Home » nguyễn quang hòa
- Trang chủ
- |
- Giới thiệu
- |
- Quy ước
- |
- Tác giả
- |
- Thư ngỏ
- |
- Lá thư Bông Tràm
Tác phẩm kỷ niệm 10 năm hoạt động của Bông Tràm, có sự góp mặt của 50 tác giả với trên 100 tác phẩm. Sách dày 312 trang, khổ 13 x 19 cm, giá 100.000 đồng.
Nét đẹp của Bông Tràm là ở tư duy mở,
mở để góp nhặt tinh túy văn hóa cộng đồng. Vì, ở mỗi con người đêu có góc nhìn
về nhân văn khác nhau, do đó cũng đa dạng về nhận thức và quan điểm, thành thử
thú vi. Văn học luôn hàm súc tính nhân văn nên không thể bó hẹp với mỗi cá
nhân, vì mỗi nhân sinh có mỗi góc nhìn khác nhau về hiện thực xã hội. Mở rộng
và tiếp nhận cũng là quy luật của tư duy nếu muốn có được sự thành tựu chung vì
lợi ích chung mang tính cộng đồng. Sẵn sàng đón nhận nhưng cũng sẵn sàng hòa
đồng.
Không thể phủ định, yếu tố con người là nhân tố cốt lõi của kiến tạo, của thành tựu. Lịch sử loài người đã chứng minh rằng, sự phát triển của mỗi quốc gia, phụ thuộc rất lớn vào chất lượng của tầng lớp tinh hoa. Bởi họ là những người có thực học. Và khi đã có khẳng định con người nhân tố cốt lõi của kiên tạo. Vậy có khi nào trong bất chợt chúng ta lại có trăn trở: Con người là ai? Cuộc sống này có ý nghĩa gì? Hiện hữu người có ý nghĩa gì?… Chung quy, con người là đối tượng chung cho nhiều lãnh vực và cũng là đề tài suy tư của nhiều nhà tư tưởng. Tuy nhiên phải cần có sự tương thích trong chủ định phát huy con người vì trước quá trình đổi mới và hội nhập, đất nước lại đang cần những nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng công cuộc kiến tạo.
Tính dân tộc trong
văn học là một vấn đề lớn. Tính dân tộc là một trong những phẩm chất quan trọng
hàng đầu của nền văn học. Vả lại tính dân tộc là tính cộng đồng, một sự liên
kết tiếp nối nòi giống. Tầm quan trọng của tính dân tộc là mấu chốt để giữ được
bản sắc dân tộc, vì với diễn biến của lịch sử mang màu sắc chính trị sâu sắc
thường làm thay đổi khái niệm về bản chất nhân dân và đất nước. Riêng với văn
học đồng bằng Nam Bộ, định hướng nào để phát huy trọn ven tính dân tộc nói
chung, sắc thái địa phương nói riêng? Cần không một tư duy mở để phát huy hết
vai trò văn học hàm súc tính nhân văn dân tộc? Cần không mãi gói gọn trong phạm
trù địa phương?
Trong khi do tính
chất đặc thù địa lý là nền tảng làm nên những mảng văn học đẫm tính vùng miền.
Chẳng hạn như Đồng Tháp có Hò Đồng Tháp, hàm súc tính đặc trưng văn học. Hơn
nữa, Đồng Tháp vốn là
vùng miền gắn liền với bến nước dòng sông, nên đâu thể trách được khi tâm thức
cư dân luôn trĩu nặng tâm tình khắc khoải cùng bến nước hồn sông. Có lẽ sẽ bất
ngờ với người xứ khác khi bất chợt về với miệt đồng Đồng Tháp, tự dưng ngỡ
ngàng với dặt dìu âm điệu mượt mà ở câu hò dân gian. Xin đừng lạ, vì đó là góc
tình dân gian, là góc tâm tư tình cảm của người miệt đồng mà thôi. Thử nghe,
nghe đi để rồi mà hờ hững, có được không, hay để rồi mãi day dứt với ý tình đằm
thắm đến lạ. Hò Đồng Tháp, vốn dĩ là một trong những làn điệu dân ca đặc sắc
vùng sông nước Nam Bộ. Điệu hò buông lơi thành lãng đãng, thử nghe...
Sau cùng là góc nghĩ muốn được chia sẻ về nghĩa cử người cầm bút.
Ngu nghĩ, nghĩa cử với người cầm bút
là để viết và được viết, không duy để san sẻ về những trăn trở, day dứt trước
những cảnh đời bất hạnh, mà còn là trọng trách giải tỏa dằn xé nỗi đau đời
người vì những trớ trêu nghiệt ngã từ những hành vi trái khoái ở những con
người dị biệt, khiến tổn thương những người không đáng phải tổn thương, những
con người thuần khiết.
Những hành vi vô nhân tính, nghịch lý
đến nghiệt ngã, dù với người hành xử biết rất rõ hành vi ở mình trái ngược với
đạo lý nhân sinh, đạo lý thẳm tính nhân văn vốn cội nguồn làm nên giá trị con
người. Trong chừng mực, hành vi tha hóa sẽ làm băng hoại xã hội nhân văn của
cộng đồng thuần hậu. Trên bình diện hiện thực
cuộc sống phức tạp với nhiều mặt trái tiêu cực, đã có nhiều tác phẩm chạy theo
thị trường, chạy theo đồng tiền.
Theo truyền thống Đông phương thường nhắc nhở mọi người ăn ở, sống và ứng xử sao cho cuối cùng đạt được cuộc sống hoàn mỹ. Và giáo lý nhà Phật luôn khuyên chúng ta hãy cố gắng tu tập hướng đến mục tiêu chính là cuộc sống hướng thiện, giải thoát, tự tại. Vì thế, mọi người cần có sự chân thật, hướng về nẻo thiện và đạt được thẫm mỹ nơi thân tâm mình. Người nào đạt được ba điều đó thì người ấy hạnh phúc.
Khúc nôi, chúc Bông Tràm thành công và tiếp nối những thành công, khi Bông Tràm vốn là cầu nối văn học.
“Mẹ đừng đánh con đau
Để con bắt ốc hái rau mẹ nhờ.”
Đầm thắm chừng ấy, bảo sao không nhớ, không hoài nhớ rồi bất chợt bồn chồn nỗi vui từ hương canh cua đồng mẹ nấu. Con cua đồng, coi xấu xí vậy đó mà vẫn được lòng người ở đồng. Tuy cua lắm lúc làm bực lòng người làm ruộng, giận tức lúa mới sơn sởn non mà tụi cắn. Bọng ém kỹ vẫn bị rò rĩ vì tụi nó.
Nhưng bất ngờ cua đồng được chuộng. Như Bún riêu mà thiếu cua đồng thì lấy gì làm nên riêu hử. Ngộ nữa, tự dưng những quán vĩa hè túm tụm người với đĩa cua luộc màu gạch. Tách bạch ăn càng để được là sang.
Bàng bạc tản mạn vậy thôi chứ ngẫm lại món quê nào bằng món canh cua đồng mẹ nấu. Cua mẹ làm thiệt sạch, đâm giã, gạn lọc lấy gạch để nấu nên riêu. Rau muống đồng chẻ nhỏ, nước canh phơn phớt vàng màu gạch cua đủ sôi là mẹ thả rau vào. Đầy đủ dĩa rau, nào húng dủi, hương rau càng cua thơm thơm mùi đồng, chộn chạo lòng với hương nước mắm đống nấu từ con cá đồng sóng sánh màu hổ phách, ớt mẳn cay nồng không cay xé, hồn quê như từ đó thêm đằm thắm.
Ở đồng, như được lòng người đồng là con cá lóc miệt đồng. Nhìn con cá nướng vỉ ươm vàng, nhìn thì sang thiệt, mà nói thiệt nghen, ngon thì thấy ngon đó mà nghe thiếu thiếu cái ngòn ngọt của hương đồng sao đâu. Đâu giống như con lóc đồng xỏ xuyên cấm dựng rồi trùm rơm đốt lửa. Độ chừng hai đợt lửa, khơi tro, con cá đen trủi là con cá đã chín. Que tre làm đũa gạn bỏ lớp tro, con cá vẫn lấm lem, hồn quê như ở đó. Xông để con cá ra nửa tàu lá chuối, rau đâu cần thiết chọn, rau dại cứ quơ đại là xong. Nhưng ăn cá nướng lụi là phải ăn với nước mắm dầm me, là số dách. Phạch áo giữa đồng đón thêm gió đồng mà khoái. Khoái nhất là có tí rượu, rượu thì được có sao đâu, miễn trong chừng mực thì đâu làm mất đi nhân cách.
Nhắc đến món đồng chực nhớ.
Nhớ câu nói của ai đó như từ một
góc duyên ngẫu nhiên được ăn rồi khoái, khoái nên buông câu nói hàm ý đẩy đưa,
những ai về đồng mà chưa ăn món chuột đồng coi như chưa đến miệt đồng. Thân thiết
cũng phải thôi với người phương Nam, thời mà còn làm ruộng với giống lúa “Xom
mà Ca” (Sơn Nam), con chuột là dấu ấn ở thời mở đất. Theo Vũ Bằng trong “Món lạ
miền Nam”, ông gọi thịt chuột là sự huyền diệu, là món ăn chơi lẫm liệt.” Theo
ông, “thịt gà, thịt vịt có thể chế biến 5-6 món, thịt bò giỏi lắm là 7 món, còn
thịt chuột thì làm được 12 món.” Mà chắc vậy thiệt, vì ngoài Vũ Bằng và Nguyễn
Hiến Lê có mấy ai biết rạch ròi về món ăn miệt đồng. Cũng theo Vũ Bằng, món đơn
giản nhất là món chuột nướng rơm, rồi xé phay ăn ngon hơn thịt gà. Nào, như
chuột khìa nước dừa, xào rau răm, lá cách, củ kiệu, muốn ngon nữa thì chịu khó
một chút làm
chuột quay lu.
Miệt đồng vốn vậy, tâm tính dân
cũng mộc, món ăn cũng mộc, xin nói để bà con cùng vui khi thưởng thức món chuột
miệt đồng. Giờ con chuột miệt đồng cũng đổi thân
đổi phận, như có người thương sao đó, chắc thương thân phận hồi nào tới giờ hẩm
hiu nên đem về với phố chợ. Nhưng mà thiệt nghen, nói mà không thẹn, ăn món
đồng phải ăn giữa ruộng đồng mới khoái, mới cảm nhận đưọc cái ngọt ngào của hồn
quê.
Nhắc lại con lóc đồng mà không nhắc con rô nghe có chút gì đó thiếu sót với người đồng. Con rô mà kho tộ luôn ngon. Nói ra e dài dòng, mà không nói e có chút gì đó thiếu sót với khách. Đâu phải chọn con cá từ đồng đem kho là xong. Chọn cá cũng phải chọn con cá còn tươi rói, no bụng trứng, làm sạch để cho thiệt ráo nước rồi mới ướp, đâu đó đầy đủ vị rồi mới đem kho. Kho cũng phải kho với lửa riêu riêu đến khi con cá trở mình màu mần quân phơi tròn bụng trứng trong xem xép nước là được. Lu bu chi vậy hổng biết, với những đứa trẻ miệt đồng như ngon nhất là con cá trong ở ơ đất để ghé nhờ đống trấu un muổi rồi quên lửng nên khét, như ngon với tụi là ở cái mùi khét khẹt ở cá.
Hồn quê như cũng từ hương đồng mà trở nên thắm thiết. Miệt đồng như đã nói, vốn đa dạng về ẩm thực, nếu không nhắc về lươn e quá nhiều thiếu sót với ai đó. Với miệt đồng, mùa nước lên cũng là mừa sinh sản của lươn. Người miệt đồng coi vậy mà giỏi thiệt, đâu chỉ có duy nhất con cá đồng làm họ lu bu. Ngoài con cá đồng bung đồng, cũng là mùa sinh sản của lươn. Chừng như người miệt quê bén nhậy với món ăn, nên cũng nhanh nhậy trong việc tìm bắt.
Con lươn với người miệt đồng coi quê mộc vậy nhưng đôi lúc lại là một góc nghĩa tình. Đổ trúm, cầm trên tay con lươn tròn mẩy, thẩm vàng, đứa con biết nghĩa, chợt nhớ còn đó cha đang luống tuổi. Lươn thịt mềm lại nhiều nạt, thôi thì um sả cho ổng, thêm cho ổng cốc rượu nếp than, chắc ổng sẽ vui.
Mỗi miền mỗi món mang đẫm chất hồn quê dân dã riêng.
Như con hến, hầu như miệt quê nào cũng có. Nhưng con hến với người của miền Vĩ Dạ thì khác, con hến nhỏ mà trắng phau. Và cũng từ đó con hến nho nhỏ đã làm nên góc nhớ, nhớ để hoài nhớ, hình ảnh chịu thương chịu khó với quang gánh kĩu ca kĩu kịt trên mỗi nẻo đường mỗi góc phố, quang gánh ở người đàn bà bán Cơm Hến. Cơm Hến ai trót một làn ăn chắc sẽ nhớ. Cơm thơm dẻo, hến trắng phau, nước trong veo, ngọt đủng đỉnh. Thêm nữa hương rau đầy đặng, hương ruốc dìu dịu, như cái dìu dịu có được là từ con ruốc ở Phá Tam Giang. Góc hồn quê như ở đó, ở sự gần gũi ở người bán, gánh hàng có thể ghé ở một lề phố hay một vĩa hè nào đó.
Mà Huế đâu chỉ có rứa, nhắc lại nhớ thuở còn bà. Nẳm ấy ngoại già lắm, vậy mà ngoại muốn tự tay mình làm món “Dưa món”. Nhìn trẹt phơi ở sân, nào màu xanh nỏn ở dưa leo, màu hồng đỏ của cà rốt, màu vàng mơ của khóm, thêm màu thẳm đỏ của ớt, dưới cái nắng đầu ngày trông nó ngộ làm sao. Ngộ nữa là ở “Dưa món” không dấm với dấm mà dấm với nước mắm. Dưa món mà ăn với bánh đòn ngày Tết ngon kỳ cục.
Nhắc về con ốc đồng, lòng lại bứt rứt tự dưng con ốc trở thành vấn nạn của người làm lúa. Từ dễ tin một phần cũng do lòng tham đùn đẩy mua ốc bưu vàng về nuôi, đâu dè mua họa về mình. Ốc bưu vàng bộc phát tràn lan, phá hại mùa màng, ngậm đắng mà đau. Bây giờ thì đã qua hồi lấn cấn, khi người đồng biết cách dụng ốc. Như ốc làm mồi cho nuôi trồng cá nước ngọt. Và ốc cũng là món ăn đặc thù với người miền Bắc.
Bún ốc, thử tiếp cận để sớm nhận ra bún ốc lại là góc văn hóa âm thực vùng miền. Với người miền Bắc, nhất là ở những ngày đông mưa lạnh, ăn được tô bún ốc cay nóng thì còn gì bằng. Tuy là món ăn dân dã, nhưng để có được tô bún ốc đúng điệu cũng đâu dễ. Một to bún đúng điệu là sự kết hợp hòa quyện ở hương vị của ốc và các gia vị. Đặc biệt là ở nước dùng của bún là sự tinh tế để khách ưng lòng. Món rau đặc thù như không thể thiếu, chanh ớt, khế chua, cà chua. Dụng ốc chỉ dụng phần thân của ốc, nước ốc phải trong mới là tô bún ngon.
Ngoài bún ốc, chừ như ốc còn là thú ăn vặt của lề phố, nhất là ở những lề phố của những thành phố. Góc nhỏ nhỏ, ghế con con, vậy mà ngon mới lạ, góc Ba Hạt ở Chợ Lớn. Một góc bàn nho nhỏ vừa đủ cho hai người đôi lúc ba người cũng được, đĩa ốc vương khói thoáng mùi lá chanh, như đó cũng là tính cách ở những ai thích la cà hè phố về đêm. Nếu chỉ ngần ấy thì đâu đáng để nói, khi còn đó ốc nướng, ốc xào chuối xanh, nhất là mon ốc xào sả ớt nổi tiếng ở Hàng Bông - Hà Nội.
Mỗi miền mỗi vẽ, chỉ qua loa cho được vẽ, chứ ẩm thực vừa là nét văn hóa vừa là góc nghệ thuật phản ánh rõ nét văn hóa từng vùng miền. Nói sâu là phải nói dài thượt mới được, chứ đâu chỉ ngán gọn mà được.
Thôi thì, ngần này chắc cũng tạm ổn!
Nguyễn Quang Hòa
Dòng trôi mãi mãi là dòng trôi theo dòng không duy là những góc thương hồ, mà còn là những góc ngược xuôi, đôi khi chỉ vụn vằn, nhưng trong chừng mực nào đó đã làm nên những góc nhớ. Mà còn nữa ơ kia với lao xao những góc đợi, những góc chờ. Bồn chồn với ngong ngóng, rồi sắc se sao lạ hôm nay lại bặt chuyến đò ngang, không khéo nhỏ lại trể mất khi trống trường nhịp ba, sang sông lụy đò là thế ư.
Kỳ nghen, mà trách nhỏ cũng đâu được, nhỏ ở biệt ngọn Xẻo Tre, mãi là góc nhớ của một thời đi học. Góc nuôi chữ của thuở trường làng là vậy đó. Nhưng sau này được ra học chợ lại có những góc lao xao thời đi học. Mãi day dứt đến khắc khoải với một thuở mấy đứa dây dưa dưới nắng lụa trên “đường anh đường em”, những cánh áo dài không bồng gió, chỉ phơ phất làm nên dáng thơ ở những đứa học trò con gái.
Con đường chỉ nho nhỏ, không đủ lớn để nói là con đường của phố chợ, nhưng cũng không quá nhỏ để chật chội. Con đường, của thời ấy, đố ai không ấm lòng với cảm xúc gần gũi, nhất là ngẩu nhiên đi cùng đứa con trai cùng thời đi học.
Mấy đứa như ai cũng muốn thả bộ, thiệt ra, thuở ấy có mấy đứa đâu có được chiếc xe đạp. Như cơ cầu, đăm thú vị, thả bộ để đủ thời khắc mà tản mạn với bến nước dòng sông. Dòng kinh nho nhỏ nhưng luôn ngầu đục phù sa, tự dưng có ý nghĩ tản mạn với màu bông lục bình như tím thẩm hơn, thiệt tình hổng hiểu có là thực không màu tím trở nên thẩm tím từ vương víu ở nguồn phù sa. Thêm mông lung với màu xanh liệt sắc lông ở con bói cá, đậu im miết làm gì không biết, khi dòng trôi vẫn trôi, dòng nước chưa cạn thì tìm đâu ra con cá mắc cạn.
Cớ gì không biết, ngày ấy cứ bâng quơ với dáng áo ở mấy chị. Mấy chị nhẹ nhàng đi, dáng áo vẫn như bồng bềnh, hay tại từ nhịp guốc mộc. Thiệt tình không biết thiệt. Chợt nhớ góc thơ của nhà thơ Quế hương “ Guốc khua nhỏ nhẹ đường thao thức / Trưa bỗng dịu dàng nắng thủy tinh .” Đọc thơ, tự dưng có cảm xúc mung lung hoài nhớ về một thời xa lắc. Nguyên cớ như ở đó, kia kìa ở một góc sân, hai chị to nhỏ gì với nhau, thêm nữa, một chị vội quơ tay bắt con bướm vô tình đậu lên tóc bạn. Hai người lại to nhỏ gì nhau, làm sao biết. Hai chị cười, ánh cười trong veo thời tuổi ngọc. Hai người men theo lối cỏ, làm gì hử, một chị cúi nhặt những cánh hoa, hoa như vừa rơi, sắc còn thắm. Nhặt đâu đôi ba cánh gì đó, chợt chị ngó ngoái về phía bạn. Hai chị cùng gật đầu, như ưng lòng.
Tiếng kẻng, lại đến giờ vào lớp. Gặp hai chị ở hành lang, thắc mắc, không dằn được, nên hỏi. Hai người cùng cười. Tự dưng một chị dí nhẹ đầu mình, khờ ơi, rõ khờ. Khờ đâu có gì lạ với tuổi học trò đâu. Ngu ngơ nghĩ, chỉ là trò nghịch ở hai chị với tuổi học trò. Nhưng nhìn sâu ánh mắt hai chị, như họ đang chìm trong sâu lắng suy tư. Hỏi hai chị. Sao vậy. Một chị lại khỏ đầu. Ngóc.
Thắc mắc, đem chuyện hởi Tú. Tú cũng ngẩn ngơ. Như Tú chực nhớ, vô tình thôi thấy chị mình dỡ trang vở cũ. Ánh mắt chị đột nhiên vui, nét cười sâu lắng. Tò mò, vốn tính ở con nít, lén dỡ tập chị, phải phép hay không ở ngày ấy đau biết. Nghe Tú, Huy thêm vu vơ như không ai không có một thời đi học, dù dài hay ngắn vẫn có những buồn vui đủ để làm nên một ký ức. Và rồi bất chợt, một lúc nào đó, vô tình dỡ lại trang vở cũ, những dòng mực tím như nhúng nhảy làm vỡ òa miền ký ức buồn vui một thời.
Thời vu vơ góc trường tỉnh là vậy, nhưng lại đủ làm nên góc ký ức để hoài nhớ và sẽ còn mãi khi đi vào tâm thức.
Quen nhau cả một thời tuổi thơ, và mãi còn đó với những nhớ nhớ quên quên. Huy thích nghịch đất, Hà lạ sợ lấm lem, vô tình có một khoảng cách ở hai đứa. Nhưng khi Huy nắn xong con tu hú đất, Huy thổi, tiếng tu hú tu hú nghe mà mắc cười, thế là lại xề xòa. Hà thầm nghĩ, dẫu y như hay không y tiếng tu hú , có sao đâu, ít nhiều gì cũng vương hương đồng gió nội, khắc khe với người ta mà chi, được gì hử. Thử đi, ai đó về một lần với nội đồng, mình tin không dễ không chạnh lòng với dặc dìu ca dao, nghe đi để rồi bất chợt mà khắc khoải với nao nao, trong chừng mực nào đó sẽ se lòng với kiếp bạc đời người…“Ai ơi về với Tháp Mười/Cá tôm sẳn bắt lúa trời sẳn ăn…Tháp Mười nước mặn đồng chua/Nửa mùa nắng cháy nửa mùa nước dâng.”
Như cảnh tình nghèo, con người dễ gần nhau. Hà còn đó mẹ, người mẹ còn lại với nửa chừng duyên, nét lãng đãng của một thời duyên dễ chừng làm mụ mị không ít người dưng. Như ở đó có người đàn ông hàng xóm, người đàn ông với đằng đẳng cũng với một thời lẻ bóng khi người đàn bà bấu víu cơ cực của một thời vội thỏng tay buông đời. Như mẹ không treo giá, như với mẹ khi người đàn ông của đời mẹ ra đi quá sớm, và như cha đi mang theo luôn cái một nửa của mẹ nên mẹ đăm bẽ bàng se thắt với lẽ vô thường. Như với mẹ một lần tình chồng nghĩa vợ nghĩa con là đủ.
Tuy đôi lúc bất chợt gặp mẹ thở dài khi bắt gặp đứa nhỏ con người dưng một mình tắm ở bến nước. Do vậy, nên Hà rất thương mẹ, nghĩ nếu để mẹ một mình với mỗi bửa ăn, chắc mẹ sẽ buồn cho mà coi, đâu nở.
Thêm nữa, mẹ trót như dòng nước lạc nguồn lấy chồng xa xứ để bất chợt quắt quay cùng nỗi nhớ, nhớ một thuở sông Bồ, lặng chiều vẫn còn đón đợi vớt nào chạt nào nhánh đổ về từ thượng nguồn, vụn vằn vậy cũng đủ lửa cho góc lửa bếp với muộn chiều. Nhớ rồi lóng ngóng, tiu nghỉu buồn rồi ngẫm ngợi, chiều cũng sẫm rồi sao mẹ chưa về, niêu cơm chiều đã chín từ lâu. Thương mẹ một đời trót đa đoan nên đa mang lúc nào không hay, đa mang đến buông bỏ đi thời thiếu nữ, giờ còn lại với mẹ là gì, là dấu chân chim đuôi mắt, nhìn mà buồn nẫu ruột.
Với Huy, nhà cũng chỉ mủn ruộng, nên cha Huy thường đi dần công trả công. Dẫu có đó bờ nương, luống rẩy cũng nhẹ bớt đi phần nào nỗi canh cánh miếng ăn. Nhưng với cha Huy như luôn dằng dặc với day dứt, trót một đời hẫng chữ nên khổ trăm bề, mãi ngẫm ngợi chẳng lẽ lại để con lâm lại cảnh khổ. Bằng giá nào cũng ráng nuôi được con chữ cho con.
Mùa tháng 5, mùa cải trổ ngồng, dáng đồng chiều tự dưng lãng đãng với sắc bướm bên vàng mơ hoa cải. Dẫu muộn chiều, hai cha con không ai muốn về, nán bắt thêm vài ba con sâu, được con nào đở con nấy. Miệt quê thường lắm những vụn vặt như vậy nhưng lại là góc nhớ với người dưng khi bất chợt thấy. Hai đứa không đứa nào nói cho nhau dự tính của mình. Nhưng lại có trùng hợp thú vị, bất ngờ chưng hửng với Huy, khiến Huy ngỡ ngàng khi nhỏ Hà đưa Huy coi đơn xin tuyển vào Đại học Nông nghiệp.
Huy đi nhớ rủ mình, đừng quên nghen, quên là giận đó. Huy lại bất ngờ sao nhỏ nhậy bén dữ, cách gì nhỏ biết mình dự thi vào Nông Lâm. Lúc đầu mình định xin thi bách khoa ở Thành phố, nghĩ hời hợt sau khi tốt nghiệp dễ có việc làm. Suy đi nghĩ lại, vô tâm lại gây khó cho cha, dẫu cật lật với một nắng hai sương cũng chắc gì cha kham nổi học phí với đằng đẳng thời khắc nơi thành phố.
Vốn con nhà nông, hơn nữa nếp sống vốn thuần nông, nước nhà cũng vươn lên cũng từ văn minh lúa nước. Lời dạy Bác còn đó, Bác luôn quan tâm với nông nghiệp…”Nhà nước phải xây dựng một nền nông nghiệp toàn diện. Cần có sự tương quan nông nghiệp và các lãnh vực khác của xã hội. Bác khuyến khích trồng cây gây rừng, để mất rừng là mất đi nguồn nước ….”
Hai đứa mãi tính tới tính lui, lúc đầu Huy tính nợp đơn thi ở An Giang, khi mãi mơ hồ với bất chợt Chăm Pa, nét thầm duyên ai đó với khăn Pưm, đăm khắc khoải với vướng vương mùa Rija Nagar-mùa Kate, qua ca khúc của Trân Tiến. Nhưng nơi đâu cũng hương đồng gió nội. Khi Đồng Tháp vẫn có đó lãng đãng với Mùa Chim Sếu. Sếu với người Nam Bộ là loài chim thiêng, còn gọi là Hồng Hạc. Hơn nữa, Vườn Quốc Gia Tràm Chim còn là vùng sinh thái đặc thù, còn giữ tính đặc trưng vùng ngập nước Ramsar.
Chờ phà lâu đăm sốt ruột. Bâng quơ dòng trôi vẫn ngầu đục phù sa đó thôi, chơt nhớ thời ngu ngơ, thỏ thẻ hỏi bà, sao nước mãi đùng đục thế bà. Bà mĩm cười rồi đưa tay xoa đầu, như ý bà hầu như tuổi tre nào cũng ngây thơ như vậy. Như con thấy đó, nhờ cái đùng đục mà chúng ta có được hạt ăn, nước mình vốn là nước thuần nông vươn lên từ văn minh lúa nước, cũng nhờ cái đùng đục mà mình dôi ra hạt ăn, có dư nên chia sớt cho người khác. Chắc con không biết đâu, nước ta cũng chật vật lắm với một thời hẫng hạt, chừ giờ thì dư hạt đem bán cho người. Hoài nhớ rồi rưng rức, té ra một sương hai nắng cũng làm nên cơ ngơi. Giờ thì bà đâu còn nữa, chỉ còn mẹ, Hà chỉ phụ mẹ ở mỗi dịp hè. Nhìn mẹ nặng gánh lo toan mà xót. Mẹ đeo đẳng chợ không chỉ ở mùa nắng hạ hanh hao mà còn cả với thời khắc se lạnh của mùa chướng. Mà miền Nam chỉ với hai mùa mưa nắng, thiếu sắc thu vàng, nhưng vẫn thoáng có đó heo may, chỉ chừng ấy thôi để đứa con gái mẹ có cớ khoe duyên với cánh áo khoát màu tím hoa cà. Như người mẹ sớm nhận ra con gái mẹ vốn dễ mềm lòng với cảnh sắc thắm đẩm hồn thiêng sông núi, nên mẹ có ý tùy con cho lựa chọn của con. Nhìn mẹ với gần nửa đời tần tảo cùng góc áo cơm. Hà không đành lòng dẫu muốn bước vào ngưởng khoa nhân văn. Nhưng đâu thể được, với ngần ấy thời khắc ở ngưởng đại học nhân văn ở Thành phố là ngần ấy thời khắc gian khó cho mẹ ở góc quê nhà. Còn đó góc nhớ, nhớ mãi tận bây giờ, ngày con mẹ được ra học trường chợ, đáng ra cha mẹ vui không hết vậy mà hai người lại khóc. Sau vỡ lẽ, con người buồn cũng khóc, vui cũng khóc. Như phần cốt lỏi là từ nỗi thắt lòng với tiếng biếm nhẻ ở người dưng. “ Ai đời buôn tiền, buôn bạc không buôn mà đi buôn chi cái chữ cho nó khổ.”
Cha mẹ nghèo, đâu có của gia phả đâu mà dành để cho con. Hơn nữa, một thời dẫu giờ xa lơ xa lắc vẫn cứ là nỗi đâu đắng lòng, trót nghèo cái chữ thành thử nghèo theo cái ăn. Nhớ lần mẹ rưng rưng như khi nhìn thấy con mình sao cứ lấn cấn chắt chiu với con cá đồng mẹ mang ra từ đồng. Ráng cực chút nghen. Và cũng từ thời khắc này Hà nghiêng hẳn về góc học với nặng lòng cùng bên nước hồn sông. Học ở Cao Lãnh chỉ lụy mỗi con đò.
Dẫu cứ mơ hồ và day dứt với mung lung về một Sa Pa mù sương, nơi với lưng chừng đèo giăng giăng mây núi. Nơi với những mái nhà cheo leo lưng chùng đèo. Nơi cứ còn đó nếp ruộng từ bao đời, ruộng bậc thang, nửa hoang sơ, nửa mềm mộc, thêm mông lung “ con đường lúa” sau mùa gặt mênh mênh man man dáng thổ cẩm phơi thóc dưới chân đèo. Và kia nữa một Hà Giang với lưng chừng mây, nơi mãi còn đó góc chợ tình Khau Vai Mèo Vạt với lời hứa bên ánh lửa, dẫu không thành được đôi lứa. Vẫn mãi còn đó góc chợ tình ngày xa cũ, vợ đi tìm bạn vợ, chồng đi tìm bạn chồng, vô tư giữa hoang sơ.
Đò tách bến, thời khắc vẫn thầm lặng trôi, nhìn dòng trôi lại bồi hồi với màu tim tìm của hoa lục bình, bất chợt nhớ góc bến nước, nước mụa cạn, đâu có con cá mắc cạn nào đâu, vậy mà con bói cá màu xanh liệt đậu chi miết hổng biết. Tánh tò mò, nên cũng muốn biết dòng đời của một bến đợi bến đưa khách sang sông. Qua các cụ, giờ Cao Lãnh đã có nhịp cầu, giờ cũng là tời khắc chia tay bến phà trăm năm tuổi, bến phà hoàn thành "sứ mệnh lịch sử", ở xứ hoa sen Hồng.
Nhịp cầu như nhịp nối làm nên mối ràng buộc lịch sử cho quy trình phát triển của một vùng miền, tính tất yếu hữu cơ của tồn tại. Cầu Cao Lãnh là cây cầu thứ 2 bắc qua sông Tiền sau cầu Mỹ Thuận và cách cầu này khoảng 35 km về phía thượng lưu. Công trình được khởi công vào tháng 10/2013, dự kiến hoàn thành sau 4 năm với tổng mức đầu tư 145 triệu USD (hơn 3.000 tỷ đồng. Cầu Cao Lãnh là cây cầu dây văng được xây dựng bắc qua sông Tiền, nối liền thành phố Cao Lãnh và huyện Lấp Vò của tỉnh Đồng Tháp. Cầu Cao Lãnh cách bến phà Cao Lãnh khoảng 0,8 km về phía hạ lưu sông Tiền và cách cầu Mỹ Thuận 35 km về phía thượng lưu sông.
Cầu Cao Lãnh cùng với cầu Vàm Cống là hai cây cầu trọng điểm nằm trong Dự án giao thông kết nối trung tâm Đồng bằng sông Cửu Long. Theo thiết kế, cầu có chiều dài 2.015 m, rộng 24,5 m cho bốn làn xe cơ giới và hai làn xe thô sơ, với chiều cao trụ tháp bê tông cao 123 m và nhịp chính dài 350 m, vận tốc cho phép 80 km/h. Hai trụ tháp chữ H của cầu Cao Lãnh tượng trưng cho sự kết nối giữa hai nước Việt Nam và Úc khi xây cầu. Nhà thầu xây dựng cầu là Cuu Long CIPM,CRBC và Vinaconex E&C. Ngoài hệ thống đèn chiếu sáng trên cầu, nhà thầu còn lắp đạt hệ thống đèn mỹ thuật cho các dây văng.
Nguyễn Quang Hòa