Home » Võ Văn Trường
- Trang chủ
- |
- Giới thiệu
- |
- Quy ước
- |
- Tác giả
- |
- Thư ngỏ
- |
- Lá thư Bông Tràm
Tác phẩm kỷ niệm 10 năm hoạt động của Bông Tràm, có sự góp mặt của 50 tác giả với trên 100 tác phẩm. Sách dày 312 trang, khổ 13 x 19 cm, giá 100.000 đồng.
GHI Ở ĐÀ LẠT 1
Bỏ Huế buồn tôi…
lên Đà Lạt
Thơ bỏ sân trường,
phía gốc cây
Bao năm rồi nhỉ,
quần sanh cỏ
Tịnh thổ hồn tang
lặng lẽ mùa
--
Ừ thì Đà Lạt mời
tôi đến
Sương và thông
thơm ngát mây trời
Cô đơn, cánh dã quỳ
vàng nắng
Rót vào tống biệt,
tiễn ngày đi
--
Huế đã xa rồi, chừ
Đà Lạt
Sao hàng thông
xanh rất Ngự Bình
Sao chiều than thở,
ai ngược dốc
Những biệt thự buồn…mà
gió Nam Giao
--
Đêm Đà Lạt kể về
những chuyện tình dang dở
Nghe giọng Khánh
Ly, sương khói mơ hồ
Gọi tên, Huế - Sài
Gòn - Đà Lạt
Gọi người, trả nợ
tình xa…
3.10.2020
GHI Ở ĐÀ LẠT 2
Những
cơn mưa phùn đưa Đà Lạt vào thu
Ngày
tôi đến sương mù giăng ảo mờ, chẳng ai đợi tôi bên nhà ga xe lửa
Thành
phố lại trở buồn như ai đó vừa mới đi xa
Hồ
Xuân Hương tím dần buông trong suy nghĩ
--
Những
người yêu nhau nghe ái ân vất vương như nhựa thông phấn trắng
Lặng lẽ
tiếng chuông nhà thờ chậm rơi
Hoa dã
quỳ vàng vào lối nhỏ
Ký ức là
câu chuyện tình về chàng K’Lang và nàng H’Biang (1)
--
Đà Lạt
như sương, rong rêu qua phận người lặng lẽ
Những
giấc mộng đẹp đâu đó vẫn chưa tan
Lẩn
khuất đâu đây là những Alexandre
Yersin, P. Munier (2), Hàn Mặc Tử, Trịnh Công Sơn…
Tâm hồn họ đi xuyên qua thời gian Đà Lạt
--
Có cố nhân đâu mà sao nhớ quá
Người xưa nơi nao, chỉ còn đây cơn mưa
phùn chiều muộn… đời trai
Những hạt mưa rơi ngập ngừng, tóc ngưng
điểm bạc
Vây quanh tôi ly cà phê và quá vãng…sương
mù.
7.8.2022
GHI Ở ĐÀ LẠT 3
Ngày Đà Lạt xa
tôi, Hồ Xuân Hương lặng im không nói gì
Chỉ có đám mây
trên đầu bay vẫy vẫy
Lóng lánh màu đồng
đen, chú gà nhỏ trên đỉnh nhà thờ Nicôla Bari
xoay theo gió
Mùi phấn thông
thơm tho những ca khúc thánh đường
--
Đà Lạt
chìm trong se lạnh nhìn tôi
Ánh nhìn của nhà bác học người Pháp Alexandre Yersin
130 năm người đến nơi này
Bây giờ ông tản bộ ở đâu chỉ thấy những cặp tình nhân thả hồn
vào hoa cỏ
--
Đà Lạt những câu chuyện tình yêu, lãng mạn, không thành
Tôi đã ghé thắp hương ở đồi thông hai mộ
Chẳng trách hờn ai một đời Hồ Than Thở
Đỉnh LangBiang và thiên tình sử Romeo - Juliet nơi này
--
Tôi
nghe những cơn mưa cầu hôn bên gốc thông già
Rồi
thiếp đi giấc dã quỳ vàng rực
Bốn mùa trôi trong ngày ngoằn ngoèo…những con dốc vút cao
Trên đồi thông xanh Tà Nung…những biệt thự màu hồng.
--
Ngày Đà Lạt xa tôi chầm chậm
Vương vương hơi thở ai trong sương
Thì thầm với tôi hò hẹn
Nghe lại tiếng hát mộc của Khánh Ly thời mới bước vào nghiệp
hát ca
--
Đà Lạt xa tôi chầm chậm mà nhớ
Góc tĩnh lặng cà phê Tùng, thi sĩ Bùi Giáng từng xé vỏ thuốc
lá viết những câu thơ lộng lẫy
Chàng sinh viên gốc Chăm Từ Công Phụng thuở ban đầu, những
giai điệu mộng du
Lời tình nào Trịnh Công Sơn viết cho Dao Ánh trong một bức
thư.
--
Đà Lạt xa tôi chầm chậm
U hoài, ngậm ngùi về một thời quá vãng
Mà nhớ dư âm tiếng vó ngựa trong sương mù
Cầm sắc đến tàn hơi, Đà Lạt ơi…
2.2023
GHI Ở ĐÀ LẠT 4
(Đà Lạt sương mù)
Tôi yêu cái tên “Đà Lạt bên dưới sương mù”…(3)
Nhẩn nha nhớ nhớ bây chừ gần hết tháng ba
Mi mô da cuối mùa tỏa hương từ trăm cánh nhỏ
Xưa xa còn đó, những biệt thự màu hoàng lan
Bước chân tôi tiễn tôi về theo tiếng chuông nhà thờ Nicolas (4)
Ngày tôi đến
Sững sờ dưới chân núi LangBiang
Nghe kể chuyện góa phụ O’Neil, lập vườn cà phê Arabica
… và những con xén tóc (5)
Mùi hương hoa ướp trọn nỗi buồn
Khuya khoắt những giọt mưa trong thành phố
Những giọt mưa bên ngoài ô cửa sổ
Hình như đâu đây hiện hữu những cuộc chia ly
Mái tóc thật đen, đôi mắt thật buồn
Chẳng có nụ hôn, không bàn tay tiễn biệt
Bóng người đổ về đêm, tiếng hồ than thở
Không còn người viết tiếp chuyện đồi thông
Ôi những bông hoa bất tử
Hãy đợi những người yêu nhau như đợi ngày xa mặt đất
Đợi có một người sẽ chết vào đêm mai
…và ngàn đêm sau nữa
Những trái thông nhỏ như đóm lân tinh
Thả rơi những tinh cầu
Thả rơi từng mảng hồn rờn rợn
Tạm biệt nhé những loài hoa và cả những chuyện tình…
Oải Hương từ miền Địa Trung Hải
Tím đến thế, thủy chung cho triệu triệu người chiêm ngưỡng
Nhưng tình yêu chỉ có một ngươi…
Dã Quỳ và chuyện tình ba người không hồi kết
Họ chết đi để trên đời còn có một loài hoa…
Lại nghĩ về những cuộc chia ly
Đêm nay và nhiều đêm sau nữa
Những người yêu nhau chết đi thành Đà Lạt sương mù.
Võ Văn Trường
________________
(1)Lịch sử Langbiang xuất phát từ câu chuyện
của hai nhân vật là chàng K’Lang và nàng H’Biang. Cái tên Langbiang ra đời –
ghép từ chính tên của hai người tình khi họ qua đời.
(2)Trong chuyên đề về Đà Lạt năm 1941 được đăng trên Tạp chí
Đông Dương (Indochine), số 28, năm 1941, tác giả P. Munier đã có những cảm nhận
đặc biệt về vùng đất này. Bài viết được đăng bằng tiếng Pháp; nhà nghiên cứu về
Đà Lạt Nguyễn Hữu Tranh đã dịch ra Việt ngữ. Qua cảm nhận của P. Munier, Đà Lạt
như một thiên đường của những loại hoa.
(3) Tên một tập sách
(4) Nhà thờ Thánh Nicolas cuối thập niên 1920, tiền thân nhà thờ Chánh tòa Đà Lạt.
(5) Khi Pháp đô hộ gần thác Cam Ly, một góa phụ người Pháp có tên O’Neil lập vườn trồng cà phê Arabica. Đặc biệt nàng có biết tài canh giữ không để những con xén tóc phá hoại…và cung cấp một loại cà phê thượng hạng. Nông trại của góa phụ sau này đã bị chính thác nước do nàng tạo ra cuốn phăng…và không bao giờ được xây dựng lại.
Nhà thơ Nguyễn Hàn Chung còn có các bút danh: Nguyễn Phong Hàn, Nguyễn Đức Mù Sương, Nguyễn Mù Sương. Quê quán của anh ở Điện Bàn, Quảng Nam. Anh dạy học ở Đà Nẵng từ 1971 – 1975, từ 1975 – 2006 ở Quảng Nam, năm 2006 đến nay định cư ở Hoa Kỳ. Tác phẩm xuất bản: Tìm tôi trong bóng (NXB Đà Nẵng, 1999). Nói hộ phù du (NXB Đà Nẵng, 2002). Nghịch lưu của tuổi (Ebook Da Màu, 2011). Dự cảm rời (NXB Bản sắc Việt, 2016). Lục bát tản thần (NXB Bản sắc Việt, 2018). “Mót chữ trong Kinh”-Tập thơ 244 bài thơ bốn câu, NXB Mở Nguồn, 2020…
Thơ của nhà thơ đồng hương xứ Quảng Nguyễn Hàn Chung tôi ấn tượng
và yêu thích bởi nhiều điều, nhưng gần đây tôi lại yêu thích thơ ông không chỉ bởi
cái khoảng trống đề tài mà thi ca nhiều năm qua (có lẽ vậy) ít được đề cập, mà đó
còn là cách đặt vấn đề và giải quyết vấn đề này với một tinh thần rất Nguyễn
Hàn Chung. Nội hàm chủ đề vợ.
Vẫn biết, xưa nay thi nhân vẫn dùng những vần thơ đẹp nhất dành
cho phái đẹp là mẹ, là em (có
thể là người yêu, người tình, hay một bóng hồng nào đó lướt qua đời mình). Những tác phẩm trên thi đàn nổi tiếng phải kể “thương vợ” của
cụ Tú Xương nhưng rồi về sau thì thơ ca viết về vợ ít được đề cập hơn. Phải
chăng những vần thơ dành cho vợ là thứ
rượu hiếm (cả số lượng và chất lượng) được chưng cất cả bằng niềm thương, lòng
biết ơn đôi khi cả sự hối hận và cả nỗi nợ nần không gì đền đáp…
Trong số những bài thơ hay viết cho vợ có thể đếm trên đầu ngón tay, tôi
đặc biệt bất ngờ và xem là tuyệt tác khi đọc được bài thơ “Nhớ” của cố nhà thơ
Khương Hữu Dụng.
“Em luôn miệng cằn nhằn/
Kêu mưa rồi trách nắng/
Ước gì em đi vắng/
Ðược một ngày yên thân/
Em vĩnh viễn ra đi /
Mênh mông nhà lạnh vắng
Ước gì nghe em mắng/
Vui tiếng em cằn nhằn.”
“Nội hàm” vợ, viết cho nỗi nhớ thương quả thật có những bài thơ
hay đến vậy nhưng để viết cái chỗ “hục hặc” trong cánh cửa nhà mình chắc chắn
nhiều người sẽ đồng quan điểm, chẳng dễ dàng gì thành thơ. Điều này khó nói hơn
cả những điều khó nói. Song mới đây trên một trang văn chương trong nước đăng tải
một chùm thơ của nhà thơ Nguyễn Hàn Chung tôi tình cờ đọc được và rất thích thú,
khéo khen chẳng chút bông lơn, sao nhà thơ viết tài đến vây.
“…Anh feel good còn em feel bad
trời se duyên hai đứa sống chung
sao tránh khỏi vợ chồng hục hặc
cặp đôi nào không tứ hành xung.
Em feel bad còn anh
feel good
sống cùng nhau đến cuối cuộc cùng
mà không phải tan đàn rã nghé
nhờ chúng mình khéo đậy nắp vung
Anh tạm mở nắp vung
em nhé
cho khói bay thấm tận nghìn trùng.”
(Bài Feel good & feel bad)
Rất đồng cảm với tác giả
Dương Diên Hồng với lời nhận định, thơ Nguyễn Hàn Chung là vần điệu gần gũi mà
ý tứ thăm thẳm, lắt léo. Đọc cách này lóe ra hiểu cách khác nhưng dù bằng cách
nào đi nữa thì con đường đến thơ của ông cũng rất độc đạo. Con đường đó đầy cảm
thông và yêu thương. Thơ anh trăn trở chạm đến nguồn mạch cảm xúc một cách tự
nhiên và có khi là tiếng nấc tự đáy lòng bởi lẽ thường tình của cuộc sống con
người. Với chủ đề hết sức khó nói ở trên, ta thấy ở đây tác giả không hề có sự
khen chê tiếu táo bên ngoài mà là những suy ngẫm có lẽ cũng đã được chưng cất hẳn
hoi và cả việc cân nhắc bởi khi trở thành chàng trai già nhà thơ mới “trình làng”
điều suy nghĩ ấy.
Với bài thơ “vợ mình
không lẽ…” cũng vậy. Bài thơ với sáu khổ thơ, mỗi khổ bốn câu, bắt đầu lần
lượt:
“Vợ
mình không lẽ không yêu
Mà sao yêu khó hơn nhiều lúc xưa
Lên giường còn quát búa xua
Nào chưa mua gạo nào chưa đóng tiền…
(khổ 1)
Các khổ sau mô típ
thứ tự câu đầu: “vợ mình không lẽ không khen”, “vợ mình không lẽ
không ưa”, “vợ mình không lẽ không đau”, “vợ mình không lẽ không mê”, “vợ mình
không lẽ không thương”…
tất cả là để “Giữ cho hai chữ sum vầy/Tới khi nhắm mắt xuôi tay vẫn còn”.
Cũng
là điều khó nói về vợ đó là chuyện son phấn. Câu chuyện muôn đời của phái đẹp,
nhưng nhà thơ lại gửi gắm một tâm sự rất chân thành “Anh muốn được nhìn mặt mộc/ của em dù chỉ
một lần/để biết khi quên son phấn/ có giống người anh yêu không!” (Bài
mặt mộc). Có trách cứ gì đâu, anh chỉ muốn thôi, chỉ mong thôi. Nhưng không phải
vì vậy mà anh không thương em, quên đi việc mua son phấn cho em. Nhưng cảm nhận
là quyền của anh, anh muốn được chia sẻ, muốn được nói thật “lạ là em không trang điểm/ thấy yêu em nhiều
hơn/ cái tánh của anh lạ thế/nên có nhiều cô bỏ đi/anh biết nhưng anh không thể/mách
bảo trái tim điều gì…
Và rồi kết bài thơ
tác giả rất thẳng thắn, không còn là chuyện son phấn, hình thức bên ngoài, điều
quan trọng hơn cả đó là tấm lòng dành cho nhau “hay là ta chia tay đi/yêu nhau mà lòng không mộc/thì yêu nhau để làm
gì...” (Bài mặt mộc). Ở đây nhà thơ vừa rất
thật lòng nhưng cũng đã nói hộ lòng người khác ở cách nhìn phóng khoáng hơn.
Vui vẻ hơn “lỡ làm thơ lỡ viết văn/không
bao giờ biết lăng nhắng, viết gì?” hay “Ôm em gần hết đời rồi/ em cho ta được
ôm người thứ hai/ cho ta hạ một quân bài/cho ta cảm thấu bi ai nhân tình? (Đơn
thơ gửi chuyết thê)
Trong “Bình quyền” nhà thơ đưa ra lời cam kết “Mình đi nhớ vợ của người//vợ mình thì nhớ cái thời tim sen/có quyền
nhớ không quyền ghen/hai ta giao ước công bằng rứa nghe…thế gian ai chẳng vì
tình/ ai không thường mộng u minh vì người/cuộc mình được mấy lăm hơi” và đây lời
phi lộ “yêu quá điếc yêu nhiều câm/ ta yêu vừa đủ âm thầm mấy em” (Bài yêu vừa
đủ)
Ai cũng biết, dù cuộc sống sau hôn nhân thường
phát sinh nhiều khó khăn, những thói hư tật xấu của vợ hoặc chồng lâu ngày càng
bộc lộ ra, thế nhưng họ vẫn chấp nhận và luôn dành cho nhau tình cảm yêu
thương, chân thành nhất. Điều này chẳng có gì để nói. Điều đáng nói là nói những
gì rất thật ấy không hiển nhiên như tất yếu mà để cả hai cùng có những nhìn nhận
lại chính bản thân mình hiểu hơn cái tôi “tự ngã” của mình và cũng chính nỗi
trăn trở mà thơ không thể đứng cuộc bởi thơ cũng chính là tiếng nói của cuộc đời,
nhận diện, khám phá và truyền đi những thông tin như là những mật ngữ của loài
thi sỹ.
Điều khó nói cuối cùng muốn nói ở đây “ngôn ngoại”
không ngoài việc vợ chồng nếu như muốn ở cạnh nhau lâu dài thì hãy yêu thương
nhau, nhẫn nhịn, biết chấp nhận vì nhau, có như vậy thì hạnh phúc gia đình mới
bền lâu được. Và sau thưởng thức chùm thơ có thể nói là tập hợp một chủ đề
khó nói của thơ và của nhà thơ tôi lại nhớ câu thơ của thi sỹ Nguyên Hàn Chung
trong bài “Ăn kỷ niệm”, rất tự nhiên, vô thường không cần lý giải. “Bữa về phố Hội ăn mì/ ngon như từng đãi em gì
quên tên…”
Võ Văn Trường
Ý NGHĨ CUỐI NGÀY
Mỗi cuối
tuần con lại về quê
Thăm
căn nhà xưa, nhớ vệt rêu cha trượt
Ngày lả
mệt rồi, đồi dốc thở cầm hơi
--
Những
giọt mồ hôi sắc như liềm hái
Cứa
vào con lời cha dặn ngày nào
Trệu
trạo tiếng bò trâu... nhai mùa hè sót lại
--
Những
vạt cỏ tranh thanh minh ngày cạn nắng
Rễ đâm
vào nhoi nhói hoàng hôn
Thương
mỗi mẹ ôm mặt trời xuống núi
--
Tháng
ba những bông hoa gạo cháy lên bầu trời
Đớn
đau sóng sánh
Tiếng
gió đêm khế ước nỗi buồn.
PHÍA NÚI
Từng gọt đêm rụng
về phía núi
Qua cánh đồng mẹ trượt
ngã ngày xưa
Bàn tay mảnh mai cấy
xuống đồng sâu bằng nỗi buồn xa xứ
Mạ ruộng quen, mẹ
lạ lẫm quê chồng…
--
Đám Thạch mội bờ,
đám Giếng trũng sâu… Trầm Linh sỏi cát
Giần sàng chát
chao tiếng chiều rơi
Có tuổi thanh xuân
gập trong ngọn khói
Khoắt khuya canh
tàn mỗi tiếng vạc đêm
--
Thuyền theo lái, nặng
tình phu phụ
Như thời trẻ mẹ
yêu ba bởi người ấy đã nhiều vết thương lòng.
Loạn lạc, chiến
tranh, đôi miền chia cắt
Những ngày mới hòa
bình, gian khó xiết bao
--
12 năm con thiếu
bóng ba, mẹ hóa giọt mưa sa, bão lòng quăng quật
Thuyền quyên ơi
đâu môi thắm má hồng
Mà vò võ lặng câm chiếc bóng
Mưa tạc phên tường, mái lá, giọt tranh
--
Cây bồ kết ba trồng
còn đây mà mẹ chừ đi vắng
Chùm hoa bưởi dâng
hương làm con chợt giật mình
Áng mây kia sao bỏ
trời đi mãi
Chiếc ghế gỗ hiên
nhà ai ngồi đợi ngóng con…
--
Từng giọt đêm rụng
về phía núi
Đất tơi ấm lạnh chỗ
mẹ nằm
Xin bầy cỏ tháng
ba hãy thức cùng mẹ với
Sớm hôm giờ con chẳng
thể gần bên…
--
Vườn cũ nhớ ơi
ngày còn thơ bé
Mưa đổ sân vườn, bếp
lửa, gùi rơm
Mẹ thức dậy từ
canh ba lo bữa cơm cho con đến trường đến lớp
Lo các con vấp ngã
giữa đời, lo sống thiếu nghĩa nhân…
--
Yên nghỉ nhé mẹ
ơi, thôi đừng lo lắng nữa
Phía núi đêm nay
ba mẹ sẽ sum vầy.
6.4.2022
KHÔNG ĐỀ (1)
Đêm lâm bồn câu
thơ nhớ mẹ
Một năm rồi hôm ấy
Người đi
Có một bầu trời
trong con sập đổ
Những thằng già
thương nhớ mẹ… vì đâu
--
Đêm lâm bồn câu
thơ nhớ mẹ
Ngày mẹ theo ba vỡ
hoang cấm Miếu, cấm Hầm
Vách đất, nhà
tranh tiếng lặng im… nước mắt
Bữa cơm quê, gạo
thóc hố bom, sắn lát, khoai hà
--
Đêm lâm bồn câu
thơ nhớ mẹ
Bước thấp, bước cao,
kiểng đội… trật trìa
Đồng hợp tác chua
phèn, “cha chung không ai khóc”
Ngày hạn hán khoắt
khuya còn sóng sánh gàu nan múc nỗi buồn…xa xứ
--
Đêm lâm bồn câu
thơ nhớ mẹ
Nghe tiếng đêm đập
phía ngực mình
Tiếng tò vò đứng
trưa, tiếng mèo sạo bếp
Sột soạt tiếng lá
chuối khô mẹ nấu bữa cơm chiều
--
Đêm lâm bồn câu thơ
nhớ mẹ
Một thời thiếu nữ
mảnh mai
Chẳng phấn son vẫn
môi hồng má thắm
Thương câu hát bên
bờ Hiền Lương… ngày ấy theo chồng
--
Đêm lâm bồn câu
thơ nhớ mẹ
Thấm lạnh hơi
sương cánh vạc, cánh cò
Đã mãi theo Người
về miền mây trắng
Dẫu biết vô thường sao lòng chẳng nguôi ngoai.
ĐÔI DÒNG VỀ MẸ
(Nhân 100 ngày mẹ vĩnh viễn đi xa)
Thế là mẹ đã đi xa
Trở về vườn cũ cùng cha yên nằm
Thôi thì một kiếp thân tằm
Vầng trăng phu phụ, đêm rằm nhớ thương
--
Chỗ cây bồ kết góc vườn
Tóc phanh phơ nhớ con đường… mưa xưa
Này bông hoa cải ban trưa
Lắc lay vàng vọt tiễn đưa… làm gì
--
Ly quê Nam - Bắc ngậm ngùi
Biết bao cay đắng ngọt bùi gió sương
Hiền lương, sau trước, khiêm nhường
Chảy xuôi nước mắt, vô thường… mà đau
--
Mưa đêm gió tạc bờ lau
Dây trầu không héo, hàng cau… nghẹn buồng
Cánh chuồn cô lẻ… chiều buông
Căn nhà tịnh vắng dấu buồn… tái tê
--
Cửu tuyền, hồn phách, bến mê
Khắp miền mây trắng mẹ về… cõi nao
Trăm ngày đã đến rồi sao
Lạy cao xanh ấy chỉ cho… đường về.
--
Bên hiên, ghế chiếc cận kề
Nhớ ngày ruộng lạ, nón mê… tuổi buồn
Quay cuồng chín chữ (2) héo hon
Một đời mẹ đã vì con…vuông tròn
--
Từ rày dẫu có miếng ngon
Con về thăm mẹ… núi non chạnh buồn.
Võ Văn Trường
_________________________
(1) Sắp đến một năm ngày Mẹ tôi đi xa: 1.4.2022-1.4.2023
NGOẠI Ô
Ký ức bung bay quả
gòn tuổi nhỏ
Vương vất tôi về
vùng đất ngoại ô
Căn nhà xưa bấc
đèn lụi đỏ
Cơn dông về lũ mối
bay ra
--
Tuổi thơ tôi nhặt giấc
mơ trên cỏ
Vịn nỗi nhớ quay về
giữa hàng cấy giăng dây
Mùa đông lùa qua
vai cơn bấc
Tóc em dày hôm
trăng khuất vào mây
--
Đêm ngoại ô nghe
tiếng mưa bỏ bê thành phố
Những vách ngăn,
tường vôi rửa chân ngày
Lắng vào tôi, xác
lá heo may hoang hoải
Tiếng mái chèo,
khua chạm đáy sông
--
Có một ngoại ô mùa
đông
Nỗi buồn tôi không
tuổi
Những ô cửa bong
trầy ánh mắt
Lặng lẽ rơi rơi, những
giọt nắng hoa vàng
--
Nhớ mùa đau, trái
sầu đông nghe mưa
Trăng mười sáu dắt
tay người bỏ trốn
Đêm lặng mái nhà,
đổ xuống vũng sân
Tiếng chim bay,
theo tha hương lòng ai
--
Có một ngoại ô
tình yêu tôi đơn côi
Ký ức phủ nhầu,
sương mờ hơi rượu
Khuya khoắt vầng
trăng, ai bỏ quên bên trời
Ngoại ô thương nhớ…(*)
NGHE MƯA
Còn đây
Mùa đông lạnh lẽo
Bao vây quanh chỗ
ta ngồi
Bày chi mấy chùm
hoa giấy
Nghe mưa rơi phía
não lòng
--
Còn đây
Cuối sông, đầu bãi
Tiếng chim bói cá
đâu rồi
Kêu chi giữa trời
cơn bấc
Tròng trành, ngày
con nước lên
--
Còn đây
Tiếng con cá quẫy
Cựa mình, khóm bèo
nghiêng trôi
Biết đâu bên mình
vực xoáy
Bão giông bên cạnh
yên bình
--
Còn đây
Ngày rơi cơn mộng
Cánh chuồn, vạt nắng
ngày xưa
Triền lau, bờ sông
đầy gió
Hoang vu lòng chợt
nhớ người
--
Còn đây
Câu thơ ngày cũ
Tiễn ta về chốn lạc
loài
Rơi như vàng
rơi…chiếc lá
Mà lòng đau thấu hạt
mưa…
CHẲNG THỂ
Anh chẳng thể dịu
dàng
Yêu em và đau khổ
(**)
Dẫu chưa lần trao
gửi
Nụ hôn ngày chia
xa
--
Có ai buồn cùng
tôi
Thương giùm tôi
ngày đó
Mãi mãi phía bên
này
Em qua cầu Ô Thước
--
Nhớ lại buổi tan
trường
Theo em không là
Ngọ
Giữa Huế nhiều
hoang mang
Rong rêu như thành
quách
--
Bao mùa hoa phượng
nở
Sân trường đầy
chia xa
Những bàn chân ly
biệt
Giẫm vào chiều nhớ
nhung
--
Em về nơi xa đó
Bao năm tháng phũ
phàng
Bủa vây ngày thiếu
nữ
Những giấc mơ
hoang đàng
--
Ôi văn chương phụ
bạc
Trách chi người em
xa
Như đò ngang sông
nắng
Chở theo nhiều đớn
đau
--
Ta ngồi lại cùng
ta
Uống đã ngàn ly đắng
Sao chẳng cạn niềm
xa
Yêu em ta chẳng thể.
MÙA XUÂN
Có phải mùa đông đà cạn kiệt
Xuân đến rồi mà cứ ngỡ trong mơ
(ý thơ Rasul Gamzatov)
Không giữ riêng
mình nữa
Những eo thon, vai
lụa nõn nà
Mở gió cho tóc chảy
Bồnh bềnh mùa xuân
qua
--
Câu thơ tình một
thuở
Vỡ ùa vào xa xăm
Chỉ còn sương trên
tay
Chỉ còn tim nhịp
thở
--
Xuân những mùa
khao khát
Chẳng giữ được
tình nhau
Niềm đau màu tóc
cũ
Vội vàng chiều
hoàng hôn
Võ Văn Trường
__________________
(*) Tên tập sách của nhà văn Lê Phi Tân (Huế)
(**) Bởi yêu em ta sầu khổ dịu dàng - Nguyễn Tất Nhiên
GHI Ở TAM KỲ
Ngày
khuất nẻo cuối thu phố nhỏ
Lòng
chợt buồn như thể… giọt Ngâu
Như thể
ta đang là hớp rượu
Bên
dòng Dịch thủy tiễn Kinh Kha
--
Người
đi dưới suối trên nguồn
Tam
sông tứ bể, biết tìm nơi mô
Câu ca
người Quảng thương về
Xin đừng
bạc dạ nhạt lòng hỡi ai
--
Cuối
thu rồi còn lo chạy bão
Trách
cứ ai đây, thiên họa khôn lường
Hỏi đại
dương kia vì sao cuồng nộ
Lòng
người đổi thay dâu bể đã từng
--
Đò Ba
bến chuyện tình tan hợp
Mùa
thu thật xa, không về đến Tam Kỳ
Đành
tri kỷ với lòng mình bao nỗi
Những
bông lau triền sông se sắt…rịm vàng
ĐÔI DÒNG VỀ MẸ
Từng gọt đêm rụng
về phía núi
Qua cánh đồng mẹ trượt
ngã ngày xưa
Bàn tay mảnh mai cấy
xuống đồng sâu bằng nỗi buồn xa xứ
Mạ ruộng quen, mẹ
lạ lẫm quê chồng…
--
Đám Thạch mội bờ,
đám Giếng trũng sâu… Trầm Linh sỏi cát
Giần sàng chát
chao tiếng chiều rơi
Có tuổi thanh xuân
gập trong ngọn khói
Khoắt khuya canh
tàn mỗi tiếng vạc đêm
--
Thuyền theo lái, nặng
tình phu phụ
Như thời trẻ mẹ yêu
ba bởi người ấy đã nhiều vết thương lòng.
Loạn lạc, chiến
tranh, đôi miền chia cắt
Những ngày mới hòa
bình, gian khó xiết bao
--
12 năm con thiếu
bóng ba, mẹ hóa giọt mưa sa, bão lòng quăng quật
Thuyền quyên ơi
đâu môi thắm má hồng
Mà vò võ lặng câm chiếc bóng
Mưa tạt phên tường, mái lá, giọt tranh
--
Cây bồ kết ba trồng
còn đây mà mẹ chừ đi vắng
Chùm hoa bưởi dâng
hương làm con chợt giật mình
Áng mây kia sao bỏ
trời đi mãi
Chiếc ghế gỗ hiên
nhà ai ngồi đợi ngóng con…
--
Từng giọt đêm rụng
về phía núi
Đất tơi ấm lạnh chỗ
mẹ nằm
Xin bầy cỏ tháng
ba hãy thức cùng mẹ với
Sớm hôm giờ con chẳng
thể gần bên…
--
Vườn cũ nhớ ơi
ngày còn thơ bé
Mưa đổ sân vườn, bếp
lửa, gùi rơm
Mẹ thức dậy từ
canh ba lo bữa cơm cho con đến trường đến lớp
Lo các con vấp ngã
giữa đời, lo sống thiếu nghĩa nhân…
--
Yên nghỉ nhé mẹ
ơi, thôi đừng lo lắng nữa
Phía núi đêm nay
ba mẹ sẽ sum vầy.
6.4.2022
BÊN BỜ CÂY CỎ
Hạ cháy, một thời nông nổi
Nắng vàng, ký ức xa xôi
Đơn côi trang thư kỷ niệm
Nhớ ơi, mấy khúc nồng nàn
--
Con sẻ, bâng quơ mái rạ
Mỏ khua, tiềm thức rêu buồn
Còn chăng, bến xuân gối mộng
Người mơ, lầu vắng trăng thềm
--
Nhớ ngày sớt chia quạnh quẽ
Mùa hạ bên trời rất xanh
Chừ thành mênh mông xa lạ
Sũng chiều, đau tiếng ve ran
--
Tiễn người, tháng tư mắt đỏ
Mấy chùm hoa gạo triền sông
Có tiếng chim kêu vực dốc
Hoang liêu ngọn gió ngập lòng
--
Tôi về bên bờ cây cỏ
Vết thương, vạt nắng lịm dần
Rưng rức một miền sương khói
Qua đời tôi những… buồn đau.
Võ Văn Trường