Ghi ở Đà Lạt - chùm thơ Võ Văn Trường

GHI Ở ĐÀ LẠT 1

 

Bỏ Huế buồn tôi… lên Đà Lạt

Thơ bỏ sân trường, phía gốc cây

Bao năm rồi nhỉ, quần sanh cỏ

Tịnh thổ hồn tang lặng lẽ mùa

--

Ừ thì Đà Lạt mời tôi đến

Sương và thông thơm ngát mây trời

Cô đơn, cánh dã quỳ vàng nắng

Rót vào tống biệt, tiễn ngày đi

--

Huế đã xa rồi, chừ Đà Lạt

Sao hàng thông xanh rất Ngự Bình

Sao chiều than thở, ai ngược dốc

Những biệt thự buồn…mà gió Nam Giao

--

Đêm Đà Lạt kể về những chuyện tình dang dở

Nghe giọng Khánh Ly, sương khói mơ hồ

Gọi tên, Huế - Sài Gòn - Đà Lạt

Gọi người, trả nợ tình xa…                                                                           

3.10.2020

 

GHI Ở ĐÀ LẠT 2

 

Những cơn mưa phùn đưa Đà Lạt vào thu

Ngày tôi đến sương mù giăng ảo mờ, chẳng ai đợi tôi bên nhà ga xe lửa

Thành phố lại trở buồn như ai đó vừa mới đi xa

Hồ Xuân Hương tím dần buông trong suy nghĩ

--

Những người yêu nhau nghe ái ân vất vương như nhựa thông phấn trắng

Lặng lẽ tiếng chuông nhà thờ chậm rơi

Hoa dã quỳ vàng vào lối nhỏ

Ký ức là câu chuyện tình về chàng K’Lang và nàng H’Biang (1)

--

Đà Lạt như sương, rong rêu qua phận người lặng lẽ

Những giấc mộng đẹp đâu đó vẫn chưa tan

Lẩn khuất đâu đây là những Alexandre Yersin, P. Munier (2), Hàn Mặc Tử, Trịnh Công Sơn…

Tâm hồn họ đi xuyên qua thời gian Đà Lạt

--

Có cố nhân đâu mà sao nhớ quá

Người xưa nơi nao, chỉ còn đây cơn mưa phùn chiều muộn… đời trai

Những hạt mưa rơi ngập ngừng, tóc ngưng điểm bạc

Vây quanh tôi ly cà phê và quá vãng…sương mù.                                                   

7.8.2022

 

GHI Ở ĐÀ LẠT 3

 

Ngày Đà Lạt xa tôi, Hồ Xuân Hương lặng im không nói gì

Chỉ có đám mây trên đầu bay vẫy vẫy

Lóng lánh màu đồng đen, chú gà nhỏ trên đỉnh nhà thờ Nicôla Bari xoay theo gió

Mùi phấn thông thơm tho những ca khúc thánh đường

--

Đà Lạt chìm trong se lạnh nhìn tôi

Ánh nhìn của nhà bác học người Pháp Alexandre Yersin

130 năm người đến nơi này

Bây giờ ông tản bộ ở đâu chỉ thấy những cặp tình nhân thả hồn vào hoa cỏ

--

Đà Lạt những câu chuyện tình yêu, lãng mạn, không thành

Tôi đã ghé thắp hương ở đồi thông hai mộ

Chẳng trách hờn ai một đời Hồ Than Thở

Đỉnh LangBiang và thiên tình sử Romeo - Juliet nơi này

--

Tôi nghe những cơn mưa cầu hôn bên gốc thông già

Rồi thiếp đi giấc dã quỳ vàng rực

Bốn mùa trôi trong ngày ngoằn ngoèo…những con dốc vút cao

Trên đồi thông xanh Tà Nung…những biệt thự màu hồng.

--

Ngày Đà Lạt xa tôi chầm chậm

Vương vương hơi thở ai trong sương

Thì thầm với tôi hò hẹn

Nghe lại tiếng hát mộc của Khánh Ly thời mới bước vào nghiệp hát ca

--

Đà Lạt xa tôi chầm chậm mà nhớ

Góc tĩnh lặng cà phê Tùng, thi sĩ Bùi Giáng từng xé vỏ thuốc lá viết những câu thơ lộng lẫy

Chàng sinh viên gốc Chăm Từ Công Phụng thuở ban đầu, những giai điệu mộng du

Lời tình nào Trịnh Công Sơn viết cho Dao Ánh trong một bức thư.

--

Đà Lạt xa tôi chầm chậm

U hoài, ngậm ngùi về một thời quá vãng

Mà nhớ dư âm tiếng vó ngựa trong sương mù

Cầm sắc đến tàn hơi, Đà Lạt ơi…                                                           

2.2023

 

GHI Ở ĐÀ LẠT 4

                          (Đà Lạt sương mù)

 

Tôi yêu cái tên “Đà Lạt bên dưới sương mù”…(3)
Nhẩn nha nhớ nhớ bây chừ gần hết tháng ba
Mi mô da cuối mùa tỏa hương từ trăm cánh nhỏ
Xưa xa còn đó, những biệt thự màu hoàng lan
Bước chân tôi tiễn tôi về theo tiếng chuông nhà thờ Nicolas (4)
Ngày tôi đến
Sững sờ dưới chân núi LangBiang
Nghe kể chuyện góa phụ O’Neil, lập vườn cà phê Arabica
                                                             … và những con xén tóc (5)

Mùi hương hoa ướp trọn nỗi buồn
Khuya khoắt những giọt mưa trong thành phố
Những giọt mưa bên ngoài ô cửa sổ
Hình như đâu đây hiện hữu những cuộc chia ly
Mái tóc thật đen, đôi mắt thật buồn
Chẳng có nụ hôn, không bàn tay tiễn biệt
Bóng người đổ về đêm, tiếng hồ than thở
Không còn người viết tiếp chuyện đồi thông

Ôi những bông hoa bất tử
Hãy đợi những người yêu nhau như đợi ngày xa mặt đất
Đợi có một người sẽ chết vào đêm mai
                                 …và ngàn đêm sau nữa
Những trái thông nhỏ như đóm lân tinh
Thả rơi những tinh cầu
Thả rơi từng mảng hồn rờn rợn
Tạm biệt nhé những loài hoa và cả những chuyện tình…
Oải Hương từ miền Địa Trung Hải
Tím đến thế, thủy chung cho triệu triệu người chiêm ngưỡng
Nhưng tình yêu chỉ có một ngươi…
Dã Quỳ và chuyện tình ba người không hồi kết
Họ chết đi để trên đời còn có một loài hoa…

Lại nghĩ về những cuộc chia ly
Đêm nay và nhiều đêm sau nữa
Những người yêu nhau chết đi thành Đà Lạt sương mù.

 

                         





                                                    

Võ Văn Trường

________________

(1)Lịch sử Langbiang xuất phát từ câu chuyện của hai nhân vật là chàng K’Lang và nàng H’Biang. Cái tên Langbiang ra đời – ghép từ chính tên của hai người tình khi họ qua đời.

(2)Trong chuyên đề về Đà Lạt năm 1941 được đăng trên Tạp chí Đông Dương (Indochine), số 28, năm 1941, tác giả P. Munier đã có những cảm nhận đặc biệt về vùng đất này. Bài viết được đăng bằng tiếng Pháp; nhà nghiên cứu về Đà Lạt Nguyễn Hữu Tranh đã dịch ra Việt ngữ. Qua cảm nhận của P. Munier, Đà Lạt như một thiên đường của những loại hoa.

(3) Tên một tập sách
(4) Nhà thờ Thánh Nicolas cuối thập niên 1920, tiền thân nhà thờ Chánh tòa Đà Lạt.

(5) Khi Pháp đô hộ gần thác Cam Ly, một góa phụ người Pháp có tên O’Neil lập vườn trồng cà phê Arabica. Đặc biệt nàng có biết tài canh giữ không để những con xén tóc phá hoại…và cung cấp một loại cà phê thượng hạng. Nông trại của góa phụ sau này đã bị chính thác nước do nàng tạo ra cuốn phăng…và không bao giờ được xây dựng lại. 

>> Đọc tiếp…

Tản mạn điều khó nói trong thơ Nguyễn Hàn Chung - Võ Văn Trường

Nhà thơ Nguyễn Hàn Chung còn có các bút danh: Nguyễn Phong Hàn, Nguyễn Đức Mù Sương, Nguyễn Mù Sương. Quê quán của anh ở Điện Bàn, Quảng Nam. Anh dạy học ở Đà Nẵng từ 1971 – 1975, từ 1975 – 2006 ở Quảng Nam, năm 2006 đến nay định cư ở Hoa Kỳ. Tác phẩm xuất bản: Tìm tôi trong bóng (NXB Đà Nẵng, 1999). Nói hộ phù du (NXB Đà Nẵng, 2002). Nghịch lưu của tuổi (Ebook Da Màu, 2011).  Dự cảm rời (NXB Bản sắc Việt, 2016). Lục bát tản thần (NXB Bản sắc Việt, 2018). “Mót chữ trong Kinh”-Tập thơ 244 bài thơ bốn câu, NXB Mở Nguồn, 2020…

Thơ của nhà thơ đồng hương xứ Quảng Nguyễn Hàn Chung tôi ấn tượng và yêu thích bởi nhiều điều, nhưng gần đây tôi lại yêu thích thơ ông không chỉ bởi cái khoảng trống đề tài mà thi ca nhiều năm qua (có lẽ vậy) ít được đề cập, mà đó còn là cách đặt vấn đề và giải quyết vấn đề này với một tinh thần rất Nguyễn Hàn Chung. Nội hàm chủ đề vợ.

Vẫn biết, xưa nay thi nhân vẫn dùng những vần thơ đẹp nhất dành cho phái đẹp là mẹ, là em (có thể là người yêu, người tình, hay một bóng hồng nào đó lướt qua đời mình). Những tác phẩm trên thi đàn nổi tiếng phải kể “thương vợ” của cụ Tú Xương nhưng rồi về sau thì thơ ca viết về vợ ít được đề cập hơn. Phải chăng những vần thơ dành cho vợ là thứ rượu hiếm (cả số lượng và chất lượng) được chưng cất cả bằng niềm thương, lòng biết ơn đôi khi cả sự hối hận và cả nỗi nợ nần không gì đền đáp…

Trong số những bài thơ hay viết cho vợ có thể đếm trên đầu ngón tay, tôi đặc biệt bất ngờ và xem là tuyệt tác khi đọc được bài thơ “Nhớ” của cố nhà thơ Khương Hữu Dụng.  

Em luôn miệng cằn nhằn/
Kêu mưa rồi trách nắng/

Ước gì em đi vắng/

Ðược một ngày yên thân/
Em vĩnh viễn ra đi /

Mênh mông nhà lạnh vắng
Ước gì nghe em mắng/

Vui tiếng em cằn nhằn.”

“Nội hàm” vợ, viết cho nỗi nhớ thương quả thật có những bài thơ hay đến vậy nhưng để viết cái chỗ “hục hặc” trong cánh cửa nhà mình chắc chắn nhiều người sẽ đồng quan điểm, chẳng dễ dàng gì thành thơ. Điều này khó nói hơn cả những điều khó nói. Song mới đây trên một trang văn chương trong nước đăng tải một chùm thơ của nhà thơ Nguyễn Hàn Chung tôi tình cờ đọc được và rất thích thú, khéo khen chẳng chút bông lơn, sao nhà thơ viết tài đến vây.  

 “…Anh feel good còn em feel bad
trời se duyên hai đứa sống chung
sao tránh khỏi vợ chồng hục hặc
cặp đôi nào không tứ hành xung.

Em feel bad còn anh feel good
sống cùng nhau đến cuối cuộc cùng
mà không phải tan đàn rã nghé
nhờ chúng mình khéo đậy nắp vung

Anh tạm mở nắp vung em nhé
cho khói bay thấm tận nghìn trùng.” (Bài Feel good & feel bad)

          Rất đồng cảm với tác giả Dương Diên Hồng với lời nhận định, thơ Nguyễn Hàn Chung là vần điệu gần gũi mà ý tứ thăm thẳm, lắt léo. Đọc cách này lóe ra hiểu cách khác nhưng dù bằng cách nào đi nữa thì con đường đến thơ của ông cũng rất độc đạo. Con đường đó đầy cảm thông và yêu thương. Thơ anh trăn trở chạm đến nguồn mạch cảm xúc một cách tự nhiên và có khi là tiếng nấc tự đáy lòng bởi lẽ thường tình của cuộc sống con người. Với chủ đề hết sức khó nói ở trên, ta thấy ở đây tác giả không hề có sự khen chê tiếu táo bên ngoài mà là những suy ngẫm có lẽ cũng đã được chưng cất hẳn hoi và cả việc cân nhắc bởi khi trở thành chàng trai già nhà thơ mới “trình làng” điều suy nghĩ ấy.

Với bài thơ “vợ mình không lẽ…” cũng vậy. Bài thơ với sáu khổ thơ, mỗi khổ bốn câu, bắt đầu lần lượt:

“Vợ mình không lẽ không yêu
Mà sao yêu khó hơn nhiều lúc xưa
Lên giường còn quát búa xua
Nào chưa mua gạo nào chưa đóng tiền… (khổ 1)

         Các khổ sau mô típ thứ tự câu đầu: “vợ mình không lẽ không khen”, “vợ mình không lẽ không ưa”, “vợ mình không lẽ không đau”, “vợ mình không lẽ không mê”, “vợ mình không lẽ không thương”… tất cả là để “Giữ cho hai chữ sum vầy/Tới khi nhắm mắt xuôi tay vẫn còn”.

          Cũng là điều khó nói về vợ đó là chuyện son phấn. Câu chuyện muôn đời của phái đẹp, nhưng nhà thơ lại gửi gắm một tâm sự rất chân thành Anh muốn được nhìn mặt mộc/ của em dù chỉ một lần/để biết khi quên son phấn/ có giống người anh yêu không!” (Bài mặt mộc). Có trách cứ gì đâu, anh chỉ muốn thôi, chỉ mong thôi. Nhưng không phải vì vậy mà anh không thương em, quên đi việc mua son phấn cho em. Nhưng cảm nhận là quyền của anh, anh muốn được chia sẻ, muốn được nói thật “lạ là em không trang điểm/ thấy yêu em nhiều hơn/ cái tánh của anh lạ thế/nên có nhiều cô bỏ đi/anh biết nhưng anh không thể/mách bảo trái tim điều gì…

          Và rồi kết bài thơ tác giả rất thẳng thắn, không còn là chuyện son phấn, hình thức bên ngoài, điều quan trọng hơn cả đó là tấm lòng dành cho nhau “hay là ta chia tay đi/yêu nhau mà lòng không mộc/thì yêu nhau để làm gì...” (Bài mặt mộc). Ở đây nhà thơ vừa rất thật lòng nhưng cũng đã nói hộ lòng người khác ở cách nhìn phóng khoáng hơn. Vui vẻ hơn “lỡ làm thơ lỡ viết văn/không bao giờ biết lăng nhắng, viết gì?” hay “Ôm em gần hết đời rồi/ em cho ta được ôm người thứ hai/ cho ta hạ một quân bài/cho ta cảm thấu bi ai nhân tình? (Đơn thơ gửi chuyết thê)

Trong “Bình quyền” nhà thơ đưa ra lời cam kết Mình đi nhớ vợ của người//vợ mình thì nhớ cái thời tim sen/có quyền nhớ không quyền ghen/hai ta giao ước công bằng rứa nghe…thế gian ai chẳng vì tình/ ai không thường mộng u minh vì người/cuộc mình được mấy lăm hơi” và đây lời phi lộ “yêu quá điếc yêu nhiều câm/ ta yêu vừa đủ âm thầm mấy em” (Bài yêu vừa đủ)

Ai cũng biết, dù cuộc sống sau hôn nhân thường phát sinh nhiều khó khăn, những thói hư tật xấu của vợ hoặc chồng lâu ngày càng bộc lộ ra, thế nhưng họ vẫn chấp nhận và luôn dành cho nhau tình cảm yêu thương, chân thành nhất. Điều này chẳng có gì để nói. Điều đáng nói là nói những gì rất thật ấy không hiển nhiên như tất yếu mà để cả hai cùng có những nhìn nhận lại chính bản thân mình hiểu hơn cái tôi “tự ngã” của mình và cũng chính nỗi trăn trở mà thơ không thể đứng cuộc bởi thơ cũng chính là tiếng nói của cuộc đời, nhận diện, khám phá và truyền đi những thông tin như là những mật ngữ của loài thi sỹ.

Điều khó nói cuối cùng muốn nói ở đây “ngôn ngoại” không ngoài việc vợ chồng nếu như muốn ở cạnh nhau lâu dài thì hãy yêu thương nhau, nhẫn nhịn, biết chấp nhận vì nhau, có như vậy thì hạnh phúc gia đình mới bền lâu được. Và sau thưởng thức chùm thơ có thể nói là tập hợp một chủ đề khó nói của thơ và của nhà thơ tôi lại nhớ câu thơ của thi sỹ Nguyên Hàn Chung trong bài “Ăn kỷ niệm”, rất tự nhiên, vô thường không cần lý giải. Bữa về phố Hội ăn mì/ ngon như từng đãi em gì quên tên…”




                                                           

Võ Văn Trường 

>> Đọc tiếp…

Ý nghĩ cuối ngày - chùm thơ Võ Văn Trường

Ý NGHĨ CUỐI NGÀY

 

Mỗi cuối tuần con lại về quê

Thăm căn nhà xưa, nhớ vệt rêu cha trượt

Ngày lả mệt rồi, đồi dốc thở cầm hơi

--

Những giọt mồ hôi sắc như liềm hái

Cứa vào con lời cha dặn ngày nào

Trệu trạo tiếng bò trâu... nhai mùa hè sót lại

--

Những vạt cỏ tranh thanh minh ngày cạn nắng

Rễ đâm vào nhoi nhói hoàng hôn

Thương mỗi mẹ ôm mặt trời xuống núi

--

Tháng ba những bông hoa gạo cháy lên bầu trời

Đớn đau sóng sánh

Tiếng gió đêm khế ước nỗi buồn.       

 

PHÍA NÚI

 

Từng gọt đêm rụng về phía núi

Qua cánh đồng mẹ trượt ngã ngày xưa

Bàn tay mảnh mai cấy xuống đồng sâu bằng nỗi buồn xa xứ

Mạ ruộng quen, mẹ lạ lẫm quê chồng…

--

Đám Thạch mội bờ, đám Giếng trũng sâu… Trầm Linh sỏi cát

Giần sàng chát chao tiếng chiều rơi

Có tuổi thanh xuân gập trong ngọn khói

Khoắt khuya canh tàn mỗi tiếng vạc đêm

--

Thuyền theo lái, nặng tình phu phụ

Như thời trẻ mẹ yêu ba bởi người ấy đã nhiều vết thương lòng.

Loạn lạc, chiến tranh, đôi miền chia cắt

Những ngày mới hòa bình, gian khó xiết bao

--

12 năm con thiếu bóng ba, mẹ hóa giọt mưa sa, bão lòng quăng quật

Thuyền quyên ơi đâu môi thắm má hồng

 Mà vò võ lặng câm chiếc bóng

 Mưa tạc phên tường, mái lá, giọt tranh

--

Cây bồ kết ba trồng còn đây mà mẹ chừ đi vắng

Chùm hoa bưởi dâng hương làm con chợt giật mình

Áng mây kia sao bỏ trời đi mãi

Chiếc ghế gỗ hiên nhà ai ngồi đợi ngóng con…

--

Từng giọt đêm rụng về phía núi

Đất tơi ấm lạnh chỗ mẹ nằm

Xin bầy cỏ tháng ba hãy thức cùng mẹ với

Sớm hôm giờ con chẳng thể gần bên…

--

Vườn cũ nhớ ơi ngày còn thơ bé

Mưa đổ sân vườn, bếp lửa, gùi rơm

Mẹ thức dậy từ canh ba lo bữa cơm cho con đến trường đến lớp

Lo các con vấp ngã giữa đời, lo sống thiếu nghĩa nhân…

--

Yên nghỉ nhé mẹ ơi, thôi đừng lo lắng nữa

Phía núi đêm nay ba mẹ sẽ sum vầy.                                                              

6.4.2022

 

KHÔNG ĐỀ (1)


Đêm lâm bồn câu thơ nhớ mẹ

Một năm rồi hôm ấy Người đi

Có một bầu trời trong con sập đổ

Những thằng già thương nhớ mẹ… vì đâu

--

Đêm lâm bồn câu thơ nhớ mẹ

Ngày mẹ theo ba vỡ hoang cấm Miếu, cấm Hầm

Vách đất, nhà tranh tiếng lặng im… nước mắt

Bữa cơm quê, gạo thóc hố bom, sắn lát, khoai hà

--

Đêm lâm bồn câu thơ nhớ mẹ

Bước thấp, bước cao, kiểng đội… trật trìa

Đồng hợp tác chua phèn, “cha chung không ai khóc”

Ngày hạn hán khoắt khuya còn sóng sánh gàu nan múc nỗi buồn…xa xứ

--

Đêm lâm bồn câu thơ nhớ mẹ

Nghe tiếng đêm đập phía ngực mình

Tiếng tò vò đứng trưa, tiếng mèo sạo bếp

Sột soạt tiếng lá chuối khô mẹ nấu bữa cơm chiều

--

Đêm lâm bồn câu thơ nhớ mẹ

Một thời thiếu nữ mảnh mai

Chẳng phấn son vẫn môi hồng má thắm

Thương câu hát bên bờ Hiền Lương… ngày ấy theo chồng

--

Đêm lâm bồn câu thơ nhớ mẹ

Thấm lạnh hơi sương cánh vạc, cánh cò

Đã mãi theo Người về miền mây trắng

Dẫu biết vô thường sao lòng chẳng nguôi ngoai.


ĐÔI DÒNG VỀ MẸ

    (Nhân 100 ngày mẹ vĩnh viễn đi xa)

 

Thế là mẹ đã đi xa

Trở về vườn cũ cùng cha yên nằm

Thôi thì một kiếp thân tằm

Vầng trăng phu phụ, đêm rằm nhớ thương

--

Chỗ cây bồ kết góc vườn

Tóc phanh phơ nhớ con đường… mưa xưa

Này bông hoa cải ban trưa

Lắc lay vàng vọt tiễn đưa… làm gì

--

Ly quê Nam - Bắc ngậm ngùi

Biết bao cay đắng ngọt bùi gió sương

Hiền lương, sau trước, khiêm nhường

Chảy xuôi nước mắt, vô thường… mà đau

--

Mưa đêm gió tạc bờ lau

Dây trầu không héo, hàng cau… nghẹn buồng

Cánh chuồn cô lẻ… chiều buông

Căn nhà tịnh vắng dấu buồn… tái tê

--

Cửu tuyền, hồn phách, bến mê

Khắp miền mây trắng mẹ về… cõi nao

Trăm ngày đã đến rồi sao

Lạy cao xanh ấy chỉ cho… đường về.

--

Bên hiên, ghế chiếc cận kề

Nhớ ngày ruộng lạ, nón mê… tuổi buồn

Quay cuồng chín chữ (2) héo hon

Một đời mẹ đã vì con…vuông tròn

--

Từ rày dẫu có miếng ngon

Con về thăm mẹ… núi non chạnh buồn.




Võ Văn Trường

_________________________

 (1) Sắp đến một năm ngày Mẹ tôi đi xa: 1.4.2022-1.4.2023 

(2)Thành ngữ:“Chín chữ cù lao”. Ý nói về công lao khó nhọc của cha mẹ. Chín chữ đó gồm: 1. Sinh: Cha mẹ đẻ ra.  2. Cúc: Nâng đỡ con. 3. Phủ: Vỗ về vuốt ve. 4. Súc: Cho ăn bú mớm. 5. Trưởng: Nuôi dưỡng thể xác cho con. 6. Dục: Giáo dưỡng con về tinh thần. 7. Cố: Trông (xem, nhìn, ngắm). 8. Phục: Quấn quýt, săn sóc không rời tay. 9. Phúc: Ẵm bồng, gìn giữ, lo cho con đầy đủ, sợ con bị người khác ăn hiếp.                                         

 

  

>> Đọc tiếp…

Thêm một tháng Giêng - chùm thơ Võ Văn Trường

THÁNG GIÊNG

Tháng Giêng, ví dụ chẳng còn muốn lang thang ra phố
Uống một ly đen, ngắm cô gái bán hàng
Nghe cảm giác giọt giọt rơi đặc quánh
Lắng câu ca mắc cạn bến sông chiều.
>> Đọc tiếp…

Ngoại ô - chùm thơ Võ Văn Trường

NGOẠI Ô


Ký ức bung bay quả gòn tuổi nhỏ

Vương vất tôi về vùng đất ngoại ô

Căn nhà xưa bấc đèn lụi đỏ

Cơn dông về lũ mối bay ra

--

Tuổi thơ tôi nhặt giấc mơ trên cỏ

Vịn nỗi nhớ quay về giữa hàng cấy giăng dây

Mùa đông lùa qua vai cơn bấc

Tóc em dày hôm trăng khuất vào mây

--

Đêm ngoại ô nghe tiếng mưa bỏ bê thành phố

Những vách ngăn, tường vôi rửa chân ngày

Lắng vào tôi, xác lá heo may hoang hoải

Tiếng mái chèo, khua chạm đáy sông

--

Có một ngoại ô mùa đông

Nỗi buồn tôi không tuổi

Những ô cửa bong trầy ánh mắt

Lặng lẽ rơi rơi, những giọt nắng hoa vàng

--

Nhớ mùa đau, trái sầu đông nghe mưa

Trăng mười sáu dắt tay người bỏ trốn

Đêm lặng mái nhà, đổ xuống vũng sân

Tiếng chim bay, theo tha hương lòng ai

--

Có một ngoại ô tình yêu tôi đơn côi

Ký ức phủ nhầu, sương mờ hơi rượu

Khuya khoắt vầng trăng, ai bỏ quên bên trời

Ngoại ô thương nhớ…(*)

 

NGHE MƯA

 

Còn đây

Mùa đông lạnh lẽo

Bao vây quanh chỗ ta ngồi

Bày chi mấy chùm hoa giấy

Nghe mưa rơi phía não lòng

--

Còn đây

Cuối sông, đầu bãi

Tiếng chim bói cá đâu rồi

Kêu chi giữa trời cơn bấc

Tròng trành, ngày con nước lên

--

Còn đây

Tiếng con cá quẫy

Cựa mình, khóm bèo nghiêng trôi

Biết đâu bên mình vực xoáy

Bão giông bên cạnh yên bình

--

Còn đây

Ngày rơi cơn mộng

Cánh chuồn, vạt nắng ngày xưa

Triền lau, bờ sông đầy gió

Hoang vu lòng chợt nhớ người

--

Còn đây

Câu thơ ngày cũ

Tiễn ta về chốn lạc loài

Rơi như vàng rơi…chiếc lá

Mà lòng đau thấu hạt mưa…                                          

 

CHẲNG THỂ

 

Anh chẳng thể dịu dàng

Yêu em và đau khổ (**)

Dẫu chưa lần trao gửi

Nụ hôn ngày chia xa

--

Có ai buồn cùng tôi

Thương giùm tôi ngày đó

Mãi mãi phía bên này

Em qua cầu Ô Thước

--

Nhớ lại buổi tan trường

Theo em không là Ngọ

Giữa Huế nhiều hoang mang

Rong rêu như thành quách

--

Bao mùa hoa phượng nở

Sân trường đầy chia xa

Những bàn chân ly biệt

Giẫm vào chiều nhớ nhung

--

Em về nơi xa đó

Bao năm tháng phũ phàng

Bủa vây ngày thiếu nữ

Những giấc mơ hoang đàng

--

Ôi văn chương phụ bạc

Trách chi người em xa

Như đò ngang sông nắng

Chở theo nhiều đớn đau

--

Ta ngồi lại cùng ta

Uống đã ngàn ly đắng

Sao chẳng cạn niềm xa

Yêu em ta chẳng thể.


 

MÙA XUÂN

            Có phải mùa đông đà cạn kiệt

          Xuân đến rồi mà cứ ngỡ trong mơ

                                   (ý thơ Rasul Gamzatov)

 

Không giữ riêng mình nữa

Những eo thon, vai lụa nõn nà

Mở gió cho tóc chảy

Bồnh bềnh mùa xuân qua

--

Câu thơ tình một thuở

Vỡ ùa vào xa xăm

Chỉ còn sương trên tay

Chỉ còn tim nhịp thở

--

Xuân những mùa khao khát

Chẳng giữ được tình nhau

Niềm đau màu tóc cũ

Vội vàng chiều hoàng hôn

 

                                      

 

Võ Văn Trường

__________________

(*) Tên tập sách của nhà văn Lê Phi Tân (Huế)

 (**) Bởi yêu em ta sầu khổ dịu dàng - Nguyễn Tất Nhiên 

>> Đọc tiếp…

Ghi ở Tam Kỳ - chùm thơ Võ Văn Trường

GHI Ở TAM KỲ


Ngày khuất nẻo cuối thu phố nhỏ

Lòng chợt buồn như thể… giọt Ngâu

Như thể ta đang là hớp rượu

Bên dòng Dịch thủy tiễn Kinh Kha

--

Người đi dưới suối trên nguồn

Tam sông tứ bể, biết tìm nơi mô

Câu ca người Quảng thương về

Xin đừng bạc dạ nhạt lòng hỡi ai

--

Cuối thu rồi còn lo chạy bão

Trách cứ ai đây, thiên họa khôn lường

Hỏi đại dương kia vì sao cuồng nộ

Lòng người đổi thay dâu bể đã từng

--

Đò Ba bến chuyện tình tan hợp

Mùa thu thật xa, không về đến Tam Kỳ

Đành tri kỷ với lòng mình bao nỗi

Những bông lau triền sông se sắt…rịm vàng

 

ĐÔI DÒNG VỀ MẸ

 

Từng gọt đêm rụng về phía núi

Qua cánh đồng mẹ trượt ngã ngày xưa

Bàn tay mảnh mai cấy xuống đồng sâu bằng nỗi buồn xa xứ

Mạ ruộng quen, mẹ lạ lẫm quê chồng…

--

Đám Thạch mội bờ, đám Giếng trũng sâu… Trầm Linh sỏi cát

Giần sàng chát chao tiếng chiều rơi

Có tuổi thanh xuân gập trong ngọn khói

Khoắt khuya canh tàn mỗi tiếng vạc đêm

--

Thuyền theo lái, nặng tình phu phụ

Như thời trẻ mẹ yêu ba bởi người ấy đã nhiều vết thương lòng.

Loạn lạc, chiến tranh, đôi miền chia cắt

Những ngày mới hòa bình, gian khó xiết bao

--

12 năm con thiếu bóng ba, mẹ hóa giọt mưa sa, bão lòng quăng quật

Thuyền quyên ơi đâu môi thắm má hồng

 Mà vò võ lặng câm chiếc bóng

 Mưa tạt phên tường, mái lá, giọt tranh

--

Cây bồ kết ba trồng còn đây mà mẹ chừ đi vắng

Chùm hoa bưởi dâng hương làm con chợt giật mình

Áng mây kia sao bỏ trời đi mãi

Chiếc ghế gỗ hiên nhà ai ngồi đợi ngóng con…

--

Từng giọt đêm rụng về phía núi

Đất tơi ấm lạnh chỗ mẹ nằm

Xin bầy cỏ tháng ba hãy thức cùng mẹ với

Sớm hôm giờ con chẳng thể gần bên…

--

Vườn cũ nhớ ơi ngày còn thơ bé

Mưa đổ sân vườn, bếp lửa, gùi rơm

Mẹ thức dậy từ canh ba lo bữa cơm cho con đến trường đến lớp

Lo các con vấp ngã giữa đời, lo sống thiếu nghĩa nhân…

--

Yên nghỉ nhé mẹ ơi, thôi đừng lo lắng nữa

Phía núi đêm nay ba mẹ sẽ sum vầy.                                                    

6.4.2022

 

BÊN BỜ CÂY CỎ

 

Hạ cháy, một thời nông nổi

Nắng vàng, ký ức xa xôi

Đơn côi trang thư kỷ niệm

Nhớ ơi, mấy khúc nồng nàn

--

Con sẻ, bâng quơ mái rạ

Mỏ khua, tiềm thức rêu buồn

Còn chăng, bến xuân gối mộng

Người mơ, lầu vắng trăng thềm

--

Nhớ ngày sớt chia quạnh quẽ

Mùa hạ bên trời rất xanh

Chừ thành mênh mông xa lạ

Sũng chiều, đau tiếng ve ran

--
Tiễn người, tháng tư mắt đỏ

Mấy chùm hoa gạo triền sông

Có tiếng chim kêu vực dốc

Hoang liêu ngọn gió ngập lòng

--

Tôi về bên bờ cây cỏ

Vết thương, vạt nắng lịm dần

Rưng rức một miền sương khói

Qua đời tôi những… buồn đau.





                                                 

Võ Văn Trường

>> Đọc tiếp…