Home » Thạch Thị Sene
- Trang chủ
- |
- Giới thiệu
- |
- Quy ước
- |
- Tác giả
- |
- Thư ngỏ
- |
- Lá thư Bông Tràm
Tác phẩm kỷ niệm 10 năm hoạt động của Bông Tràm, có sự góp mặt của 50 tác giả với trên 100 tác phẩm. Sách dày 312 trang, khổ 13 x 19 cm, giá 100.000 đồng.
Mới sáng sớm đã nghe tiếng chị thằng Bảy Nhỏ quát mắng:
- Sáng sớm đã say xỉn, người không ra người, có con vợ
hiền lành, giỏi giang như vậy mà không biết thương, cứ hành hạ nó suốt, nó bỏ
đi là phải rồi, ở với mầy có ngày chết à. Giờ sáng mắt ra chưa? Tết nhất mọi
năm có nó ở nhà lo nhà cửa, cúng kiến, giờ thì tết đến rồi nhà cửa như chuồng
heo không ai dọn dẹp, mầy chỉ biết nhậu là giỏi! Thằng Bảy Nhỏ lầu bầu gì đó
tôi không nghe rõ. Chị nó lãi nhãi một hồi cũng bỏ về.
Nhà thằng Bảy Nhỏ cách nhà tôi một con mương nhỏ vừa
đủ chiếc xuồng ba lá bơi qua khi nước lớn, còn nước ròng mương cạn cứ việc lội
qua, nếu sợ dơ thì lấy một khúc tre bắt ngang làm cầu là có thể qua được. Do
vậy, hai gia đình cũng thường xuyên qua lại, tối lửa tắt đèn có nhau như ông bà
ta thường nói “bán anh em xa, mua láng giềng gần”.
Mẹ nó trước đây chuyên đi cắt lúa mướn, nghe nói một
lần đi cắt lúa ở miệt Sóc trăng thì gặp ba nó, một người đàn ông khmer đã có
gia đình đàng hoàng, không hiểu sao bỏ vợ con, nhà cửa, đất đai theo mẹ nó về
đây sinh sống và sinh ra nó đặt tên là Bảy
Nhỏ (bởi trước nó, má nó đã có 6 đứa con với người chồng trước đã mất). Ngay từ
bé, thằng Bảy Nhỏ nổi tiếng phá phách, hỗn láo và ăn cắp vặt. Suốt ngày nó đi
rảo hết vườn nhà này đến vườn nhà khác để hái trái cây, vớt ốc, bắt cá, ngay cả
ao nuôi cá của người ta nó cũng không tha. Nếu chủ bắt gặp nhắc nhở buông tha
thì thôi, bằng không nó càng phá dữ cho bỏ ghét. Nó nhanh như sóc, leo trèo
thoăn thoắt, cây cao cỡ nào nó cũng leo được. Bắt nó như bắt cóc bỏ dĩa, bắt
chỗ này nó nhảy chỗ khác. Còn nhỏ nhưng nó chửi thề, nói tục như bắp rang,
không từ ai, kể cả ba má nó, thậm chí đến trường nó chẳng xem thầy cô ra gì nên
học hết lớp 2 biết đọc biết viết là nó nghỉ học. Không đến lớp, thời gian rảnh
của nó nhiều, nó càng đi phá dữ hơn. Ba má nó không khiển được nó nên đành
buông xuôi, nó làm gì thì làm, làng xóm than phiền trách móc cũng chịu chứ biết
làm sao. Thời gian qua nhanh, chẳng mấy chốc nó trở thành một chàng trai khỏe
mạnh, nó bắt đầu đi làm thuê, làm mướn kiếm tiền phụ giúp gia đình. Được cái
khỏe mạnh làm được việc nên nó có việc làm đều đều, nhờ vậy tật phá phách, ăn
cắp vặt của nó cũng bớt dần. Ai cũng mừng cho nó và hy vọng nó sẽ nên người.
Rồi nó có vợ, nó thương một cô gái xóm trên nhưng gia
đình nhà gái kiên quyết không gả vì nó có quá nhiều “thành tích”. Nhưng có lẽ
cô vợ mắc nợ nó từ kiếp trước nên dù bị gia đình ngăn cản vẫn bỏ đi theo nó. Tưởng
lấy được cô vợ ngoan hiền, giỏi giang, nó sẽ yêu thương vợ cùng nhau chăm lo
cho gia đình nhỏ của mình. Ai ngờ, có vợ rồi nó càng đổ đốn hơn. Tất cả công
việc nhà cửa, vườn tược, đồng áng nó giao hết cho vợ, nó cũng chẳng đi làm thuê làm mướn như trước đây mà
chỉ chú tâm vào việc đá gà. Nó nuôi mấy con gà đá, chăm sóc chúng hơn cả chăm
sóc ba má và vợ nó. Vợ nó, từ một cô gái trẻ trung mơn mỡn, tràn đầy sức sống,
ngày càng xuống sắc, héo úa vì quá áp lực, vậy mà nó có thương đâu, không vừa ý
là nó chưởi, nó đánh không thương tiếc. Nó đánh vợ như cơm bữa. Có đêm nó quăng
vợ nó xuống mương trước nhà không cho lên. Nó cũng không cho ai đến giúp kể cả
ba má nó. Cô vợ cứ thế chịu trân đợi đến khi nó mệt mỏi đi ngủ mới dám bò lên
vào nhà. Vậy mà sáng sớm lại tất bật việc trong việc ngoài. Ai cũng khen vợ nó
quá giỏi, 3-4 thằng đàn ông làm không lại, mà vợ nó giỏi thật, quần quật suốt
ngày, lúc nào quần cũng xăn lên tận gối, lội đi kiếm cá, vớt ốc, hái rau, làm
không ngớt tay. Cực khổ là thế nhưng lúc nào cũng vui vẻ, xởi lởi với mọi người
nên ai cũng thương, cũng quý mến. Khi có con, vợ nó càng cực hơn, vừa địu con
vừa làm việc chẳng ai phụ giúp, hở ra là bị chưởi, bị ăn đòn. Thương cô vợ, mọi
người khuyên ôm con vê nhà mẹ đẻ hoặc trốn đi nơi khác, sống chi mà khổ quá, ở đây có ngày nó đánh chết. Thế rồi một ngày
vợ nó ôm con bỏ đi thật, nghe nói lên Sài Gòn ở nhờ nhà bà con. Sài Gòn mênh
mông nó chẳng biết đâu mà tìm. Không có bàn tay của vợ, nhà cửa vắng hoe, bề
bộn, bẩn thỉu, nó chẳng thèm dọn dẹp. Cả tháng trời nhà nó im ỉm bởi chẳng có
ai để nó trút giận mỗi khi thua cá độ gà. Mọi người mừng vì vợ nó được thoát
nạn. Rồi chẳng biết bằng cách nào, nó tìm được vợ con và năn nỉ đưa về. Tưởng
sau việc này nó thay đổi thương vợ con nó hơn, nhưng niềm vui không được bao
lâu, vợ chồng vui vẻ được mấy ngày thì tính gia trưởng, cọc cằn của nó trỗi dậy
và vợ nó lại hứng chịu những trận đòn và nghe lời chưởi rủa của nó.
- Tao đánh cho mầy chết, chừa cái thói bỏ nhà ra đi
nè. Tao đập cho què chân xem mầy có đi được hay không. Cho dù ông trời có xuống
đây cũng không cứu được mầy. Nó đánh,
chưởi vợ không thương tiếc, mặc cho con khóc la xin tha cho mẹ nó.
Lần nầy vợ nó không đi mà âm thầm chịu đựng, nhẫn nhục
cho qua. Tôi thấy vợ nó làm giàn trồng
khổ qua, bầu, bí, trồng ngò om, ngò gai cắt đem bán, cứ có khoảnh đất trống là
vợ nó lại gieo trồng miễn có thứ để bán. Con nó cũng đã lớn, biết bênh vực mẹ
cãi lại ba nó, lần này thằng con gánh đòn thay cho mẹ. Thằng bé cũng lì đòn,
đánh đau thế nào cũng không khóc. Cứ thế ngày qua ngày tánh tình thằng Bảy Nhỏ
vẫn không thay đổi, cứ sáng là ôm gà đi tìm độ, trưa về ăn cơm, ngủ, chiều lại
ôm gà đi tìm độ tiếp, chẳng quan tâm gì đến nhà cửa, ruộng vườn, mặc vợ con làm
gì thì làm. Con thằng Bảy Nhỏ rất khỏe, tính tình cũng dễ thương, không phá
phách như ba nó hồi nhỏ. Học hết cấp 2, thằng con cũng nghỉ học phụ giúp mẹ nó
làm vườn, sau xin đi làm công nhân ở nhà máy chế biến thủy sản. Thằng Bảy Nhỏ
coi vậy mà ngán thằng con, mỗi lần gây sự chưởi vợ là thằng con đứng ra bênh
vực mẹ nó. Thằng con tuyên bố thẳng thừng:
- Tôi còn ở nhà này là vì mẹ tôi, nếu ông còn đánh mẹ
tôi nữa, tôi và mẹ sẽ ra đi và tôi cũng không tha thứ cho ông đâu. Ông không
biết trân trọng vợ con, trân trọng gia đình, cuối đời ông sẽ sống trong cô độc,
lúc đó ông đừng trách vợ con quay lưng lại với ông.
Vợ nó cũng nói:
- Khi nào con lớn, tự lo cho nó được, tôi cũng đi, căn
nhà này không có gì để tôi lưu luyến. Nó
tự tin bảo:
- Có giỏi thì mẹ con mầy đi đi, xem có chết đói không.
Tao không cần ai hết.
Vợ nó chẳng thèm trả lời, cứ lẳng lặng làm việc, có lẽ
đứa con là động lực giúp vợ nó mạnh mẽ, tự tin hơn. Một ngày sau khi đi đá gà
về, nó chẳng thấy vợ con đâu, bếp lạnh tanh, nó đói bụng cồn cào, vừa chưởi vừa
réo vợ con nhưng chẳng ai lên tiếng. Nó nghĩ con đi làm còn vợ chắc quanh quẩn
đâu đây. Nó lầm bầm “dám bỏ đói ông à, chút nữa về đây biết tay ông”. Nó mang
bụng đói đi ngủ nhưng đến chiều vẫn không thấy vợ con về, nó xem tủ quần áo thì
trống trơn. Vợ con nó đã bỏ đi thật rồi. Nó nhớ lại những lời vợ nó nói, nó
tưởng vợ nó đùa, không ngờ vợ nó đi thật. Nó vẫn chưa tin:
- Để xem mầy đi được mấy ngày, lần nầy về biết tay
tao.
Vợ con bỏ đi, trong túi chẳng có đồng nào (bởi nó có
làm gì ra tiền), nó sang xin tiền chị và mẹ nó. Mầy ngày đầu nó vẫn bình thản,
vẫn ôm gà đi đá độ, ăn uống cho qua bữa và nghĩ vợ con đi vài hôm sẽ quay về. Nó đợi một tuần, một tháng… giờ đã hơn 1 năm, vợ
con chẳng tin tức. Giờ thì tôi biết lý do vợ nó làm quần quật ngày đêm là để
tích lũy tiền cho một chuyến đi xa. Chịu đựng ngần ấy năm đã là quá giỏi. Không
vợ con, nó thiu thủi một mình, nhà cửa bề bộn, nó chẳng buồn dọn dẹp, bếp núc
lạnh tanh, nó chẳng nấu ăn. Vườn tược cỏ ngập đầu cũng không thèm chăm sóc. Mấy
con gà đá thua độ hay đem bán cũng không
thấy. Giờ nó không còn sức đi đá gà nhưng lại nghiện rượu, ngày nào cũng say
xỉn không lúc nào tỉnh. Không có vợ con để chười giờ nó nói một mình, miệng lảm
nhảm như thằng điên. Ba má, chị nó hết mắng chửi lại nhỏ nhẹ động viên nhưng khuyên
cách nào nó cũng không nghe, riết rồi mọi người cũng bỏ mặc nó chẳng thèm nói
tới. Có đêm nằm nghe nó ho sù sụ, tôi chẳng thể nào yên tâm mà ngủ, sang thăm,
thấy nó nằm trên võng, người nhỏ thó. Chỉ mới 40 tuổi mà như ông già 60 vậy.
Tôi mang cho nó mấy viên thuốc ho, bát cháo thịt, bảo nó ráng ăn lấy sức, cứ đà
này sẽ không sống nỗi. Tôi khuyên nó:
- Ráng giữ gìn sức khỏe, chí thú làm ăn rồi đi tìm vợ
con về. Vợ con là để yêu thương chứ không phải để trút giận.
Nó im lặng chẳng nói gì. Tôi nhìn nó không biết nó
đang nhớ vợ con hay nó đang cảm thấy hối hận? Cho dù có hối hận thì cũng đã quá
muộn rồi. Nhìn cảnh nó hiện tại thấy vừa thương vừa giận nhưng ai cũng cho rằng ông trời có
mắt, có nhân có quả, có vay có trả, con vợ hiền lành, tháo vát, chịu thương
chịu khó như vậy mà nó không biết trân trọng, cứ hành hạ suốt đến nỗi phải ra
đi, mất cả vợ, cả con giờ đau ốm chẳng ai chăm sóc. Không ai trách vợ con nó mà
cho rằng chắc vợ nó đã trả xong nợ từ kiếp trước rồi nên ra đi không chút bận tâm.
Tôi ngồi nói chuyện với nó, bắt nó ăn hết bát cháo, uống thuốc rồi đi ngủ. Ngồi
nhìn nó đăm chiu, không biết lúc này nó nghĩ gì, có thấy ân hận vì những việc
mà mình đã làm với vợ con hay không. Có hối hận vì chính mình đã ra tay phá nát
hạnh phúc gia đình.
Tết đến, nhà nhà dọn dẹp chuẩn bị đón xuân, hoa lá xôn
xao đón chào năm mới. Còn thằng Bảy Nhỏ thì… Biết trách ai. Trong cuộc sống, gia đình là mái ấm, là nơi vun đắp
tình yêu thương, mọi người phải biết trân trọng, yêu thương nhau. Đối xử với
nhau bằng tình yêu thương sẽ nhận lại tình yêu thương. Đó là điều chắc chắn! Một cái tết nữa lại đến, nhìn hoàn cảnh hiện
giờ của thằng Bảy Nhỏ, chắc là nhà nó năm nay không có…tết.
Thạch Sene
CÀ PHÊ VÀ NỖI NHỚ
Đêm nay - đêm 30
En lại ngồi uống cà phê nơi
quán cũ
Một mình
Từng giọt, từng giọt
Đắng
Em nhớ anh.
***
Lần đầu ta gặp nhau
Từng giọt cà phê đắng
Ngọt ngào
Yêu thương!
Ta xa nhau khi nào?
Không nhớ nữa!
Chỉ biết người đi
Ngoài kia
Biền Đông mùa giông bão.
***
Đêm 30 em lại đến đây
Nơi quán cũ
Cà phê
Một mình
Em sẽ đợi ngày anh trở về
Trong giờ khắc chuyển giao
Lắng nghe giọng hát từ xa đưa
lại
“Anh đến thăm em đêm 30
Còn đêm nào vui bằng đêm 30…”
Phin cà phê sánh đậm
Nhỏ từng giọt
Tí tách… tí tách…
Âm thanh buồn
Em nhớ anh!
NHỚ MÁ NGÀY XUÂN
Đêm xứ người nghe văng vẵng
câu ca
“Má ơi đừng gả con xa
Chim kêu vượn hú biết nhà má
đâu…”
Con nhớ má mà cách xa nghìn
dặm
Chẳng được về thăm má - ngày
xuân!
***
Tết năm nay con không về thăm
má
Vắng tiếng con má có buồn
không?
Con ở lại nơi này - xứ lạ
Vẫn nghe thầm tiếng mẹ gọi
tên con.
Con đi xa đã mấy năm tròn
Những ngày tết cô đơn buồn vô
tận
Biết vậy rồi nhưng con hoài
trông ngóng
Nhìn về nơi con đã lớn khôn
Thời gian dài và năm tháng
qua mau
Cứ lặng lẽ xoay dần vì cuộc
sống
Con đã biết tự lo khi mình
thiếu vắng
Bàn tay ân cần của má - lúc
xa quê.
Đêm xứ người nằm nghe tiếng
mưa rơi
Mà nước mắt cứ chảy hoài
không dứt
Con đang biến ước mơ thành
hiện thực
Phía trước con đường - nơi ấy
có tương lai!
***
Tết lại đến nhớ lời ru của má
“Ầu ơ… má ơi chuột chạy đám gừng
Con còn nhỏ dại má đừng giận
con.”
Lừi ru vang mãi bên tai
Nhớ quê, nhớ má, lòng vương
vấn buồn!
ĐẦU XUÂN THĂM QUÊ EM
Nhớ xuân nào anh về thăm Mỹ
An
Đường quê xanh ngát ruộng
chứa chan
Cuối năm hoa nở bừng hương
sắc
Đồng ruộng thênh thang lúa
chín vàng.
Hai đứa về thăm quê của nội
Trời vào xuân chim én liệng
trên cao
Tình yêu phơi phới lòng hai
đứa
Lá mới xôn xao ve vẩy chào.
Ngày ấy mùa xuân về quê nội
Có đôi mình thong thả bước
bên nhau
Hàng cây thốt nốt vươn tay
đón
Nắng, gió reo mừng đón đôi
ta.
Ngày ấy theo ba đi vác lúa
Chiều đến cùng nhau đánh bóng chuyền
Quê em lúc ấy vui như hội
Đâu biết bây giờ… ta đã xa!
Mỹ An ơi, hãy chờ ta nhé!
Dù mùa Xuân hay Hạ hay Thu
Thì Mỹ An vẫn mãi là nỗi nhớ
Thôi thúc tim ta… phải trở
về!
Thạch Sene
Người xưa thường nói “Con người có tổ có
tông, như cây có cội, như sông có nguồn”. Thật đúng như vậy. Trước đây khi còn
nhỏ, năm nào cũng vậy, vào dịp thanh minh hay ngày tết là ba mẹ tôi lại sắm sửa
chuẩn bị mọi thứ để về quê viếng mộ ông bà, và tất nhiên là lần nào tôi cũng
được tháp tùng theo. Tôi đã quen với nề nếp đó từ nhỏ nên khi lớn lên có gia
đình riêng, tôi vẫn duy trì nề nếp đó, xem như là một phong tục tốt cần giữ gìn
và qua đó giúp các con tôi hiểu hơn về quê hương, gia đình, người thân cũng như
lòng biết ơn đối với ông bà, tổ tiên.

Ảnh Internet
Tết năm nay cũng vậy, sau khi đưa ông Táo về trời là gia đình tôi sắp xếp về quê tảo mộ, nói đúng hơn là đi viếng mộ. Mờ sáng tôi đã đi chợ mua thịt quay,bánh hỏi, bánh bò và trái cây, những thứ khác như nhang đèn, giấy vàng mã tôi đã mua từ hôm trước. Mặt trời ló dạng, gia đình tôi đã khởi hành. Từ nhà về quê cũng mất hơn một tiếng, đi sớm cho mát lại có thời gian để các con chơi lâu hơn, bọn nhỏ rất thích được về quê vì ở quê rộng rãi, thoáng mát. Lúc này trên đường đã có đông người, xe tấp nập qua lại. Họ cũng giống như gia đình tôi, về quê viếng mộ ông bà, cha mẹ. Ai cũng khệ nệ tay xách, nách mang. Chẳng mấy chốc xe rẽ vào con đường nhổ dẫn về quê. Hai bên đường cây cối mát rượi, trong cái nắng nhẹ, trong làn gió mát, tôi hít thở bầu không khí trong lành đó mà cảm nhận hết được hương vị của đồng quê. Đâu đó thoang thoảng mùi hương của lúa chín, trái chín hòa lẫn với mùi nhang thơm, tôi cảm thấy lòng nao nao. Quê hương tôi đó, vẫn đẹp, hiền hòa, bình dị. Chỉ một thời gian ngắn không về mà quê tôi đã thay đổi nhiều. Cuộc sống người dân có vẻ sung túc hơn; những ngôi nhà lá lụp xụp được thay thế bàng những căn nhà tường cao ráo, thoáng mát, sạch sẽ; con đường đất sình lầy được thay bằng con đường nhựa thẳng tắp; những chiếc cầu cây cũng được thay bằng cầu xi măng thuận lợi cho việc đi lại.
Ngôi nhà quen thuộc hiện ra trước mắt, mấy anh chị em ra đón, ai cũng tíu tít, nói cười vui vẻ. Tôi sắp một phần bánh, trái cây nhang đèn cúng trên bàn thờ; phần còn lại tôi đem ra mộ cúng ông bà, ba mẹ. Mộ ông bà được xây trên phần đất của gia đình có rào mái che chắc chắn, xung quanh mộ có trồng cây xanh cho mát, các bụi bông nở nhiều màu sắc rất đẹp gợi lên không khí tươi vui chứ không buồn bả thê lương. Mộ đã được quét vôi mới, sạch đẹp, khang trang, cỏ xung quanh cũng đã được dọn sạch. Tục ngữ xưa có câu: “Cao nấm, ấm mồ” sửa sang mồ mã cũng là việc làm hiếu nghĩa của con cháu. Thăm viếng phần mộ tổ tiên ông bà là nét đặc trưng văn hóa truyền thống của dân tộc ta, dù tất bật mưu sinh, dù làm việc xa thì trong những ngày này con cháu cũng sắp xếp về. Tôi bảo con trai mang chổi ra quét bụi bặm, lá cây trên mộ và xung quanh cho sạch. Sau đó tôi sắp bánh trái ra trước mộ đốt nhang và cúng. Tôi khấn ông bà linh thiêng về phù hộ cho con cháu được mạnh khỏe. Tôi cũng bảo con đốt nhang cho ông bà nhưng nó không biết nói gì vì khi ông bà mất nó còn quá nhỏ, những kỷ niệm về ông bà nó chỉ biết qua lời kể của ba mẹ, nhưng nó biết ông bà hiền lành, chất phác, nhân hậu và rất mực yêu thương con cháu. Khấn xong, tôi bảo con đốt tiền vàng bạc, quần áo và mọi thứ mong ông bà ở một nơi nào đó có cuộc sống đầy đủ như khi còn sống. Ngồi bên mộ, tôi kể cho các con nghe những kỷ niệm xưa lúc ông bà còn sống đã tần tảo cực khổ như thế nào để nuôi mẹ, dì, cậu nên người. Suốt cuộc đời, ông bà chưa có được một ngày thảnh thơi, sung sướng. Ông bà cũng không có dịp để nhìn thấy con cháu thành đạt nên người. Tôi cứ thế kể cho con nghe rất nhiều, rất nhiều những kỷ niệm. Ở nông thôn, trong gia đình khi có người thân ra đi, họ đều chôn ở đất nhà để gần và tiện việc chăm sóc nên mộ rải rác khắp nơi, mộ lớn, mộ nhỏ xen kẻ nhau. Trước đây khi còn khó khăn đa phần những ngôi mộ đều bằng đắp bằng đất, phía trước có tấm bia ghi tên, năm sinh năm mất, nay những mộ đất rất hiếm thấy, tất cả được xây rất kiên cố, chắc chắn xem như lòng thành của con cháu để người mất có nơi an nghỉ đàng hoàng. Lúc này mọi người ra viếng mộ rất đông, tiếng nói chuyện râm ran, tiếng cười đùa của bọn con nít, tiếng sụt sùi của ai đó đang nhớ về người thân của mình. Khói nhang nghi ngút tỏa như sương sớm. Chợt nhìn phía xa có một ngôi mộ đất chơ vơ không ai đến thăm viếng, chắc là không có người thân hoặc con cháu ở xa không kịp về. Tôi bảo con cầm xẻng sang xúc đất đắp lên ngôi mộ đất cho cao và đem theo 3 nén nhang cùng giấy tiền vàng bạc qua viếng để vong linh người đã khuất khỏi buồn tủi, bởi người chết ai cũng muốn yên mồ yên mả. Khi nhang tàn, gia đình tôi đứng trước mộ thêm chút nữa rồi vô nhà. Không khí chùng xuống, đứa con nhỏ cũng lặng thinh, chắc nó biết giây phút này không nên đùa giỡn. Tôi chợt nhớ nhà thơ nào đó đã viết
Có về tảo mộ ngày xuân
Càng thương làng xóm, thêm gần anh em
Cỏ vàng như bổng xanh lên
Ấm nơi nguồn cội tổ tiên ông bà
Chúng tôi vào nhà, bữa cơm trưa thịnh soạn cũng được dọn ra, mọi người ngồi vào bàn vui vẻ hỏi thăm nhau về gia đình, công việc, việc học hành của các cháu. Thỉnh thoảng có vài người ghé thăm uống vài chun rượu, hỏi thăm vài câu, người dân ở quê là thế , họ sống rất tình cảm luôn quan tâm, giúp đỡ nhau, không cầu kỳ, giả tạo. Tôi thường nói với các con nên thường xuyên về quê chơi để cảm nhận cuộc sống an bình, cảm nhận được tình thương, tình thân, tình người. Sau bữa trưa, tôi dẫn các con đi thăm nhà bà con trong xóm. Gần tết nên nhà nào cũng tất bật lo dọn dẹp nhà cửa, chuẩn bị mọi thứ để đón tết. Bà con phơi cải để muối dưa, làm dưa kiệu, mứt dừa,ép chuối phơi khô, có nhà đang tác mương kiếm cá ăn mấy ngày tết…không khi tết đã đến mọi nhà, mọi ngõ ngách làng quê. Bông hoa cũng bắt đầu nở rộ giúp cho làng quê mang một sắc màu tươi vui.
Chiều, chúng tôi sửa soạn ra về, trời mát, gió nhẹ, tâm hồn như bay bổng theo làn gió mát của ngọn gió đầu xuân. Mùi cay nồng của cỏ non quyện với hương trầm phảng phất khiến tôi có cảm giác đây là phút giao hòa của trời đất. Tảo mộ ngày xuân là một việc làm hết sức ý nghĩa đã mang đến cho tôi nhiều cảm xúc khó tả. Tôi nhớ đến người thân đã mất với rất nhiều những kỷ niệm. Tôi dẫn con theo là muốn con biết mồ mả ông bà và đó là lực lượng kế thừa khi cha mẹ già yếu con cháu còn biết đường về. Qua đó, tôi luôn nhắc nhở các con không được quên cội nguồn, tổ tiên, ông bà, bởi đó còn thể hiện cách sống, lòng biết ơn và đạo đức con người. Mong rằng phong tục đẹp này sẽ lưu truyền mãi cho đời sau.
Thạch Sene
NHỚ
LẮM PHIÊN CHỢ TẾT XƯA
Trong cuộc đời của mỗi người, ai cũng
đã từng dự rất nhiều phiên chợ Tết. Tôi cũng vậy, bởi phiên chợ Tết là phiên chợ
đông vui nhất,
để lại trong tôi nhiều ấn tượng sâu sắc. Tết đến, trăm ngã đường dồn về phía chợ.
Chợ Tết bắt đầu từ ngày 23 đưa ông Táo về trời. Chợ đông vui với nhiều mặt
hàng, đặc biệt là những mặt hàng chỉ xuất hiện nhiều vào dịp Tết như những gian
hàng hoa kiểng, bánh mứt, dưa hấu… Tât cả tràn xuống đường, vỉa hè với nhiều
màu sắc, kiểu dáng mới lạ. Người tiêu dùng dù khó cách mấy cũng không thể làm
ngơ.
Tôi còn nhớ lúc nhỏ tôi cũng thường
theo mẹ đi chợ Tết, chủ yếu là theo xách đồ tiếp mẹ. Cũng như những đứa trẻ
khác, tôi theo mẹ len lỏi trong dòng người đông đúc, tấp nập ấy. Vì là chợ quê
nên người dân bày bán lộn xộn, cứ thấy chỗ nào trống là đến ngồi và bày hàng
ra. Nào là rau cải, thịt cá, bánh mứt, trái cây chen lẫn vào nhau không có trật
tự gì cả nhưng cũng tiện lợi cho người mua đến một chỗ thôi cũng có thể mua được
nhiều thứ khỏi cất công đi xa.
Dần dần chợ cũng trật tự hơn, hàng
hóa bày bán theo từng dãy, từng mặt hàng riêng biệt: khu trái cây, bánh mứt, rượu
trà, khu thực phẩm, rau củ… Đặc sắc nhất là khu hoa kiểng, mỗi năm có nhiều loại
hoa kiểng mới, lạ độc đáo với nhiều màu sắc rực rỡ, trang trọng, quý phái. Các
cây kiểng được uốn theo hình dạng độc đáo, có ý nghĩa nghệ thuật, chẳng hạn
mang hình dáng tiêu biểu của 12 con giáp thật công phu. Nổi bật nhất trong gian
hàng là các loài hoa, hoa mai vàng được mọi người ưa chuộng, vì mai thể hiện niềm
vui, may mắn, hạnh phúc. Sắc mai vàng làm cho mùa xuân thêm rực rỡ, các loại
hoa cúc, hoa hồng, vạn thọ, hướng dương, hoa lan… tất cả tạo nên một bức tranh
đầy màu sắc.
Kế đến là gian hàng bánh mứt: mứt bí
trắng ngần, mứt hạt sen trắng ngà, mứt khoai lang vàng nghệ, mứt dừa nhiều màu
sắc thật hấp dẫn. Bánh cũng được đựng trong những chiếc hộp xinh xắn đẹp mắt,
kiểu dáng mới lạ trông thật hấp dẫn. Những loại rượu, trà, cà phê đặc sản thơm
ngon được bày bán khiến cho ai đi qua cũng không nỡ làm ngơ. Gian hàng trái cây
với đầy đủ trái cây bốn mùa: cam, quýt, xoài, mận, nho, bom, thanh long… Tết nhà
nào cũng bày mâm ngũ quả nên mặc sức mà lựa chọn những trái đẹp tươi ngon để
mâm ngũ quả thêm rạng rỡ. Đến gian hàng thực phẩm, nơi tập trung đông đảo các
bà nội trợ. Các chị, các bà tự do lựa chọn gà, vịt, thịt heo, rau củ và bao
nhiêu thứ cần thiết khác.
Góp phần làm cho phiên chợ Tết thêm
náo loạn là nơi bày bán hàng la. Bằng những bài hát, bài thơ tự chế có vần, có
điệu, người bán giới thiệu những món hàng của mình nghe thật thú vị, vui tai. Những
món đồ được đổ ra từng đống bên đường hoặc một chỗ trống nào đó với giá phải
chăng, phù hợp với túi tiền của người lao động thu nhập thấp. Kẻ mua người bán
liền tay, tiếng cười tiếng nói râm ran náo động cả khu chợ. Người mua tíu tít
xem hàng, người bán nhanh nhẹn gói hàng lấy tiền, thối tiền. Ai cũng bận rộn, vội
vã. Ồn ào nhất vẫn là lũ trẻ, chúng đi chợ không phải để mua sắm mà là để nhìn
ngắm mọi người qua lại, ngắm hàng hóa bày bán. Chúng len lỏi hết chỗ bày đến chỗ
khác, sờ mó, ngắm nghia, bình phẩm rồi phá lên cười nắc nẻ. Chúng thật vui vẻ,
hồn nhiên.
Dòng người lũ lượt kéo vào chợ mỗi
lúc một đông hơn, tôi có cảm giác chợ không còn đủ sức để chứa. Chợ đông vui,
hàng hóa nhiều, có mắc hơn ngày thường một chút nhưng mọi người vẫn cứ mua vì
ai cũng muốn mấy ngày Tết trong nhà có đầy đủ mọi thứ. Một năm làm việc vất vả
để có được mấy ngày Tết bên người thân. Vậy mà vui!
Mỗi phiên chợ Tết đều dể lại trong
lòng tôi ấn tượng đẹp. Được ngắm nhìn quang cảnh chợ Tết, cảnh mọi người sắm sửa
đón xuân, tôi cảm thấy quê hương mình thật đẹp, thanh bình. Mong sao xã hội
ngày càng giàu đẹp hơn để cuộc sống người dân được ấm no, hạnh phúc. Và phiên
chợ Tết năm sau sẽ vui hơn, nhộn nhịp hơn phiên chợ trước.
VẤN
VƯƠNG MÙI TẾT
Cái lạnh của những ngày cuối đông mang
theo những cơn mưa như muốn xua tan bụi bặm của năm cũ để chào đón một năm mới,
khi từng đàn én chao lượn trên bầu trời mang thông điệp đi khắp nơi báo hiệu
xuân về. Mưa xuân lất phất bay như bàn tay mẹ hiền nhẹ nhàng âu yếm, vuốt ve
đàn con nhỏ, mong chúng mau lớn, nên người; giúp cho những mầm non mới nhú lớn
nhanh để kịp đón những tia nắng đầu năm.
Mùa xuân mang đến cho mọi người, mọi vạn vật
một không khí mát dịu, ấm áp khiến cho tâm hồn con người bừng lên sức sống mới.
Hơi ấm mùa xuân lan tỏa khắp nơi, len qua từng chiếc lá, cành cây, ngọn cỏ. Hơi
xuân lướt nhẹ qua từng ngôi nhà, con phố, bay qua những con đường, hòa vào dòng
người hối hả chuẩn bị đón xuân. Xuân rộn ràng khắp mọi nơi để những bông hoa
khoe hương sắc, vươn mình đón nhận những tia nắng sớm để mọi người có dịp chiêm
ngưỡng vẻ đẹp của từng loại hoa và thưởng thức hương thơm nhẹ nhàng, quyến rũ của
các bông hoa.
Từ xưa đến nay, đất nước trải qua biết bao
mùa xuân, biết bao ngày Tết. Đó là sự đồng cảm, hòa hợp giữa mùa xuân thiên
nhiên và mùa xuân trong lòng người. Mùa xuân tự nhiên của đất trời với cảnh sắc
tươi đẹp làm say đắm lòng người. Mùa xuân tự nhiên, có khi là một thời điểm
trong vòng xoáy vô thường của thời gian, có lúc được thể hiện là bối cảnh của đời
sống thường ngày bình dị, thanh nhàn. Chính mùa xuân trong lòng người đã làm
cho bừng sáng lên một vẻ đẹp kiêu sa. Lúc này mùa xuân không còn là mùa xuân của
tự nhiên, mà đã khoác lên vai nó trách nhiệm mang đến bầu không khí vui tươi, hạnh
phúc cho mọi người, mọi nhà. Mùi vị Tết!
Mùa xuân giúp con người gần gũi với thiên
nhiên, cảm nhận và hòa mình vào sự thay đổi của thiên nhiên, sự giao ban giữa
năm cũ và năm mới. Trên khắp các ngõ ngách của làng quê, đường phố, cây cối đều
khoác trên người những chiếc áo xanh mượt cùng với từng lớp chồi non xanh biếc
tràn đầy nhựa sống. Đối với con người, vạn vật, mùa xuân là mùa của tình yêu,
mùa gửi gắm yêu thương. Mùa xuân sẽ cùng với đào hồng thắm, sắc mai vàng, những
cánh én xôn xao, những mùi hương len lỏi đến từng nhà, phảng phất lên từng người
để gửi lại một chút hương xuân. Mỗi sáng thức dậy hít thở không khí xuân căng lồng
ngực mới cảm nhận hết mùi vị của Tết. Khắp nơi ánh lên sắc màu rực rỡ của tất cả
những loài hoa.
Dường như mùa xuân cũng là mùa thi "sắc"
của hoa, các cô nàng cố gắng vươn mình trong nắng mai để khoe sắc, để cho mọi
người chiêm ngưỡng vẻ đẹp của từng loại hoa, để thưởng thức hương thơm nhẹ
nhàng, quyến rũ của các bông hoa. Nào là hoa cúc ngây thơ, duyên dáng, vẻ đẹp
thanh khiết. Hoa phong lan là biểu tượng cho những cảm xúc thầm lặng, những dấu
hiệu đầu tiên về một tình yêu nồng cháy. Hoa súng tượng trưng cho sự trong sạch
của tâm hồn. Hoa sen thể hiện sự cung kính, tôn
nghiêm. Hoa tuylip nét ấm cúng và thoải mái, tượng trưng cho tình yêu hoàn hảo.
Hoa
bát tiên thể hiện sự vương giả, thanh cao, kiêu hãnh" Hoa Đồng Tiền
thể hiện lời chúc mừng, niềm tin, sự thành đạt. Hoa mimosa loài
hoa dành tặng cho bạn trẻ mới yêu. Hoa mai là biểu hiệu của sự may mắn, sự
trung thành trong tình yêu… Và rất nhiều, rất nhiều những loài hoa khác. Chắc chắn
là các cô nàng sẽ rất vui khi được nghe những tiếng trầm trồ, khen ngợi. Chúng
ta không gì khoan khoái, dễ chịu cho bằng việc ngắm một bình hoa với đủ màu sắc
và ngửi được hương thơm dịu dàng của nó, vì thế đừng bỏ qua cơ hội thưởng thức
những bông hoa rực rỡ của mùa xuân để tinh thần được sảng khoái.
Mùa xuân ngắn ngủi, có lẽ vì thế mà mùi của
Tết nồng thắm hơn, đọng lại trong lòng mỗi người lâu hơn, sâu lắng hơn. Có thể
nói mang hương vị đậm đà của không khí Tết nổi bật nhất là ở nông thôn. Nông
thôn là nơi trầm lắng, sâu đậm nhất những tập tục cổ truyền. Phiên chợ Tết ở miền
quê thật náo nức tưng bừng. Hình ảnh đó được nhà thơ Đoàn Văn Cừ miêu tả một
cách tỉ mĩ trong bài thơ “Chợ Tết”. Cảnh họp chợ, cảnh mua bán, cảnh chợ tan thật
sinh động, thật hóm hĩnh. Nó gợi tả được cả linh hồn của làng mạc dân cư. Đọc
thơ mà như thấy hiện ra trước mắt cảnh chợ Tết thật tưng bừng, náo nhiệt, đầy
màu sắc: nào là những thằng cu áo đỏ, cụ già chống gậy, cô yếm thắm, em bé… còn
có cả những người đi chợ tết, những người bán hàng hối hả, tất bật. Đó còn là
mùi của nồi nước lá thơm mẹ nấu cho cả nhà tắm gội trong chiều 30 Tết để tấy đi
những bụi bẩn của năm cũ để năm mới được sáng sủa, tinh khôi hơn. Đó là mùi của
nồi thịt kho nước dừa thơm lừng nứt mũi, mùi của bánh mứt, mùi quần áo mới, mùi
sơn mới… tất cả hương vị đó hòa quyện vào nhau xông thẳng vào mũi làm cho con
người cảm thấy sảng khoái, lâng lâng.
Đối với tôi, mùi Tết đậm nhất là mùi đọng
lại từ bàn tay khéo léo của mẹ gói từng đòn bánh tét, sên từng nồi mứt dừa,
tráng từng chiếc bánh tráng, nướng từng chiếc bánh phồng, từng chiếc bánh kẹp,
chăm chút từng món ăn ngày Tết; mùi từ mâm ngũ quả trên bàn thờ, mùi nhang thơm
nghe linh thiêng, ấm áp; mùi của không khí gia đình đoàn tụ bên mâm cơm cúng Giao
thừa với những câu chuyện, những tiếng cười đầy ấp tình thân .
Mùi vị đó mới ngọt ngào làm sao, khiến cho người ta cảm thấy mùa xuân thật kỳ diệu và rất đổi thân thương. Dù ngày nay cuộc sống công nghiệp hối hả, con người tất bật với biết bao là việc, mùi vị Tết giờ không lan tỏa khắp nơi mà được giữ kín trong những hộp, chai lọ… kiểu dáng đẹp, sang trọng, người ta không còn dịp để thưởng thức những mùi vị quyến rũ đó. Nhưng tôi tin rằng “mùi Tết” vẫn sẽ đọng mãi trong lòng của mọi người. Chắc chắn như thế!
Tiếng ông Ba nhà kế bên lè nhè: “Rượu chè, bè bạn la cà. Hết tiền đã có vợ nhà nó lo. Một, hai ta cứ dzô… dzô… Còn mồi, còn rượu, ta thời cứ say”. Tiếng bà Ba cất lên:
- Lại say nữa rồi, nhỏ tiếng thôi, đừng làm phiền hàng xóm. Đúng là “Ở đời chẳng biết sợ ai. Sợ thằng say rượu nói dai tối ngày”.
Điệp khúc cứ lặp đi lặp lại mỗi khi ông Ba say xỉn. Hai ông bà cũng thú vị, lúc nào cũng “xổ” thơ ra được. Mà không chỉ có ông bà Ba, hầu như mấy ông say rượu lúc nào cũng ngâm nga mấy câu thơ. Tự nhiên tôi lại nhớ đến thằng Bảy Bụng, hàng xóm của nhà tôi trước đây khi còn ở dưới quê. Nhớ đến câu ba tôi thường nói: “Xã hội bây giờ với tầng lớp nghèo như mình mãi mãi sẽ không ngóc đầu lên nổi. “Con vua thì lại làm vua, con sãi ở chùa thì quét lá đa”. Ông bà ta ngày xưa nói không sai đâu”. Lúc đó tôi không tin, nghĩ mình cố gắng phấn đấu thì tương lai mình sẽ khác. Nhưng rồi tôi lại nghi ngờ phán đoán của mình khi nhìn hoàn cảnh nhà hàng xóm. Từ cuộc đời của thằng Bảy Bụng, tôi bán tín bán nghi chã lẽ số phận mỗi người đều đã định sẵn từ lúc mới sinh ra. Nếu đúng thế thì cuộc đời của thằng Bảy Bụng rõ là “đen như mõm chó”.
Thằng Bảy Bụng là hàng xóm của gia đình tôi ở quê. Nó thứ bảy tên Bụng, nên hàng xóm gọi nó là Bảy Bụng. Ngoài ra nó còn biệt danh khác: Bảy Tối Trời, Bảy Nước Ròng. Nó không chút giận hờn mà thản nhiên đón nhận. Nghe kêu: “Bảy Bụng đâu rồi?”, nó cũng dạ. “Bảy Tối Trời có nhà không?”, nó cũng lên tiếng. “Thằng Bảy Nước Ròng qua đây uống vài ly với mọi người nè!”, nó cũng đi. Bởi ở đây ai cũng biết tại sao mọi người gán ghép cho nó những biệt danh như vậy.
Nghe mọi người kể lại là khi mẹ nó mang thai, gần đến ngày sinh vẫn ì ạch đi làm mướn. Một đêm mẹ nó đau bụng đẻ dữ dội mà ở nông thôn lúc bấy giờ người ta ở nhà nhờ bà mụ vườn đến đỡ đẻ, có ai đi đến bệnh viện đâu. Do mẹ nó sinh khó nên bà mụ vườn không dám đỡ đẻ mà bảo chở đi bệnh viện. Trời tối om, đường khó đi, kênh rạch nước cạn khô, việc đi lại rất bất tiện. Hàng xóm sang giúp mẹ nó, còn ba nó chỉ ngồi lẩm bẩm: “Sáng trăng không đẻ mà đẻ tối trời. Nước lớn không đẻ mà đẻ nước ròng”. Mẹ nó được đưa xuống xuồng, mấy ông đàn ông khỏe mạnh xúm nhau đẩy chiếc xuồng ra khỏi con rạch nhỏ đang khô nước để ra sông. Cuối cùng nó cũng được sinh ra khỏe mạnh, dễ nuôi. Đúng là trời sinh voi sinh cỏ. Nó uống nước cơm, nước cháo lỏng mà sống. Nhớ lại những lời ba nó nói ai cũng bật cười, từ đó họ gán biệt danh Bảy Tối Trời, Bảy Nước Ròng cho nó để nhớ lại ngày nó ra đời.
Gia đình nó rất nghèo, không có cục đất chọi chim. Ba má nó quê ở đâu không ai biết, chiến tranh trôi dạt về đây, bà con thương tình cho một mảnh đất nhỏ cất nhà. Nói là nhà chứ thật ra là cái chòi tranh vách lá rách tươm. Trời mưa thì dột tứ bề, trời nắng thì ông mặt trời rọi khắp nơi, những đêm trăng thì… tuyệt vời. Ba nó lúc đầu cũng chí thú làm ăn, ai mướn gì làm nấy, nhưng có lẽ cuộc sống đói nghèo quanh năm khiến ông quẫn chí mà sinh ra rượu chè và nghiện rượu lúc nào cũng không biết, ngày nào cũng say be bét, miệng nghêu ngao: “Còn trời còn nước còn non. Còn người bán rượu ta còn say sưa”. Ba nó say khướt tối ngày chẳng làm ăn gì cả. Nhà có đồng nào, ông lột hết đi mua rượu, nếu không có tiền mua rượu thì nhà ai có đám tiệc ông lại ghé kiếm rượu uống. Chủ nhà sợ phiền khách nên cho một chai rượu để ông đi khuất mắt. Mẹ nó phải đi làm thuê làm mướn để nuôi cả nhà, ai kêu gì làm nấy, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc. Nó cũng chưa có cái áo nào đàng hoàng, vừa vặn, bởi hàng xóm cho cái nào mặc cái đó; cái thì dài, cái thì rộng thùng thình, nhưng thường thì nó suốt ngày ở trần trùng trục chỉ mặc mỗi chiếc quần tà lỏn cũng rách vá đùm, da đen thui, tóc vàng hoe vì dang nắng.
Thằng Bảy Bụng nhỏ người nhưng rất khỏe mạnh, đói rét là vậy nhưng nó mạnh cùi cụi không hề đau ốm. Lúc nhỏ nó đã biết đi mò cua, bắt ốc, kiếm cá về làm mồi cho ba nó nhậu. Nhà nghèo, không được học hành như những đứa trẻ khác, mẹ nó đi làm, ba nó không có lúc nào tỉnh, tối ngày thui thủi một mình nên nó lang thang khắp xóm, ai cho gì ăn nấy. Do uống rượu quá nhiều, ba nó ngày một yếu, đi đứng khó khăn nhưng vẫn không bỏ được rượu, nó nhận thêm nhiệm vụ đi mua rượu cho ba. Một hôm người ta thấy nó nằm như chết bên bụi chuối, thì ra nó nốc gần hết chai rượu mà nó mua cho ba và không còn biết trời trăng gì. Người ta cõng nó về nhà, qua ngày hôm sau nó mới tỉnh. Thế là từ đó nó và ba nó là bạn nhậu cùng nhau. Ba nó lại nghêu ngao: “Hiu hiu gió thổi đầu non. Những thằng uống rượu là con Ngọc Hoàng”, thằng con tiếp lời: “Ông là Ngọc Hoàng vậy tôi là con của Ngọc Hoàng rồi”.
Mới hơn mười tuổi thôi mà nó uống rượu như uống nước. Chẳng mấy chốc mà giờ đây nó đã lớn có thể ngồi chén tạc, chén thù với ba nó. Mẹ nó kiệt sức vì hai cha con nó nên ra đi sớm. Hai cha con nương tựa vào nhau. Nó giờ đã biết đi làm thuê, làm mướn, kiếm tiền về nuôi ba. Vì rượu mà ba nó bệnh nặng rồi cũng đi theo mẹ nó bỏ nó ở lại một mình trong căn chòi rách nát bên hai nấm mộ đất. Giờ không có ba mẹ, một mình thui thủi nó lại càng nghiện rượu hơn. Nó uống rượu hơn cả ba nó ngày trước, chỗ nào có nhậu là có nó, bất kể xa gần. Nó không có tiền mua rượu nhưng ngày nào cũng say xỉn. Nhiều đêm nó lội từ bên này qua bên kia sông để nhậu, nhậu xong lại lội sông về nằm lăn lóc ở bụi cây nào đó ngủ, không chăn màn, không giường chiếu. Được cái tuy nhậu nhưng nó rất hiền, không chửi mắng, phá phách, cũng không trộm cắp gì của ai nên hàng xóm không ai ghét bỏ. Ai cũng hết lời khuyên nó bỏ rượu, kiếm vợ rồi lo chí thú làm ăn, nhưng nó nói nghèo như nó cô gái nào dám lấy.
Mọi người làm mai cho nó cô gái xóm bên cũng mồ côi cha mẹ. Hai đứa về sống chung với nhau chẳng có cưới hỏi gì cả. Nó cũng ý thức được trách nhiệm của mình nên bớt uống rượu, cố gắng đi làm kiếm tiền lo cho gia đình. Như bao cặp vợ chồng khác, nó có được thằng con trai, cũng như nó lúc nhỏ, đói khát thiếu thốn nhưng thằng bé mạnh cùi cụi chẳng đau ốm gì. Có lẽ số nó không may mắn, cuộc sống nghèo khổ cứ bám lấy. Vợ nó không còn sức chịu đựng cảnh túng thiếu, đói rét triền miên, nên khi đứa con vừa chớm biết đi đã để lại cho nó và đi mất biệt, không chút tin tức. Nó lại một mình nuôi con, lắm lúc nó phát điên bởi tiếng khóc dai dẳng vì đói khát của con. Hàng xóm lại chung tay giúp nó miếng sữa, miếng cháo để nó nuôi con. Cũng như nó trước đây, dù thiếu thốn, đói khát nhưng con nó không hề bệnh mà còn khỏe hơn những đứa trẻ khác. Bà con khuyên nó cố gắng nuôi con sau này có người thờ phượng, hương khói: “Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời, chắc đời con mầy sẽ khá hơn”. Nhưng có lẽ phần số của nó, chỉ một thời gian ngắn nó lại tiếp tục uống rượu, mỗi ngày một nhiều hơn, không còn biết gì, kể cả đứa con còn nhỏ dại. Thương nó, mọi người lại mang gạo, thức ăn cho cha con nó, ra sức khuyên nó ăn uống để có sức nuôi con, nếu không có ngày chết vì đói, vì rượu hành hạ.
Vậy mà nó sống lây lất được một thời gian, thằng con trai cũng được bảy - tám tuổi. Một buổi sáng, người ta phát hiện nó nằm chết bên bờ sông, quần áo ướt đẫm. Có lẽ sau khi lội sông về, nó không còn sức đi tiếp nên nằm bên bờ sông suốt đêm, bị cảm lạnh hay trúng gió mà chết. Thằng con nó chưa biết gì, hàng xóm lại cùng nhau lo đám tang cho nó, mong nó kiếp sau được sung sướng hơn chớ đừng khổ như kiếp này. Từ lúc nó được sinh ra trong một đêm tối đen như mực như là số phận đã định sẵn cho nó rồi. Tuy thương nó nhưng mọi người vẫn cho rằng nó đi như vậy là tốt, bởi cuộc sống của nó có gì vui, chỉ tội cho thằng con còn quá nhỏ rồi tương lai sẽ ra sao. Trước đây ba má nó chôn trong chòi, giờ nó cũng được nằm cạnh ba má nó. Căn chòi rách nát giờ cũng là nơi an nghỉ của cả gia đình. Một miếng ván đươc đóng vào vách làm bàn thờ chung cho cả ba người, không một di ảnh, chỉ có một lư hương, mọi người qua lại thường ghé vào đốt cho một nén nhang để căn nhà không quá lạnh lẽo.
Sau đám tang của thằng Bảy Bụng, thằng con của nó cũng bỏ làng không biết đi đâu, có người bảo gặp nó ăn xin ở chợ, có người bảo nó được một người tốt bụng nhận làm con nuôi… Dù thế nào mọi người vẫn mong thằng bé có cuộc sống tốt hơn. Qua một thời gian, căn chòi đã sập, ba ngôi mộ không ai chăm sóc nằm chơ vơ cũng bắt đầu lạn dần không còn thấy nấm đất nữa và rồi người ta cũng nhanh chóng quên đi thằng Bảy Bụng, thằng Bảy Tối Trời. Vẫn biết chết là hết, không vướng bận gì nhưng sao vẫn thấy thương cho một kiếp người.
Ngày giáp Tết, tôi về quê quét dọn mồ mả ông bà, đi ngang qua căn chòi ngày nào của thằng Bảy Bụng, ba nấm mồ đã được ai đó xây kiến cố, xung quanh được dọn dẹp trống trải, sạch sẽ, giấy tiền vàng bạc ai đó đặt trên nấm mộ, khói hương nghi ngút. Tôi cảm thấy vui vui vì hàng xóm vẫn chưa quên gia đình nó. Nhưng hỏi ra mới biết sau một thời gian biệt tích, thằng con nó trở về, giờ đã là một thanh niên vạm vỡ, có công ăn việc làm đàng hoàng, kinh tế cũng khá nên làm lại mộ cho ông bà nội và ba nó, đồng thời cảm ơn dân làng đã giúp đỡ gia đình nó trong những lúc khó khăn nhất. Tôi nhớ câu nói ngày xưa mà ba tôi vẫn thường nói: “Con vua thì lại làm vua, con sãi ở chùa thì quét lá đa”, giống như là sự buông xuôi, an phận. Đời ba má thằng Bảy Bụng rồi đến đời thằng Bảy Bụng đã quá khổ rồi, giờ đến đời con nó đã khá hơn. Có lẽ con thằng Bảy bụng thấy ba nó vì rượu mà quá khổ, nó không muốn đi theo vết xe đổ nên đã cố gắng và đã chiến thắng. Đúng là “không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời”, đừng đổ lỗi cho số phận mà phải phấn đấu vươn lên để vượt qua số phận. Ở một nơi nào đó, dõi theo bước đi của con, thằng Bảy Bụng chắc hẳn sẽ rất vui và tự hào về con của mình.
Thạch Sene