Nẻo về đã khép - truyện ngắn Vương Hoài Uyên

Lúc Quyên về căn phòng trọ phảng phất mùi khói thuốc, mấy mẫu tàn thuốc còn nằm trên chiếc gạt tàn. Hạ đang ngồi soạn bài bên chiếc giường cá nhân nói vọng ra:      

- Lúc nãy có anh Hải đến. Ngồi chờ mầy khoảng một tiếng, hút gần hết gói thuốc lá.     

Quyên cười định hỏi: “Anh ấy có nhắn gì không?” Nhưng sợ bạn nhận ra tâm tư của mình nên thôi. Quyên cất giáo án vào ngăn kéo, vẩn vơ nhìn ra ngoài trời. Lạnh thế nầy mà Hải cũng đến! Bỗng Quyên chợt nhớ ra, Hải đến theo thời khóa biểu cũ của cô: thứ tư hàng tuần cô được nghỉ hai tiết cuối. Tuần nầy thời khóa biểu đã thay đổi, cô chỉ được nghỉ một tiết cuối nhưng lại phải ở lại vì một công việc của lớp chủ nhiệm. Một cảm giác tiếc nuối len nhẹ vào lòng cô: Giá như mình về sớm hơn… Lâu rồi Quyên không gặp Hải.  Anh ấy cứ hư hư thực thực, lúc ẩn, lúc hiện thế nào ấy. Vụt một cái lại đến, lại đi. Có khi mất tăm cả tháng không thấy xuất hiện,  không hẹn hò. Nhưng bao giờ Hải cũng lắng đọng trong Quyên đôi mắt với ánh nhìn nồng ấm, dáng đi hai tay thường cho vào túi quần, đầu hơi cúi xuống, tư thế trầm tư.      

Buổi trưa sau giờ cơm, nhạc ngoại quốc êm dịu dễ ru ngủ nhưng Quyên không ngủ. Quyên nằm trên chiếc giường cá nhân có thể xếp lại gọn gàng, hành trang vào đời mà mẹ đã cho Quyên khi cô từ giã căn nhà thân yêu của mình để lên đây dạy học. Cánh cửa sổ mở rộng, bầu trời mờ đục và những hạt mưa lưa thưa. Một cơn gió lạnh ùa vào mang theo những hạt mưa buốt như kim châm bắn vào mặt cô. Quyên co mình kéo chăn lên tận cổ nhưng vẫn không muốn đóng cửa lại. Đúng là cái rét cao nguyên ngọt ngào mà lúc mới lên đây Quyên gần như không chịu nổi. Quyên thấy da mình xanh xao hơn, đêm ngủ tràn đầy mộng mị. Và những buổi chiều đông thì nhớ quay quắt bếp lửa hồng của mẹ nơi quê nhà xa xôi mờ mịt.

Ban đêm trước khi chìm vào giấc ngủ, bao giờ Quyên cũng nghĩ về mẹ. Giờ nầy chắc mẹ đang ngồi một mình ngoài hiên, trên chiếc ghế xích đu dưới dàn thiên lý thoang thoảng mùi hương. Đó là giờ phút nghĩ về người đã chết. Một mình mẹ với di ảnh của ba trên bàn thờ, trong căn nhà lạnh lẽo, cùng với ước mơ được sống đến năm 2000. Quyên vẫn thường nghe mẹ kể thời con gái của mẹ là thời chiến tranh. Tuy sống ở thị xã nhưng không phải là thoát được lưỡi hái tàn ác của bom đạn. Đang ngủ phải thức dậy chạy xuống hầm là chuyện bình thường. Mạng sống con người mong manh như lá cỏ. Trẻ con hay hát đồng dao ngoài đường: “Mười người chết bảy còn ba, chết hai còn một mới ra thái bình.” Trong bối cảnh chết chóc của những năm cuối thập niên 60 ấy nghĩ đến năm 2000 thật xa xăm như một niềm kinh dị, như một điều không tưởng. Thế mà bây giờ cái “niềm kinh dị” ấy lại sắp đến gần sát nách. Nhưng mẹ không biết mình có còn sống đến ngày ấy không. Cuộc đời vốn phù du – nhất là với những người già như mẹ.      

Quyên thường ứa nước mắt mỗi khi nghĩ đến ước mơ của mẹ. Ước mơ đơn giản như thế nhưng sao mẹ cứ trăn trở như gắn liền với linh cảm nào đó. Nhiều lúc Quyên muốn bỏ tất cả để quay về với mẹ nhưng rồi chính mẹ lại động viên, những ánh mắt học trò níu kéo, và những bạn bè đồng nghiệp nơi đây đã giữ Quyên lại. Họ - những người bạn của mọi miền đất nước đến đây - mỗi người một cảnh, một nỗi niềm riêng, nhưng họ đều là những tâm hồn trẻ trung vừa từ giã chiếc áo thư sinh để bước xuống cuộc đời. Nhiều lúc Quyên thấy phòng hội đồng giáo viên có gì giống như lớp học thời sinh viên, với những vui đùa tinh nghịch. Một lần cô giáo dạy môn Lý, vừa mới đăng ký tên bài dạy sẽ thao giảng vào tuần sau: Định luật Ôm(1), và tên người giảng: Tuyết Thu, trong ngoặc đơn. Hôm sau đã thấy dấu ngoặc đơn biến mất, trên bảng chỉ còn thấy mỗi giòng chữ: Định luật Ôm Tuyết Thu. Cả phòng hội đồng giáo viên được một phen cười như chợ vỡ. Thầy hiệu trưởng – người lớn tuổi nhất trong hội đồng - cũng lắc đầu, cười. Nhưng thầy cũng nhẹ nhàng khuyến cáo:

- Các thầy, các cô đùa với nhau cho vui cũng được thôi, nhưng chớ để học sinh và người ngoài nhìn thấy câu nầy.

Những giáo viên trẻ kín đáo thì thầm với nhau:

-  Bố già lại lên lớp rồi. Biết đâu lúc còn trẻ bố còn nghịch gấp mấy bọn mình ấy chứ.

Còn Tuyết Thu tuy cũng tức cười nhưngđành làm bộ đe dọa:

- Rồi tớ sẽ tìm ra tay nào đầu têu trong trò nầy. Về sau ai cũng sợ chả dám đăng ký thao giảng bài ấy nữa. Một lần khác Bích Ly - giáo viên văn - viết nhan đề bài thơ sẽ thao giảng: “Tôi yêu em”(2), bên cạnh là tên Bích Ly trong ngoặc đơn. Chiều hôm đó cái dấu ngoặc đơn cũng biến mất thêm vào đó là một dấu phẩy và một dấu cảm: Tôi yêu em, Bích Ly! Nghe như một lời tỏ tình tha thiết và nồng cháy. Mọi người ôm bụng cười. Tuấn tếu táo:

- Ai viết đó? Cho biết quý danh đi, để tôi làm mai cho.

Bích Ly đỏ mặt hỏi Tuyết Thu:

- Cậu đã điều tra ra tay nào là thủ phạm vụ hôm nọ chưa?

Tuyết Thu trêu:  

- Chưa. Nhưng biết đâu lần nầy người ta nói thật chứ chẳng phải chuyện đùa đâu. Cậu cứ để ý nắm bắt tín hiệu đi.

Bích Ly phát vào lưng bạn một cái đau điếng, rồi vùng vằng lau bảng ghi lại bài giảng cho nghiêm chỉnh. Cứ như thế, sau những giờ lên lớp, vẻ mặt nghiêm trang của họ biến mất, họ trở lại với phong cách học trò. Và cái ngôi trường miền cao nguyên heo hút đó đã giữ Quyên lại, cho đến những năm tháng sau nầy.

                                       *    *     *     

Căn nhà Quyên ở bây giờ với ba cô giáo nữa là của một phụ huynh cũ. Ông vốn là một cán bộ quản lý của một nông trường ở gần đây. Nhờ có điều kiện kinh tế, ông chuyển gia đình về thị xã sống, căn nhà trở thành bỏ không. Ông có nhã ý cho giáo viên ở nhờ một thời gian vì ông cũng chưa muốn bán. Quyên và ba cô bạn giáo viên cùng trường được bố trí về đây: Hạ, Miên và Ly. Quyên rất thích căn nhà nầy, nằm trên một gò đất cao, Quyên đặt tên cho nó là “ căn nhà trên đồi”. Cách nhà không xa là một dòng suối đá, mùa hè thì khô cạn, mùa đông thì nước lũ ào ạt chảy về. Khung cảnh gần giống như bài hát Suối mơ của Văn Cao. Ngôi nhà hơi cổ, mái ngói thâm đen ẩn sau tàng lá nhãn nên có vẻ âm u. Tường vôi thì quá cũ. Hôm mới dọn đến, bốn cô giáo cùng trổ tài quét vôi.Tưởng là dễ nhưng sự thật lại không dễ dàng gì. Vì thế sau một tiếng đồng hồ đánh vật với những nhát chỗi, những bức tường nham nhở trở thành… tranh lập thể của Picasso!  Cả bốn cô ôm nhau cười đến chảy nước mắt. May mà có Hải đến, anh khắc phục được ngay những khuyết điểm. Căn nhà trông sáng sũa hơn với tường vôi xanh màu lá non. Những lúc như thế Quyên thấy Hải có gì kiên nghị, vững chãi. Ngoài cái vẻ trầm tư hình như việc gì anh cũng làm được. Như việc anh thuộc khá nhiều thơ tình, và có thể ôm chiếc đàn guitar của Quyên để hát rất hay những bản tình ca. Giọng Hải buồn buồn, có một cái gì đó xót xa tiếc nuối:       

“Chiều buông nhẹ xuống đời, người tình tìm đến người, thấy run run trong chiều phai…”       

Quyên thường trêu Hải:  

- Anh Hải thật là đa hệ.

 Cứ như thế Quyên dần dần thấy mến Hải. Một cái gì dịu dàng gần như cảm giác được chở che len vào tâm hồn cô. Những năm tháng bước xuống cuộc đời sống xa quê hương, xa gia đình, với Quyên, Hải đã như một người bạn lớn.        

Căn nhà hơi chật nhưng với bốn cô giáo, nó gần như một thiên đường. Còn hơn sống trong những căn phòng tập thể của trường với những bữa cơm đạm bạc. Ở đây bốn cô giáo có thể trỗ tài nấu nướng những món đặc sản của quê hương mình. Bởi họ mỗi người sống ở một miền đất nước. Có người nói giọng Quảng, có người nói giọng Huế, có hai người nói giọng Nghệ An. Lần đầu tiên ở đây Quyên biết mùi vị món “nhút” xứ Nghệ của Miên và Ly, biết món cơm hến xứ Huế của Hạ (trong một lần về quê Hạ đã tỉ mẫn đem cả hến sống vào) và Quyên cũng giới thiệu với các bạn món mì Quảng của quê hương mình. Quyên cũng chẳng biết món mì Quảng nầy là đặc sản của Quảng Nam hay Quảng Ngãi nữa. Vì có cô bạn Quảng Ngãi dạy cùng trường cứ khăng khăng bảo đó là món của Quảng Ngãi. Cô nào cũng dành mì Quảng là món của quê mình, chả ai phân xử được.Thôi thì cứ gọi nó là món mì Quảng… Nam Ngãi vậy.

         Thi thoảng Hải đến, như mang theo hơi thở của rừng,, bởi Hải là kỹ sư lâm nghiệp – như một thành viên của cái gia đình nho nhỏ gồm bốn cô giáo độc thân. Các bạn Quyên gọi Hải là “anh bạn lãng du của Quyên”. Có Hải  căn nhà trở nên vui hơn vì những mẫu chuyện hài hước của anh.Thi thoảng có việc gì cần đến bàn tay đàn ông như sửa điện, mái nhà bị dột, các cô đều chờ Hải. Đôi khi họ đấu khẩu với nhau trong những chiều chủ nhật trời mưa  như để cho cuộc sống bớt buồn tẻ. Cả bốn cô về một phe, Hải một phe, nhưng anh không thua. Đại khái có lần Quyên trêu Hải:

- Người mang tên Hải nhưng lại chọn nghề rừng, mà lại rất yêu rừng.  

Liệu có lạc đường không?

Hải đỡ đòn được ngay:

- Biển và rừng đâu có xa nhau. Hồi nhỏ anh vẫn thường nghe mẹ hát ru: “Sớm mai lên núi đốt than, Chiều về xuống biển đào hang bắt còng” là gì!      

Quyên tức lắm vì thua Hải, mà cô lại là giáo viên Văn, trong khi Hải lại là dân kỹ thuật. Nhưng Quyên cũng thầm phục Hải. Cô nghĩ thầm: “Ở Hải sao có nhiều cái đối nghịch nhau. Lúc anh ấy đàn hát thì có gì đó sâu lắng xót xa. Dáng vẻ trầm tư  nhưng đấu võ miệng thì nhanh như… con nhà võ, có lúc vui đấy rồi buồn ngay đấy ”. Và Quyên thấy Hải như một miền đất hoang vu đầy gai góc nhưng cũng đầy hấp dẫn, ân cần mời gọi bước chân Quyên. Quyên nghĩ: “Để hiểu một con người không phải là một điều đơn giản ”.        

Những ngày cuối đông lại về với cao nguyên. Sương trắng mịt mù. Căn nhà nhỏ của bốn cô giáo ẩn hiện mịt mờ trong sương buổi sáng buổi chiều như chốn bồng lai. Miên nói đùa: “Tiếc là không có Lưu Nguyễn nào lạc vào”. Hoa sơn cúc nở tràn những lối đi. Quyên thấy như mình đang sống trong một cõi hồng hoang. Vườn cải của Hạ đã bắt đầu trỗ hoa. Hạ trồng cải  nhưng cứ muốn để cho cải già, thu hút ong bướm chật chờn. Thấy hoa cải vàng Quyên chợt nhớ vườn rau nhỏ ở nhà mình.Trong cái nắng hanh hao của những ngày cuối đông, lòng cô nôn nao nhớ đến những ngày tết ở quê nhà. Một năm nữa sẽ đến để cho tóc mẹ điểm bạc nhiều hơn, để cho ước mơ được sống đến năm 2000 của mẹ gần hơn. Có một cái gì thật trang trọng thiêng liêng khi vũ trụ, đất trời vừa chấm dứt một vòng quay vĩ đại, để rồi lại thênh thang bước vào một chu kỳ khác: Thế kỷ 21 - thế kỷ của trí tuệ và nhân bản.

                                   *   *   *        

Cuốn băng nhạc đã xoay xong những vòng dương cầm cuối. Một tiếng “tách” khô khan, cuộn băng dừng lại. Những âm thanh dịu ngọt trong veo như từng giọt nước đọng trên phiến thủy tinh đã bay đi, đã hết. Bây giờ thì gió núi một nhịp đều đặn hòa với tiếng thông reo từ dãy đồi bên kia. Và thung lũng thì xanh bạt ngàn trong ánh mặt trời chiều sắp tắt. Hải bật diêm châm điếu thuốc cuối cùng. Ánh lửa lóe lên soi rõ khuôn mặt trầm tư hơi xanh xao  khiến người đối diện khó lòng nhận được cảm xúc của anh trong mọi trường hợp. Quyên hỏi:      

- Vậy là anh quyết định ở lại?     

Quyên lắng nghe tiếng nói của mình bay đi. Gió bây giờ thật nhiều ào ạt từ đồi cao xuống lũng thấp. Có tiếng người cười vang bên kia đồi. Một tốp con trai, con gái đi picnic ở đó. Trông họ thật vô tư, hồn nhiên. Hải nhìn họ, cái nhìn thoáng xa xăm như nhớ lại một thời đã mất. Anh chậm rãi gật đầu:

-  Anh ở lại, Quyên về. Cho anh gởi lời thăm mẹ, mặc dù mẹ chưa biết anh.

Ngừng một chút anh hỏi:

-  Bao giờ thì Quyên về?

Quyên trầm ngâm:        

- Ngày kia, lẽ ra thì em có thể về sớm hơn. Nhưng còn một chút việc ở lớp chủ nhiệm cần giải quyết. Có một nam sinh cá biệt ở lớp em, cậu nhóc hay để tóc dài. Em đã nhắc nhở nhiều lần nhưng cậu ta vẫn không chịu cắt tóc. Bỗng nhiên mới đây đang giờ học cậu ta bỏ về nhà cạo trọc đầu rồi đến lớp. Cả lớp cười ầm. Các giáo viên bộ môn đều trêu em: “Quyên nói sao mà thằng Tài nó cạo trọc đầu thế ?”. Thế mới tức chứ!

Hải cười:

- Rồi em tính sao?

Quyên cũng cười:

- Em cũng hơi áy náy, tính ở lại gặp phụ huynh để họ khỏi hiểu sai về mình.        

Hải gật đầu:

- Coi vậy chứ học sinh cá biệt về sau ra đời biết thương giáo viên chủ nhiệm lắm đấy.        

Điều Hải nói, Quyên cũng đã từng nghe nhiều giáo viên lớn tuổi nói. Quyên nghĩ học sinh cá biệt như những hòn sỏi trên bước đường mình đi  tuy có làm mình đau chân hơn, nhưng cũng làm chân mình dày dạn hơn là đi trên những con đường bằng phẳng.        

Hải đứng dậy, gió núi thổi bồng mái tóc anh và bóng anh trong buổi chiều tà trông thật cô đơn. Dường như anh có điều gì muốn nói nhưng lại thôi. Sương muối bắt đầu giăng kín những lũng thấp. Tiếng người gọi nhau bên kia đồi tan loãng vào sương nghe như từ cõi xa xăm nào vọng lại. Quyên thấy lạnh, không hiểu sao cô lại có một linh cảm mơ hồ rằng đây là lần cuối cùng gặp Hải. Cô vẫn thường lo sợ với những linh cảm nhạy bén của mình.

Ngày kia Quyên đi chuyến xe khởi hành lúc năm giờ sáng. Sau đó đến Hạ. Miên và Ly về sau cùng.Thời khóa biểu của Quyên cho phép Quyên về sớm hơn các bạn vài ngày. Cả bốn cô gái hẹn gặp nhau vào ngày mùng sáu tết. Hải không về. Với anh, ở lại đã buồn, về nhà cũng chẳng vui gì. Ở thành phố biển xa xôi ấy anh cũng có một mái nhà, nhưng không có bếp lửa hồng của mẹ để nhớ mỗi chiều đông. Mẹ anh mất khi anh lên mười tuổi, ba đi bước nữa. Bà mẹ kế lúc nào cũng nơm nớp lo sợ Hải sẽ chiếm một nửa gia tài ba Hải sẽ để lại sau nầy. Hải khinh bỉ và lạnh lùng ra đi từ khi vừa học xong đại học. Sợi dây liên hệ gia đình duy nhất anh còn giữ là những lời thăm hỏi của ba trong vài ba lá thư thưa thớt hàng năm. Cuộc đời Hải lúc nào cũng nhuốm một chút phiêu bạt. Nhiều lúc buồn, Quyên tự hỏi: “Có bao giờ Hải sẽ mãi mãi dùng chân trong cuộc đời mình không? Nếu thế mình sẽ thu xếp đem mẹ lên đây, mình đã gắn bó với ngôi trường nầy, với mảnh đất cao nguyên nầy mất rồi. Chính mảnh đất nơi đây đã cho mình gặp Hải như một điều kỳ diệu của số phận”.                           

* * *                       

“Ban Mê ngày… tháng… năm…        

Thế là Quyên đã đi. Căn nhà có người mẹ và bếp lửa hồng đang chờ em. Cơn gió nào bay qua cuộc đời đã thổi Quyên về phía tôi trong những tháng ngày bi thảm nhất. Sao Quyên lại đến với tôi muộn màng như thế, khi cuộc đời đã khép lại mọi niềm vui  và khi tôi biết mình không còn sống được bao lâu nữa.Tôi vẫn còn nhớ mãi cái buổi chiều định mệnh ấy khi Quyên ôm bó hoa hồng vàng rực rỡ bước vào phòng bệnh nơi tôi nằm, ánh mắt ngơ ngác tìm kiếm và dừng lại ở giường bệnh của tôi. Quyên hỏi, giọng dè dặt:       

- Xin lỗi, nếu tôi không nhầm thì đây là giường số 14, khoa nội 3?

Tôi trả lời, mắt không rời Quyên:        

- Đúng rồi, cô tìm ai?

- Tôi tìm một người bạn - chị Thanh - điều trị tại gường nầy đã hai tuần.

 - Chị ấy mạnh rồi, mới ra viện chiều qua.

Quyên cảm ơn rồi quay đi. Được vài bước Quyên ngập ngừng quay lại: 

- Bạn tôi đã mạnh. Vậy bó hoa nầy xin tặng anh. Hơi đường đột nhưng nếu anh không chê… Chúc anh chóng bình phục.

 Rồi Quyên dịu dàng đặt bó hoa lên bàn như đặt hạnh phúc lên cuộc đời tôi rồi ra đi. Ôi bó hoa vàng như màu áo em, em có mặt trong cuộc đời tôi từ đó. Sau cái buổi chiều định mệnh ấy em cứ chập chờn trong những cơn mê của tôi, thật kỳ lạ và đầy ám ảnh. Ra viện tôi đi tìm em, nhưng làm sao biết được em làm gì? tên gì? ở đâu? Chỉ có một điều linh cảm duy nhất: em có vẻ là một cô giáo. Tôi đã lang thang qua các trường tìm em. Vô vọng. Nhưng có một cái gì đó thôi thúc mãi trái tim tôi, không cho phép tôi được bỏ cuộc. Cuộc đời vốn rộng lớn mênh mông nhưng có lẽ trái tim con người còn lớn hơn nhiều - những trái tim yêu thương - tôi tin như vậy.”

                         

“Ban Mê ngày… tháng… năm…        

Điều linh cảm của tôi đã đúng. Tôi đã gặp lại em, trong một buổi tan trường. Cuộc đời có nhiều cái ngẫu nhiên kỳ lạ. Chiều hôm đó sau giờ làm việc một cơn đau đã giữ tôi lại – cái căn bệnh hiểm nghèo thỉnh thoảng vẫn quấy rầy tôi. Qua cơn đau tôi về muộn hơn những người cùng cơ quan. Cơn đau đã giúp tôi gặp lại em. Cơn đau mở ra những tháng ngày có em. Quyên ơi! Làm sao em hiểu được vì sao tôi lại hay hát những bài ca buồn đến thế! Và vì sao tôi lại khó hiểu như thế trước mắt em! Em vẫn thường nói: “Để hiểu được một con người không phải là điều dễ dàng”. Vì có những điều không thể dễ dàng nói được. Tôi không muốn Quyên biết gì hết về căn bệnh của tôi. Có ích gì đâu hả em! Và Quyên đã không biết gì, ngay cả những điều tôi nghĩ về em. Ôi! hạnh phúc muộn màng của tôi! Làm sao em hiểu được tình yêu của tôi dành cho em: khổ đau và tuyệt vọng …”

* * *         

Những dòng nhật ký của Hải nhòa đi trong nước mắt Quyên. Khi cô trở về ngôi trường cũ thì Hải đã vĩnh viễn ra đi. Một nấm đất vô nghĩa đã khép lại một đời người.Và với Quyên, mọi nẻo về đã khép.

 

 

 

 

Vương Hoài Uyên

 

____________________

(1)Bài Định luật Ohm.

(2)Bài thơ “Tôi yêu em” của Puskin (Văn học Nga).

 

>> Đọc tiếp…

Hợp đồng định mệnh - truyện ngắn Vương Hoài Uyên

Thư ngồi yên lặng trước những giọt nước mắt của cô gái trẻ. Đầu óc chị quay cuồng trước tình huống mà chị không ngờ nó lại xảy ra, điều mà chị không lường trước được. Nó cũng không có trong hợp đồng mà chị và cô gái đã ký kết với nhau. Thiên Ngân - tên cô gái - sau khi khóc chán thì năn nỉ:

- Em xin chị. Em chỉ là một cô thư ký nghèo. Đồng lương chỉ đủ sống và phụ giúp ba mẹ chút ít. Em sẽ hoàn trả số tiền cho chị nhưng không đủ điều kiện để đền gấp đôi như điều khoản đã ghi trong hợp đồng. Em lỡ yêu anh ấy mất rồi, làm sao em có thể làm điều độc ác ấy với người em yêu.

 Thư chua chát:

- Cô chỉ nghĩ đến tình cảm của cô thôi sao? Cô có nghĩ đến mối thù của tôi với ông Vũ - giám đốc của cô không?

Thiên Ngân thút thít khóc:

- Em biết. Em có lỗi với chị nhiều lắm. Nhưng em cũng không ngờ là em đã yêu anh ấy thật lòng.

Thư hằn học:

- Chắc cô không quên bài học của tôi chứ. Biết đâu cô cũng sẽ là nạn nhân như tôi. Cô biết đấy, hắn ta là môt tên Sở Khanh. Khi cô bụng mang dạ chữa thì hắn sẽ hất  cô ra ngoài đường để chạy theo cô gái khác.

Thiên Ngân van lơn:

- Em tin là anh ấy yêu em thật lòng. Chúng em đã tính đến chuyện kết hôn chị à. Em sẽ gửi trả nguyên vẹn số tiền trong hợp đồng qua tài khoản cho chị. Còn đây là gói thuốc độc làm cho anh ấy vô sinh. Em xin gửi lại chị.

Nếu Vũ thật tình yêu Thiên Ngân thì lần nầy Thư lại thua. Chị cay đắng nhận ra chị đã thất bại. Và cũng cay đắng nhận ra rằng không phải đồng tiền sẽ mua được tất cả như chị vẫn lầm tưởng. Thì ra kế hoạch trả thù của Thư lại có tác dụng ngược. Mấy năm một mình nuôi con sau khi bị Vũ bỏ rơi, đầu óc chị luôn quay cuồng với ý nghĩ làm sao để trả thù. Cũng may gia đình Thư giàu, mẹ chị giúp đỡ chị gây dựng sự nghiệp. Trong cái rủi có cái may, thất bại trong tình yêu, chị lại thành công trong thương trường. Bây giờ khi làm chủ môt cơ nghiệp, Thư vẫn không thiết tha gì đến những người đàn ông khác đang chạy theo mình. Bởi trong lòng lúc nào cũng sôi sục hận thù, chị chỉ muốn nhìn thấy kẻ đã nhẫn tâm bỏ rơi mẹ con chị phải đau khổ, ân hận suốt đời. Thế nhưng bây giờ hóa ra chị lại đem hạnh phúc đến cho hắn…

*

Học cùng trường suốt bốn năm đại học nhưng Thư không hề quen Vũ. Vũ học khác khoa với Thư, không quen cũng dễ hiểu, vì sinh viên quá đông, làm sao biết nhau hết được. Nhưng trong buổi tiệc mừng tốt nghiệp của Huyền - bạn cùng lớp với Thư - không biết trời xui đất khiến sao, khi bốc thăm chọn chỗ, Thư lại ngồi gần Vũ. Hôm đó Huyền tổ chức bốc thăm chọn chỗ nên những cặp đôi yêu nhau cũng phải xé lẻ. Ban đầu Huyền cũng chỉ nói chuyện xã giao với Vũ, không chú ý lắm nhưng cũng phải công nhận anh chàng nầy khá đẹp trai và có vẻ tự tin. Câu đầu tiên Vũ hỏi Thư:   

- Bạn có bị xé lẻ với bạn trai không? Tôi có thể đổi chỗ cho hai người ngồi gần nhau.

Thư lắc đầu:     

- Cảm ơn. Nhưng tôi đến đây một mình. Nếu bạn cần tôi sẽ đổi chỗ cho bạn gái của bạn.

Đến lượt Vũ lắc đầu:    

- Tôi cũng đi một mình.

Thư nghĩ: “Đi một mình không có nghĩa là chưa có

bạn gái. Có thể là bạn gái có việc bận không đi được. Nhưng kệ anh ta. Mình bận tâm làm gì”. Nghĩ như thế nhưng Thư lại khá chú tâm đến Vũ, nhất là sau khi Vũ cầm cây đàn guitar của Huyền đưa để vừa đàn vừa hát rất hay một bài hát do chính Vũ sáng tác. “Thì ra anh chàng nầy cũng đa tài” Thư nghĩ sau khi nghe Vũ hát và sau khi nghe Huyền giới thiệu Vũ là một trong mười thủ khoa của trường.     

Chừng đó những điểm nhấn của Vũ đã chiếm trọn tâm trí Thư. Sau buổi dạ tiệc, Thư và Vũ đã trao đổi số điện thoại cho nhau, bắt đầu những cuộc hò hẹn. Sau khi ra trường, Thư may mắn xin được việc làm vì nhà Thư giàu nên có trong tay nhiều mối quen biết lớn. Vũ đậu cao nên được giữ lại trường vừa dạy vừa tiếp tục học cao học. Xem như con đường công danh sự nghiệp của hai người khá suôn sẻ. Nhưng Vũ thường tâm sự với Thư rằng anh vốn không thích nghề giáo. Anh nghĩ rằng chỉ đi dạy tạm trong thời gian học cao học. Học xong anh sẽ xin nghỉ việc ở trường để mở công ty riêng. Thư cũng đồng ý với Vũ vì người như anh không thể cầm chân ở bục giảng được, Vũ vốn thích bay nhảy ở thương trường.

Thư đưa Vũ về giới thiệu với mẹ và ba dượng. Bà Khanh - mẹ Thư - thời trẻ là một người đàn bà nhan sắc vào loại sắc sảo. Nhưng đi đôi với nhan sắc kia là một tâm địa độc ác và thủ đoạn. Bà lúc nào cũng chỉ biết có tiền, vì tiền bà có thể làm tất cả. Ba Thư thời trẻ cũng đã từng say mê nhan sắc của mẹ Thư đến nổi khi chết vẫn còn ôm mối hận. Ông Tâm - ba Thư - là một thanh niên người Hoa. Gia đình lưu lạc đến Việt Nam từ thế kỷ mười bảy. Đã bao nhiêu đời con cháu nối tiếp nhau sinh sống ở Việt Nam nhưng họ vẫn giữ gìn tiếng nói và có ý thức về giòng giống. Đến đời ông cố của ông Tâm mới bắt đầu cho phép con trai được lấy vợ Việt nhưng với một điều kiện người con dâu phải học tiếng Hoa và ngôn ngữ trong gia đình phải là tiếng Hoa, không được nói tiếng Việt. Ông nội Thư là một thương gia nổi tiếng giàu có ở Chợ Lớn. Gia đình khá đông con, ba Thư là con cả. Khi ông đưa mẹ Thư về nhà ra mắt gia đình, bà Khanh vốn cũng không yêu anh chàng thanh niên người Hoa nhưng bà đã choáng ngợp trước sự giàu có của gia đình nầy. Và bà gật đầu chấp thuận lấy ông Tâm.

Trái ngược với người vợ lòng dạ nham hiểm, ông Tâm thuộc loại chân chất thật thà và dễ tin người. Lấy được cô vợ đẹp, bao nhiêu vốn liếng gia đình cho để ra riêng ông đều giao cả cho vợ. Khi Thư và khi đứa em trai kế cô lần lượt ra đời, ba Thư như say sưa với men hạnh phúc. Ông nghe lời ton hót ngọt ngào của mẹ Thư sang tên ngôi biệt thự mà gia đình cho ông khi cưới vợ, và bao nhiêu bất động sản khác sang tên bà Khanh. Nắm trong tay tài sản lớn, bà Khanh quay về với người tình cũ mà bà đã chia tay khi đi lấy chồng. Tình cũ không rủ cũng tới huống chi ông Nam - ba dượng Thư bây giờ - vẫn luôn tìm cách gặp gỡ, tiếp cận bà Khanh. Những thủ đoạn bà Khanh làm nhằm chiếm đoạt gia tài của ông Tâm đều có bàn tay của ông Nam nhúng vào.

Thời còn nhỏ Thư và em trai đã từng chứng kiến cảnh xào xáo của gia đình khi mẹ ngoại tình với người yêu cũ, ba ghen tuông nhưng bất lực. Cuối cùng khi ly hôn, ba Thư đã ra khỏi gia đình với hai bàn tay trắng. Hiền lành chân chất đến độ thật thà, ông Tâm cay đắng quay về với gia đình, ngày ngày tìm quên trong men rượu. Ông nội Thư cay cú với sự nhu nhược của con trai trưởng đến độ xem ông Tâm như đồ bỏ đi. Bà nội Thư ít nói, chịu khó, cả một đời lăn lộn với thương trường, gia tài đồ sộ của gia đình một tay bà tạo ra. Thương thằng con trai khờ khạo nên bà không nói gì. Bà vẫn ân cần với con mặc dù trong lòng cũng cay đắng vì mất của. Bà nghĩ thôi thì của đi thay người. Đó là triết lý an ủi tự ngàn xưa của con người.

Mấy năm sau, khi nghe tin gia đình ông Tâm rục rịch chia của, bà Khanh quyết tâm kiếm chác một lần nữa từ ông chồng khờ khạo mà bà biết vẫn còn yêu bà tha thiết. Sống với ông Tâm bao nhiêu năm, bà biết chỗ yếu của ông và tin chắc mình sẽ kiếm một mớ của nếu biết khai thác chỗ yếu nầy. Gia đình ông Tâm giàu có, mà ông là con trưởng, dù có giận ông đến đâu nhưng chắc chắn ba mẹ ông vẫn dành cho ông một số của cải không phải là ít. Bà Khanh tin chắc mình chỉ cần bắn đi một tín hiệu là ông Tâm sẽ quay về với bà ngay. Và đúng như thế, Thư lại thấy ba trở về với mẹ như màn cuối của một vở kịch có hậu. Thư ngao ngán với thủ đoạn của mẹ và không biết vở kịch nầy kéo dài được bao lâu.

Quả đúng như Thư dự đoán, sau khi bòn rút một số của cải nữa từ ông chồng khờ, bà Khanh lại chia tay ông một lần nữa và bây giờ chắc chắn là lần cuối. Thư đã khóc vì thương ba nhu nhược, và dù bất bình với mẹ nhưng Thư vẫn phải lệ thuộc vào kinh tế của bà. Thư không hề giống tính mẹ chuyện thủ đoạn và lừa lọc trong tình trường. Cô yêu Vũ và chỉ biết lao vào tình yêu điên cuồng như con thiêu thân lao vào ánh lửa. Khi cô báo tin cho Vũ là cô đã có thai, Vũ sửng sốt:

- Em điên à? Lâu nay anh vẫn tưởng em dùng thuốc tránh thai.

- Em không điên, em muốn có con với anh.

Thư bình tĩnh trả lời Vũ. Vũ ôm đầu nhăn nhó:

- Nhưng trong lúc nầy anh chưa nghĩ đến chuyện đó. Anh mới mở công ty chưa bao lâu, còn nhiều việc phải làm. Anh chỉ kết hôn khi nào công việc tạm ổn.

Thư nói:

- Kết hôn không trở ngại gì trong việc điều hành công ty. Em có thể giúp anh. Vấn đề tài chánh đã có mẹ em lo.

Vũ vẫn cương quyết:

- Không được. Khi có gia đình, có một đứa con sẽ nẩy sinh ra nhiều vấn đề lắm đấy. Không đơn giản như em nghĩ đâu.

Rồi anh năn nỉ:

- Hay là em bỏ đứa con nầy đi. Sau nầy mình còn nhiều cơ hội mà.

Thư lắc đầu lia lịa:

- Không được. Em không làm thế đâu. Phải tội chết. Em không thể…

Sau lần nói chuyện không đi đến đâu, hai người chia tay. Thấy con gái bụng mang dạ cha lại đòi làm mẹ đơn thân, bà Khanh mẹ Thư hay nghĩ đến những tội ác mà mình đã làm. Bà nghĩ nhân quả đã không giáng vào bà mà lại giáng vào đứa con gái. Vì sau khi bị bà gạt gẫm một lần nữa, ông Tâm vì đau buồn đã mang trọng bệnh và qua đời. Cả dòng họ bên nội vì ghét mẹ Thư đã ghét lây cả Thư. Thư còn nhớ ánh mắt nghẻ lạnh của ông bà nội và các cô chú khi Thư đến viếng tang ba. Sau nầy nhiều lần Thư muốn đến thắp hương cho ba nhưng cứ nhớ đến ánh mắt ghẻ lạnh ấy Thư lại ngại ngần. Bà Khanh nghĩ Thư đã gánh hết hậu quả của những tội lỗi của bà nên hết lòng lo cho Thư. Sau khi Thư sinh con trai, bà giúp Thư một số vốn lớn để Thư mở công ty. Từ chỗ yêu Vũ tha thiết, trong lòng Thư lúc nầy chỉ còn mang mối hận làm sao trả thù Vũ, nhất là khi thấy Vũ bắt đầu cặp bồ với một cô gái khác. Nhiều đêm ôm con thơ một mình một bóng, Thư quyết tâm làm giàu, vì chỉ có cách đó cô mới có phương tiện trả thù Vũ.

Sau mấy năm lăn lộn trên thương trường, Thư đã có trong tay một số vốn kha khá. Công ty của cô phát triển lớn mạnh đủ khả năng qua mặt công ty Vũ. Thư âm thầm vạch kế hoạch trả thù. Biết Vũ vẫn chưa có gia đình mà chỉ bồ bịch lăng nhăng, Thư làm quen với cô thư ký xinh đẹp của Vũ. Cô gái tên Thiên Ngân, Thư hợp đồng với cô nầy làm sao cho Vũ sập bẫy tình. Sau đó sẽ nhận một loại độc dược từ tay Thư, tìm cách cho Vũ uống độc dược nầy để làm cho Vũ vô sinh. Mọi kế hoạch được tiến hành và bước đầu đã có kết quả tốt. Vũ đã say mê Thiên Ngân và bỏ rơi người tình cũ. Thiên Ngân nhận một nửa số tiền từ tay Thư như đã ký trong hợp đồng. Một nửa còn lại cô sẽ nhận nốt nếu cô cho Vũ uống loại độc dược kia. Còn nếu Thiên Ngân không làm được cô sẽ phải trả lại gấp đôi trọn gói số tiền mà Thư đã hứa sẽ trả công cho Thiên Ngân. Trước kia Thư đã nhiều lần bất bình với mẹ vì những thủ đoạn độc ác mà mẹ đã ra tay với ba cô, bây giờ Thư thấy mình cũng độc ác không kém. Nhưng cô đã lỡ phóng lao rồi, cô không thể dừng lại được nữa. Thư hả hê khi nghĩ mai sau Vũ sẽ không thể nào có con, nếu Vũ uống loại thuốc độc ghê gớm mà cô đã phải cất công lên tận miền ngược xa xôi mua từ tay một thầy lang người Mường. Thư biết Vũ có bệnh suyễn, thỉnh thoảng vẫn uống một đợt thuốc Nam, Thiên Ngân sẽ tráo gói thuốc độc kia vào và tự tay sắc cho Vũ uống. Thế là xong. Thư nghĩ kết quả thảm khốc kia xứng đáng với Vũ, vì Vũ đã bỏ rơi mẹ con cô.

Nào ngờ giờ đây kết quả trái ngược lại. Thiên Ngân đã yêu Vũ thật lòng và cương quyết không ra tay ám hại người mình yêu tha thiết. Thư cay đắng nhận ra mình đã thất bại thê thảm. Thiên Ngân mặc dù nghèo lại cần tiền cho hai đứa em ăn học, em cô có nguy cơ phải bỏ học nếu cô không có số tiền lớn kia, nhưng cuối cùng khi cô đã yêu Vũ thật lòng làm sao cô có thể hại người mình yêu. Thư nghĩ nếu Vũ vô sinh, con trai Thư sẽ là báu vật đối với Vũ, trước sau gì Vũ cũng tìm cách hàn gắn với Thư. Còn nếu Vũ có con, chắc anh cũng chẳng màng gì một giọt máu rơi trong một cuộc tình có thể với anh chỉ là qua đường. Cuối cùng sau khi trút những lời giận dữ vào tai cô gái nghèo tội nghiệp, Thư đành nhận lại số tiền từ tay cô. Thiên Ngân mừng rỡ cảm ơn Thư rối rít rồi ra về. Nhìn theo bóng Thiên Ngân, Thư nghĩ cô đang đi đến với hạnh phúc. Người đàn ông ấy lẽ ra phải là của Thư, nhưng số phận đã đẩy anh ta đến với cô gái khác, mà Thư lại là người vô tình tiếp tay với số phận để họ đến với nhau và cuộc tình của họ có một kết thúc tốt đẹp.

*

Rồi tất cả cũng nhạt phai dần trong tâm khảm Thư. Cô không còn nhớ mối hận kia nữa nhưng hình bóng Vũ thì vẫn còn đâu đó, phảng phất trong một góc nhỏ của trái tim Thư. Nửa năm sau lần cuối gặp Thiên Ngân hoàn trả hợp đồng, Thư nghe tin Vũ cưới cô gái nầy. Thư nhớ lần đó Thư đã rủ Vy - cô bạn thân nhất đi uống rượu và say một đêm đến ni không nhớ ai đã đưa mình về. Sau đó thì cô gạt nước mắt đứng lên, kiên quyết không để tình cảm làm mình gục ngã. Thư quyết tâm tìm quên trong công việc và dành thời gian chăm sóc bé Quân, con trai của cô và Vũ. Nhiều lúc thấy Quân thờ thn nhìn bạn bè cùng lớp có cả bố mẹ đưa đón, Thư lại quay mặt lau nước mắt. Trong những lúc yếu lòng như thế Thư lại nghe văng vẳng bên tai lời động viên của bạn bè: “Gắng lên Thư, Vũ không xứng đáng để Thư nghĩ tới…”.

Ba năm sau, trong một dịp hè đưa bé Quân đi biển, tình cờ Thư gặp Vũ và Thiên Ngân cùng con trai của họ. Thiên Ngân có vẻ bối rối khi gặp lại Thư, nhưng Thư đã mỉm cười cho cô gái yên lòng. Thư chạnh lòng nghĩ ba của Quân đang cách bé có mấy bước chân nhưng Quân nào có biết. Có lẽ sau nầy hai cha con cũng sẽ đi ngang qua đời nhau như những người xa lạ. Và cô dắt bé Quân tránh đi chỗ khác, nhưng không quên nhìn đứa con trai khoảng lên ba tuổi rất dễ thương của vợ chồng Vũ đang tung tăng chạy nhảy và nghĩ thầm: “Cảm ơn Thiên Ngân, nếu như em không huỷ cái hợp đồng định mệnh năm xưa thì đứa bé kia đã không có cơ hội ra đời “.

 

VƯƠNG HOÀI UYÊN

––––––––––––––


>> Vui lòng nhấp chuột vào hình ảnh để về mục lục chuyên đề đặc biệt << 

>> Đọc tiếp…

Yêu như nỗi chết - truyện ngắn Vương Hoài Uyên

Ảnh: Internet
Tháng năm cuối mùa xuân, Seoul trở lạnh mười độ. Hôm đó là ngày thứ ba trong chuyến du hành. Khác với những lời cô hướng dẫn viên nói hôm họp đoàn trước ngày đi: “Mùa nầy Seoul chỉ hơi lạnh, quý vị chỉ nên đem theo đồ ấm nhẹ, mỏng”. Cả đoàn Việt Nam chao đảo vì lạnh. Có bao nhiêu đồ ấm mang theo mặc hết vào người mà vẫn co ro, Hoài cảm thấy ân hận vì mình đã chủ quan. Tự nhiên thấy hết hứng đi chơi, chỉ mong về khách sạn, vì khách sạn bao giờ cũng có máy heat. Buổi tối về phòng soi gương, Hoài thấy da mặt mình nhăn hơn, mắt trũng sâu hơn, mũi bắt đầu khụt khịt, hỉ ra có tí máu. Vậy mà mấy cô cậu thanh niên Hàn quốc cứ đi từng đôi ngoài đường, da dẻ tươi trắng như trứng gà bóc. Phải công nhận người dân nước nầy được thượng đế ưu ái cho làn da quá đẹp. Tự nhiên Hoài thấy thèm chút không khí nóng nực ở nước mình.
Sáng nay cả đoàn đi thăm đảo Nami, Hoài thấy Du nghe điện thoại khá lâu, tự nhiên cô có chút thắc mắc không biết có chuyện gì mà có người gọi điện thoại đường dài cho Du, rồi tự trách mình đã tò mò kỳ cục. Nhưng biết làm sao được, hàng ngày gặp nhau ở bệnh viện, trong vai trò nữ y tá, Hoài đã quen theo dõi bác sỹ Du lặng thầm như thế. Và Hoài biết ngoài Hoài ra, còn có một bệnh nhân nữ cũng dõi theo Du như một thỏi nam châm có sức hút mãnh liệt. Trong số những bệnh nhân khoa Nữ của bệnh viện tâm thần, Hạnh thuộc loại có nhan sắc. Hạnh bị bệnh từ khi học lớp mười một, đã hai năm vào bệnh viện nhưng bệnh tình vẫn không làm giảm phần nào nhan sắc của cô. Với người bệnh tâm thần, khi yêu họ thường không biết giấu diếm tình cảm của mình như người bình thường, Hạnh thường đứng ngoài cửa sổ, nhìn vào phòng khám mỗi khi Du khám bệnh, bảo vệ ra đuổi về phòng bệnh. Chỉ một lát thôi, Hạnh lại đến nhìn vào phòng khám. Mẹ Hạnh phải đến lôi con về phòng chốt cửa lại. Hạnh đập cửa rầm rầm, mẹ Hạnh vừa ôm con vừa khóc. Rồi cả hai mẹ con cùng khóc. Câu chuyện đến tai lãnh đạo bệnh viện, bác sỹ Du được lệnh chuyển qua làm việc ở khoa Nam. Hàng ngày, Hạnh ra hàng rào ngăn đôi giữa hai khoa, nhìn sang mong được thấy bóng dáng Du thấp thoáng trên các hành lang bệnh viện.
Từ ngày Du chuyển sang khoa Nam, Hoài cũng buồn. Nhưng là nhân viên của bệnh viện nên hàng ngày Hoài vẫn có cơ hội gặp Du nhiều hơn Hạnh. Đó là trong những buổi họp giao ban hàng ngày, hoặc trong những bữa ăn trưa ở căn tin. Đôi khi trong bữa cơm, có người vui miệng nhắc đến Hạnh, Du thường chép miệng thở dài. Có lần anh nói với bác sỹ Nam – người đang trực tiếp chữa bệnh cho Hạnh - đại khái nên góp ý với gia đình cho Hạnh điều trị ở nhà, để hàng ngày không gặp Du nữa, sẽ tốt cho Hạnh hơn. Nhưng trái với lời Du nói, về nhà bệnh Hạnh trở nặng hơn, Hạnh một mực đòi trở lại bệnh viện.
Khi bị thuyên chuyển về đây, Hoài thấy chán nản muốn bỏ nghề. Cô thấy sợ những khuôn mặt vô hồn của bệnh nhân. Suốt ngày họ đi lại phờ phạc trên những hành lang phòng bệnh, hoặc đứng tụ tập từng nhóm, thấy người nhà bệnh nhân vào thăm thân nhân họ chạy theo xin tiền, hoặc xin thuốc lá. Nơi đây là thế giới của những người hút thuốc, nữ cũng như nam. Họ hút vì buồn, vì muốn quên đi bệnh tật của mình. Đó là những người bệnh tình tạm ổn. Còn những người bệnh nặng thì suốt ngày la hét trong những căn phòng nhỏ có cửa khóa bên ngoài. Đến giờ cơm hộ lý đem cơm vào, có chén đũa hẳn hoi, nhưng thường thì họ bốc cơm bằng tay. Bệnh nhân tên Nhung khoảng trên 40 tuổi, bà nầy bị hoang tưởng nặng, bao giờ cũng tưởng mình là con heo, nên khi ăn bao giờ cũng chan canh vào tô cơm, hai tay bưng tô cơm, cúi xuống táp vào tô kiểu con heo táp vào máng cám.
Một buổi sáng chủ nhật – hôm đó vào phiên trực của Hoài, đang ngồi trong phòng trực thì Hoài nghe nhiều tiếng kêu ré của bệnh nhân của bệnh nhân khoa Nữ, cô chưa kịp bước ra xem chuyện gì thì Ly – một bệnh nhân trẻ chạy đến hốt hoảng kêu:
- Chị Hoài ơi, Hoa nó bốc phân ăn đầy miệng nè.
Hoài chạy đến phòng Hoa thì thấy cô nầy đang nhét phân vào miệng. Không thể nào ngăn được cơn buồn nôn, Hoài nôn thốc nôn tháo. Cô vội kêu hộ lý lôi Hoa vào phòng tắm. Đến mấy ngày sau Hoài vẫn không thể nào ăn uống được. Cô chỉ ăn qua loa rồi uống thêm sữa trừ bữa. Cô vẫn chưa thích nghi được với bệnh viện tâm thần như các y tá khác. Hoài thấy phục các chị hộ lý khi họ làm những công việc phục vụ cho bệnh nhân, kể cả những công việc mất vệ sinh nhất. Có lẽ Hoài còn trụ lại đây vì còn có Du. Không ai nghĩ một người bề ngoài có vẻ chững chạc, điềm đạm như Du lại có khiếu hài hước. Khi mới về đây, có lần cả nhóm bác sỹ và điều dưỡng tụ tâp tại căng tin, vô tình hôm đó Hoài ngồi bên Du, trong lúc cao hứng mọi người yêu cầu Du giả giọng lồng tiếng phim kiếm hiệp Hồng Kông, anh quay sang Hoài:
- Tiểu muội hãy cùng ta đi đến cuối cuối cuộc đời nầy. Ta hứa sẽ thương yêu và chăm sóc cho tiểu muội cho đến hơi thở cuối cùng.
Cả nhóm ré lên cười. Phải công nhận Du giả giọng thật giống. Hoài cũng cười. Tuy chỉ là một lời nói đùa, nhưng không hiểu sao trong lòng cô xôn xao một một cảm giác rất lạ. Hoài cũng biết Du đã có người yêu, có một lần thấy người yêu của Du đến bệnh viện tìm Du, Hoài nhìn cô gái và tự nhận thấy mình thua cô ấy nhiều quá. Hoài cũng biết mối tình đơn phương nầy chả đi đến đâu, tuy nhiên cô cố che dấu, không muốn cho ai biết, sợ người ta nhìn mình bằng cái nhìn thương hại.
Có điều tuy biết Hạnh cũng yêu Du, Hoài hoàn toàn không hề xem Hạnh như đối thủ. Điều đó cũng dễ hiểu, Hạnh chỉ là một cô gái tâm thần đáng thương, Hạnh yêu trong cơn mê loạn của trí óc, chưa hẳn là một tình yêu đúng nghĩa. Hơn nữa, Hạnh là một bệnh nhân hoang tưởng nặng, có thể tình yêu với Du cũng là một biểu hiện của chứng hoang tưởng. Hoài thấy Hạnh cũng đáng thương như mình, và trong thâm tâm cô thấy thương Hạnh như một người em gái.
Những ngày giáp Tết âm lịch, bệnh nhân rục rịch được người nhà đón về ăn Tết với gia đình. Bệnh viện vắng dần đi, nhân viên bệnh viện cũng rảnh việc hơn. Hạnh cũng được mẹ đón về sáng nay. Trước khi về cô còn có ý tìm bác sỹ Du để giã từ. Bị mẹ giục, cô vừa đi ra cổng vừa ngoái lại. Bé Khoa năm nay không có ai đón về. Em là bệnh nhân nhỏ tuổi nhất ở đây, chỉ mới mười ba tuổi. Em nhập viện đã hai năm từ khi đang học lớp năm. Trường hợp của Khoa thật đáng thương. Khoa tuy con nhà nghèo nhưng là học sinh giỏi nhất trường, mặc dù em phải vừa làm vừa học. Sau buổi học em phải đi thu gom phế liệu phụ ba mẹ. Trong lớp có một nam sinh con nhà giàu nhưng học dốt, em nầy vốn ganh ghét Khoa nên cố tình hại Khoa bằng cách hô hoán mất môt số tiền lớn. Khi giáo viên phụ trách lớp cho lục cặp sách thì thấy số tiền nầy nằm trong cặp sách của Khoa. Tình ngay lý gian, Khoa phân trần thế nào cũng không được. Khoa bị công an giữ mấy ngày. Với một học sinh giỏi, hạnh kiểm tốt như Khoa, đó là một điều sỉ nhục. Sau khi được cho về, em đã tự tử nhưng được người nhà phát hiện. Sau đó vì quá phẫn uất, Khoa đã có những biểu hiện tâm thần. Khoa thường đi lang thang và nói năng lảm nhảm. Ba mẹ Khoa vừa phải làm lụng nuôi con, vừa phải theo sát Khoa vì sợ em lại tự tử, cuối cùng phải gửi em vào đây.
 Với những bệnh nhân đã tự sát hụt như Khoa, ban đầu bệnh viện phải cho sống cách ly ở phòng đặc biệt. Trong phòng sẽ không có bất cứ vật gì để bệnh nhân có thể tự tử được – ngay cả chiếc quạt trần. Vì đã có một lần có trường hợp bệnh nhân treo cổ trên chiếc quạt trần với chiếc quần dài làm dây thòng lọng. Và cũng không ai được nói hai từ tự sát với bệnh nhân. Bệnh viện tâm thần khác hơn bệnh viện khác ở chỗ không chỉ vô trùng dụng cụ chữa bệnh, mà còn phải vô trùng tư tưởng cho bệnh nhân. Tuy Khoa ở khoa Nam, nhưng Hoài hay đến thăm em và thường mang theo quà bánh cho em, vì có một lần Hoài bắt gặp Khoa nhìn chăm vào gói quà bánh của một bệnh nhân khác với vẻ thèm thuồng. Ba mẹ Khoa nghèo, chuyện thăm viếng quà cáp cũng ít hơn người khác. Những lần đến thăm con, ra về mẹ Khoa thường ngồi lặng lẽ khóc ở ghế đá ngoài sân bệnh viện. Những lần như thế, bao giờ Hoài cũng thường khuyên nhủ bà nhưng cô cũng không cầm nổi nước mắt. Thật không gì đau xót hơn khi đứa con học giỏi ngoan hiền của mình lại bị oan khuất như thế, để rồi cuối cùng cuộc đời của nó đi vào chỗ bế tắt. Tết năm ngoái, Khoa được ba đến đón về, năm nay nghe Khoa nói mẹ em bị bệnh nên ba em phải chăm mẹ, do đó không có điều kiện đón em. Hoài biết bao giờ Du cũng là người gom tất cả những bệnh nhân nam ở khoa anh phụ trách - những người bệnh không có người thân đón – về nhà anh ăn Tết. Hoài nói với Khoa:
- Lần nầy bé Khoa về nhà bác sỹ Du ăn Tết rồi. Bác sỹ sẽ cho hát karaoke suốt ngày vui lắm. Chị sẽ đem bánh mứt, hạt dưa, bánh chưng đến cho Khoa nhé. Cả phong bì lì xì nữa.
Khoa tuy buồn nhưng nghe Hoài nói cũng thoáng có chút vui trên khuôn mặt trẻ con. Đã nhiều năm rồi, nghĩa cử của Du làm cả bệnh viện khâm phục. Chưa nói đến chuyện tốn kém, nhưng ngay cả chuyện quản lý một số người bệnh tâm thần như thế tại nhà cũng không phải là chuyện dễ dàng gì. Nhưng Du không cô đơn, anh có một bà mẹ rất từ tâm, một người em trai và một số nhân viên bệnh viện ngày Tết cũng sẵn sàng tự nguyện chia nhau đến giúp anh. Chỉ còn lại một số bệnh nhân ở khoa Nữ - phần lớn là những người bị gia đình bỏ rơi từ nhiều năm – đành ở lại bệnh viện. Trong số đó có bà Nhâm, một bệnh nhân sống ở bệnh viện trên bốn mươi năm. Bà vào bệnh viện từ khi hai mươi tuổi đến nay đã ngoài sáu mươi, không người thân thích viếng thăm. Một đời người trải dài trong chuỗi ngày ở bệnh viện buồn hiu hắt. Mỗi khi có người nhà bệnh nhân khác đến thăm, bà thường giơ tay xin những đồng bạc lẻ, rồi ngồi vuốt cho thật phẳng xong bỏ vào chiếc túi nhỏ mà đi đâu bà cũng kè kè mang theo bên mình, kể cả lúc xuống phòng ăn cơm. Bà xem bệnh viện là nhà, không biết đến khi chết có ai là người thân vuốt mắt? Những người bị gia đình bỏ bê như bà Nhâm thường ăn uống theo chế độ thiếu thốn dinh dưỡng hơn. Vì họ không có tiền ăn cơm ở căn tin mà theo chế độ trợ cấp xã hội. Vì thế với bà Nhâm và một số người khác, trong những ngày giáp Tết thường có nhiều đoàn từ thiện đến thăm, là những ngày hạnh phúc nhất. Ngày đó họ được nhiều quà cáp và đươc ăn uống những món mà lâu nay họ vẫn mơ ước, thèm thuồng.
Những ngày cuối năm, bên cạnh những người ra về, lại có những bệnh nhân mới nhập viện, lần này ở khoa Nữ của Hoài đón Linh - một cô sinh viên mới mười chín tuổi. Ngày đầu tiên mới đến, Linh lúc nào cũng khóc lóc vật vã. Tội nghiệp anh cô – chỉ hơn cô vài tuổi, cũng đang là sinh viên – phải xin phép nghỉ học theo chăm sóc em. Cả hai anh em đi học xa nhà, gia đình ở tận Nghệ An chưa vào kịp. Đến ngày thứ hai, Linh bảo anh đi ra ngoài mua đồ ăn cho cô. Anh cô vừa đi khuất, Linh chạy vào phòng vệ sinh tự thắt cổ bằng chiếc quần bệnh nhân cô vừa xin thêm của bà hộ lý. Khi người anh mang gói đồ ăn trở về thì em gái đã chết.
Ai bảo những bệnh nhân tâm thần sống trong cõi hỗn mang mờ mịt của trí tuệ thì làm sao biết buồn, biết tự tử? Thật ra trong những lúc họ tĩnh táo nhất, họ ý thức được căn bệnh trầm kha không hy vọng có ngày trở về với cuộc sống của mình – ngoại trừ phép màu nào đó – đó là lúc họ thấy buồn chán bế tắt nhất, chỉ còn cách giã từ cuộc sống. Lúc mới vào bệnh viện, Hoài thường bị sốc trước những cái chết tức tưởi như vậy. Bây giờ cô cũng hơi quen rồi, tính cách nào rồi cũng bị bào mòn bởi thời gian.
 ***
 Những ngày du lịch ở đất nước Hàn quốc chấm dứt. Lúc đó Du mới cho cả đoàn biết một tin sốc: Trước khi nhân viên bệnh viện đi du lịch Hàn quốc mấy hôm, Hạnh - trong một lần theo chị ra giếng ngoài vườn rửa rau - đã nhảy xuống giếng theo một tiếng gọi ảo thanh sai khiến trong đầu. May là giếng cũng cạn và có người cứu kịp. Du cũng cho biết là hôm cả đoàn đi đảo Nami, cuộc gọi điện thoại của bác sỹ trưởng khoa đã cho anh biết như vậy. Nhưng có một bí mật nữa mà Du không nói ra, sau nầy Hoài mới nghe Hạnh kể. Đó là chi tiết khi từ miệng giếng nhìn xuống, lúc nầy Hạnh nghe trong đầu mình có tiếng Du gọi từ đáy giếng, và có cả bóng Du từ dưới đáy giếng đưa tay vẫy Hạnh, vậy là Hạnh sẵn sàng nhảy xuống. Có lẽ vì vậy mà lúc đó cô thấy Du có vẻ ưu tư sau khi nghe điện thoại đường dài từ Việt nam gọi sang.
Những ngày giáp Tết, tin Du sắp lấy vợ làm Hoài chao đảo. Vẫn biết ngày ấy sẽ đến nhưng trong lòng cô vẫn mong đó không phải là điều có thật. Đôi khi Hoài cũng cảm thấy mình hoang tưởng như bệnh nhân của mình. Đêm cuối năm Hoài đi lang thang một mình rồi ghé vào quán cà phê. Hoài chọn một góc khuất để không ai chú ý đến mình. Ngẫm lại cuộc đời, Hoài như thấy lại những cuộc tình cứ qua đi, vài khuôn mặt đàn ông đi qua đời mình với bao ước mơ đã vụn vỡ, thấy mình như con tàu lang thang qua nhiều sân ga, nhưng lại không có ga nào là điểm cuối. Và Du như một miền đất từ một tinh cầu xa vời mà con tàu không thể nào đến được. Tự nhiên nghĩ đến đó nước mắt Hoài chảy ra, cô gái tiếp viên đến gần cô và ân cần hỏi:
- Chị có làm sao không? Em có thể giúp gì chị?
Ngẫng lên nhìn khuôn mặt trẻ măng đang cúi xuống nhìn mình, Hoài nói:
- Không có gì. Cảm ơn em.
Cô gái quay đi với cái nhìn ái ngại. Nghe điện thoại reo, Hoài lau nước mắt cầm máy. Đầu dây bên kia tiếng mẹ Hạnh hốt hoảng:
- Cô Hoài ơi, cô có thể giúp tôi được không? Từ chiều đến giờ Hạnh nó đến đứng trước cổng nhà bác sỹ Du, tôi nói thế nào nó cũng không chịu về. Chỉ có cô nói nó mới chịu nghe lời thôi. Cô làm ơn giúp tôi nghen cô Hoài.
Khi Hoài đến, Hạnh đang đứng co ro dưới cơn mưa phùn cuối năm, bà mẹ cầm áo mưa đứng bên cạnh nhưng nói thế nào Hạnh cũng không chịu mặc. Bà mẹ khoác áo mưa cho cô thì cô lại hất đi. Mái tóc rối bù ướt nước mưa, những giọt mưa tuôn chảy trên khuôn mặt thất thần của cô gái nhỏ trông thật tội nghiệp. Hình như bác sỹ Du vẫn không biết, trong nhà đang có yến tiệc gì đó. Hoài ôm bờ vai Hạnh, cô nói với Hạnh mà cũng là nói với chính mình:
- Ngoan nào, về thôi em.




Vương Hoài Uyên
>> Đọc tiếp…