi, chạy vòng vèo từ quả đồi này vắt sang quả
đồi kia hoặc quấn quanh từ chân đồi theo hình trôn ốc để dẫn lên đỉnh đồi cao
nhất làm cho chúng tôi không khỏi thích thú và ngạc nhiên đến ngỡ ngàng. Bát
ngát trong tầm mắt là cả một vùng không gian mênh mông nhấp nhô đồi biếc san sát bên
nhau như những chiếc bát khổng lồ úp trên mặt đất và xen kẽ dưới chân đồi là
những ruộng lúa đã thu hoạch chỉ còn xâm xấp nước trên bề mặt với các gốc rạ
đang nảy mầm xanh hiện lên trong màn sương huyền ảo cùng với những dải mây bàng
bạc bồng bềnh khi thì ngang lưng đồi như những làn khói tản khi thì luồn xuống
thung sâu quấn trên những vạt chè xanh non phía dưới chân đồi xa tít tạo thành
một bức tranh vô cùng thích thú bởi những nét hoang sơ, huyền ảo kỳ diệu của
đất trời.
Người ta bảo những đồi chè ở Long Cốc
đẹp nhất trong tiết trời khi cuối thu đầu đông. Khi ấy cái lạnh tràn về nhưng
không giá buốt mà chỉ se se vừa đủ cho trai gái sát lại gần nhau trong một vòng
tay ấm, cái nắng vẫn còn nhưng không gắt gỏng, chói chang mà lung linh, sóng
sánh tơ vàng phản chiếu muôn giọt long lanh của đêm thu để lại còn li ti tựa như
hơi sương trên những búp chè khiến cho cảnh sắc xứ Mường đất Tổ trở nên tinh
khôi và tràn trề nhựa sống. Dường như trong những ngày này ở Long Cốc có cả vẻ
đẹp của tụ hội của bốn mùa xuân hạ thu đông. Buổi sớm, khi ánh bình minh nhô
trên đỉnh đồi, khí trời vẫn còn lành lạnh, hơi sương là là bay và vương trên
muôn lá chè xanh làm cho đất trời ẩm ướt cứ như mơ như thực. Ấy là tiết trời
khi đông qua xuân về. Gần đến giữa trưa, nhưng hôm không bị sương mù, muôn ngàn
tia nắng vàng tươi như rót mật dải xuống những nương chè làm cho mênh mông xứ
Mường long lanh một màu xanh ngọc bích. Những tia nắng càng trưa càng ấm lên và
xua tan cái lạnh khiến cho toàn bộ khung cảnh đồi chè Long Cốc không còn mờ ảo dưới tầng
mây mà bừng lên cái sắc
trời ửng hồng, giữa bốn bề vô cùng thanh bình,
yên tĩnh. Đó là một sớm mùa hè đầy sảng
khoái. Khi quá ngọ sang chiều, ốc đảo Long Cốc mơ màng trong tiết trời mùa thu.
Cả không gian bồng bềnh mây trắng, nhìn xa xa tựa như những làn sương mờ ảo bị
quấy rối bởi những tia nắng xiên chéo đang len lỏi xuống những luống chè xanh
mát mắt tạo thành sắc màu mơ phai vô vàn quyến rũ trong cái lạnh se se chuẩn bị
đón màn đêm buông xuống mịt mùng. Đến cuối ngày, chuẩn bị bước vào đêm tối,
sương vờn mây bay trên những vòng cung đang trải ra khắp mênh mang một màu xanh
bát ngát cùng với vầng sáng yếu ớt của ngày tàn như đang chuẩn bị lẩn khuất xuống sau đồi
đã làm thành một khung hình vô cùng
diệu ảo. Càng lùi về tối, trời càng lạnh hơn nhưng không giá buốt. Dường
như đây là thời điểm ngắn ngủi nhưng đẹp nhất trong ngày đối với những người
thích xê dịch và mê ảnh. Ở Long Cốc, đợi chờ ánh hoàng hôn rơi xuống những
nương chè cũng là cơ hội duy nhất và cuối cùng trong ngày cho những tay may mê
ảnh để sau đó mọi vật đều giã từ ánh sáng ban ngày và đi vào màn đêm tĩnh mịch
với cái lạnh êm ái của buổi đầu đông khiến cho những đồi chè mang một vẻ đẹp rất nên thơ và cũng
rất trữ tình.
Đến
xứ chè đất Mường, muốn thu vào tầm mắt muôn trùng nước non của Long Cốc người
ta đưa nhau lên đỉnh cao nhất trên đồi Bông để được mãn nhãn với những ốc đảo
hàng trăm ngọn trập trùng, xanh biếc chè tươi đang tầng tầng lớp lớp san sát
bên nhau nhấp nhô, uốn lượn như triều dâng, sóng cuộn. Từ trên đồi cao thả
buông đôi mắt xuống ngắm nhìn người ta dễ dàng trông thấy những luống chè xanh
mướt, ngay ngắn, tăm tắp như những đường vân tay trên mỗi quả đồi mà mê mẩn. Giữa
bao la đất trời, cái màu xanh ngút ngàn ấy dường như đang cộng hưởng với những
quầng sáng diệu kỳ của mặt trời lấp ló hay tà dương sắp tàn và sương bay bảng lảng
khiến cho Long Cốc hiện ra như bức họa đồ khổng lồ, đẹp đến mê hồn. Thực sự, ốc
đảo đã đem lại cho mắt nhìn một bữa tiệc thị giác thật khó quên trong cái lạnh
đặc trưng của miền Trung du “rừng cọ đồi chè”; làm người ta ngỡ ngàng như đang
lạc bước giữa miền cổ tích hay chốn bồng lai ở miền nhân gian.
Mọi
khoảnh khắc trên những đồi chè ở Long Cốc đều rất đẹp, đẹp cả bốn mùa, đẹp từ
những cung đường đất quanh co còn rất hoang sơ cho đến cảnh sắc mây trời phiêu
ru, huyền ảo. Người ta bảo Long Cốc là hang ổ của những con rồng. Phải chăng
nhìn hàng trăm quả đồi lớn nhỏ như một tấm thảm màu xanh giữa đất trời thanh
an, tươi mát mà người ta đã liên tưởng đến nhưng con rồng đang cuộn mình uốn lượn
mà đặt tên là Long Cốc? Nếu đúng thế thì Long Cốc đâu phải chỉ có đẹp, có thể
cái thế đất rồng cuộn ấy còn là một huyệt đạo tâm linh của xứ Mường trên miền đất
của các vua Hùng đang dần hiển lộ? Ngược dòng thời gian trở lại những năm sáu
mươi của thế kỷ trước, Long Cốc đâu có như bây giờ. Tấm thảm xanh biếc tràn trề
nhựa sống kia của Long Cốc chỉ là những đồi nứa, nương sắn. Phải cho đến những
năm cuối của thế kỷ hai mươi Công ty chè Phú Đa được thành lập rồi lại một thập
kỷ rưỡi nữa, đến năm 2015, khi Hợp tác xã sản xuất chè an toàn Long Cốc ra đời
và khẳng định được thương hiệu thì người ta mới kéo nhau đến và phát hiện ra một
Hạ Long trên cạn. Và thế là Long Cốc được người dân khắp nơi biết đến và kéo về
chiêm ngưỡng, sống ảo, nhất là giới trẻ. Cứ thế ốc đảo chè Long Cốc trở thành một
điểm du lịch sinh thái tuyệt vời từ lúc nào chẳng rõ. Ấn tượng hơn, khi bức ảnh
“Miền trung du thức giấc” của nhiếp ảnh gia Bùi Việt Đức chụp cảnh đồi chè Long
Cốc khi buổi sớm đạt giải Bạc trong cuộc thi ảnh quốc tế First Half of 2021 thì
giới nhiếp ảnh thi nhau về Long Cốc để chụp ảnh và cùng nam thanh nữ tú “sống ảo”
như thể đang ở thiên đường trên mặt đất là có thật. Thế đấy, Long Cốc ngày càng
được nhiều người biết đến và thích thú, rồi trở đi trở lại như bị nghiện. Và rồi,
cái vẻ đẹp huyền diệu và dưỡng khí trong lành của ốc đảo chè Long Cốc được dân
phượt và giới nhiếp ảnh phong tặng cho cái danh hiệu “Đệ nhất đồi chè”. Chẳng
những thế, họ còn truyền tai nhau rằng: nếu cảnh đẹp của những đồi chè Long Cốc
xếp hạng thứ hai thì ở Việt Nam sẽ không có đồi chè nào xếp hàng thứ nhất.
Chợt
nhớ, có thời, khi sự cố Formosa xả thải nhiễm độc làm cá chết nổi trắng biển miền
Trung, cướp đi nghề cá của dân đi biển đồng thời cũng làm mất một miền du lịch
hấp dẫn khi hè về khiến người ta phát hiện ra những đảo chè Thanh An ở Thanh
Chương tỉnh Nghệ An. Nhờ flycam người ta nhìn thấy khoảng trên dưới bốn mươi đảo
chè lớn nhỏ đẹp như tranh vẽ giữa hồ nước mênh mông, rồi họ tung lên mạng làm
người ta ngây ngất và nô nức kéo về. Nếu chỉ có thế thì bõ bèn gì với những ốc
đảo ở Long Cốc. Không tính đến cảnh sắc, chỉ tính số lượng đồi chè thôi thì
cũng nhiều gấp bội. Rồi nữa người ta còn so sánh những đồi chè ở đây với Sa Pa,
Đà Lạt hay Mộc Châu, Thái Nguyên để rồi tự rút ra rằng. Đồi chè ở Đà Lạt, Sa Pa
đẹp mơ màng trong sương giăng phố núi. Đồi chè ở Mộc Châu, Thái Nguyên nức tiếng
với những luống chè tươi non, mướt mát của màu lục bảo tựa như những vòng hoa
tay của tạo hóa. Như thế mỗi nơi một vẻ. Còn những đồi chè ở Long Cốc lại hội tụ
và sở hữu cả hai thế mạnh của từng nơi. Bởi thế những đồi chè ở Long Cốc mùa nào cũng đẹp. Đất trời thoáng
đãng, không khí trong lành lại yên tĩnh, không ồn ào bởi những tiếng còi xe,
không bị bụi mờ che phủ, không có những công trình nhân tạo che mất cảnh quan. Cho
nên bảo sao những đồi chè Long Cốc cứ hút hồn những trai thanh nữ tú, nhất là vào dịp cuối
tuần thanh niên nô nức đưa nhau đến đây để check in hòng lưu giữ cho mình những
khoảnh khắc đẹp nhất của tuổi thanh xuân.
Vẻ
đẹp của đất chè Long Cốc không chỉ có sắc màu sinh thái mà còn là tinh hoa của
trà ngon thượng hạng. Có lẽ ngoài đôi bàn tay cần cù chịu khó trên những lưng đồi
hôm sớm, cây chè ở
Long Cốc vốn là những cây chè Bát Tiên (dùng để sản xuất trà Ô Long) có gốc từ
Đài Loan được du nhập về đất Mường và sớm hợp thổ nhưỡng nên đã phát triển mạnh
mẽ để làm thành thương hiệu cho danh trà đất Tổ. Dường như cây chè ở Long Cốc
hấp thụ được tất cả những tinh túy của trời đất nên khi pha nước vào trà có sắc
nước trong xanh sóng sánh của màu cốm mới mùa thu; có hương thơm mà chẳng cần
tẩm ướp; có đủ cả ba vị đắng, chát, ngọt nhưng uống vào không quá chát, quá
đắng mà chỉ còn thanh mát, ngọt ngào vương vấn nơi yết hầu mà làm cho tinh thần
trở nên sảng khoái, nhẹ nhõm thân tâm. Cái chất chè như thế không thể làm người
ta không mơ ước đến một ngày nào đó danh chè Long Cốc được sánh ngang với những
vùng đất chè nổi tiếng của Đài Loan, Trung quốc hay Sri Lanka ... Khi ấy viên
ngọc thô Long Cốc đâu chỉ còn còn là những bức ảnh huyền ảo đầy quyến rũ? Hy
vong và ước mơ như thế để rồi mai đây xứ chè đất Mường sẽ tề danh cùng với những
thắng cảnh chè hảo hạng mang tầm quốc tế xứng tầm với lịch sử ngàn năm nơi đất
Tổ của các vua Hùng.
Đến
xứ chè Tân Sơn, ta thấy vẻ đẹp của những đồi chè ở Long Cốc quả là một vẻ hoàn
mỹ của tự nhiên ban tặng cùng đôi bàn tay cần cù, khéo léo của người dân bản địa
vùng đất Tổ mà làm thành. Cái không gian xanh mát của hàng trăm đồi chè san sát như bát úp cứ nhấp nhô, nối tiếp
nhau cùng các lối nhỏ ngang dọc trên các
luống chè để tạo thành những lát cắt xinh xắn đầy quyến rũ như thể những lời mời
gọi khiến người ta khó cưỡng. Hơn những thế, ẩn hiện nơi xa xa, thấp thoáng những bóng sơn nữ đeo gùi hái chè vào buổi sớm
mai trên những triền đồi trong màn sương mờ ảo tạo thành một khung hình đầy thơ
mộng trong ánh mắt càng làm mê mẩn người lãng khách. Long Cốc như thế bảo sao
không gây thương nhớ. Thế thôi, cũng đủ để khắc sâu một nỗi nhớ miên man về
vùng quê chè đất Tổ.
Phan Anh