Chợ quê tháng chạp - tản văn Nguyễn Thành Công

Chợ quê truyền thống mang đậm đà nét xưa phản ánh đời sống vùng nông thôn thuần phác có ở mọi nơi như sự còn lại của một thời trước đà tiến hóa, trong bức tranh thương mại đã có nhiều phương thức kinh doanh mới như siêu thị, mua bán online tương tác sâu rộng tiện lợi nhanh chóng với cả ngoài nước. Trong khi đó, chợ quê vẫn vậy: bổn phố xưa cũ với các cửa hiệu kinh doanh cố cựu cố định các mặt hành uy tín, nhà lồng - không gian của mua bán tổng hợp thiên về thực phẩm - chợ cá, chỗ ồn ả bậc nhất. Chưa hết, chợ quê còn tồn tại với hàng rong đủ thức quê trên tay các chị cùng tiếng rao, từng dãy bán hàng tự sản tự tiêu ngồi xổm hai bên đường dẫn vào chợ trong từng gá, rổ, thúng, xịa với chút cá tôm, rau củ, một cặp gà, chút măng… Không chỉ ở tỉnh lẻ, Sài Gòn cũng còn nhiều chợ quê ở các phường ngay nội thành mang nét rất gần “họ hàng” chợ ở các xã Miền Tây. Chỗ ngã rẽ từ đường Hoàng Văn Thụ dẫn đến giao cắt đường ray xe lửa, tồn tại chợ quê y chang ở miệt đồng bằng cũng có bán ngồi xổm, hàng tạp hóa, hàng rong, nhà lồng… Những chợ theo “mô hình” như thế có khắp thành phố, như gần cầu Thị Nghè, vào đấy cứ ngỡ về đến Bạc Liêu, Cà Mau.

Tháng Chạp, không khí tết nguyên đán đến thật gần, sắc Đông hòa quyện Xuân mang tới cái lạnh se se nhẹ nhàng nồng nàn tựa trên cao nguyên Lâm Viên, ở các chợ quê màu Tết đã ùa về qua những mặt hàng chỉ vào dịp này mới có: bao lì xì, mai giả, hàng trang trí tết, và đương nhiên phong phú nhất vẫn là quần áo. Dạo một vòng các chợ quê ở miệt Cà Mau “thấy” tết đã thật gần qua những bước chân chen nhau ở ngõ hẹp vào chợ, hàng hóa tươi mới, đồ trưng ngày Tết lung linh sắc màu… Lên Sài Gòn,  qua Thảo Cầm Viên,  cầu Thị Nghè 2,  ăm ắp riếng rao, hàng họ đầy  sắc Tết, chất quê có lẽ còn đậm đà ở chợ  nhỏ ở Miền Tây. Ở chốn ngự của các tập đoàn hùng mạnh kinh doanh hiện đại, những chuỗi siêu thị sáng choang, nơi “đền xanh đèn đỏ”  đô hội bậc nhất, các chợ quê nổi bật,  gọi về truyền thống ngày qua. Này hàng trái cây, bánh mứt, rồi tôm cá từng rổ gá y chang miệt dưới đồng bằng. Một cô gái dựng xe đạp với hàng cây Phát Tài dành riêng cho tết để hẳn giá tiền – gieo tết sớm đến mọi người dù chỉ nhìn thôi: mỗi cây Phát Tài duy trì tục cầu may mắn cho năm mới, mần ăn hanh thông, tiền tài phát đạt. Nhìn hàng của cô gái  trên xe đạp, biết tết thật đã  đến gần rồi. Về quê, Camera ưu tiên hình ảnh hàng Phát Tài của cô gái ở Sài Gòn như kỷ niệm nổi bật mang về từ thành phố, hơn cả clip ghi hình Thảo Cầm Viên hay Dinh Độc Lập, hàng Tết của cô gái trong nhân dáng quê mang đậm nét quê bao đời của sự lam lũ tần tảo bao đời của người phụ nữ Việt, cô bán chút cây mọn để chăm cho những ngày tết đang về…

 Chợ quê tháng Chạp, nơi nét Việt còn đầy.

 

 

 


Nguyễn Thành Công 

>> Đọc tiếp…

Nhớ chong chóng lá dừa thời thơ bé - tạp văn Nguyễn Thành Công

Thời thơ trẻ con xứ mình có lẽ ít nhóc nào không biết đến món đồ chơi giản dị bậc nhất làm từ lá loại cây có ở mọi nơi: chong chóng thắt bằng lá dừa. Chiếc lá dừa xanh có sống nhỏ chính giữa khi khô làm mồi nhóm bếp tuyệt vời, còn xanh gói bánh dừa cùng nhiều việc khác, riêng cánh trẻ con thắt được chong chóng chỉ qua vài thao tác  tạp nên nút chính giữa và các cánh xoay tít trong gió. Hình ảnh chong chóng lá dừa làm đẹp tuổi thơ ở miền  nhiệt đới đầy nắng gió, sẵn loài thực  vật đắc dụng phục vụ con người từ trái đến thân, lá… Chong chóng khơi gợi ước mơ ở con trẻ, “họ” nghĩ đến cánh quạt máy bay, giấc mơ bay cao bay xa… Bây giờ ít thấy trẻ chơi chong chóng nhưng thời chúng tôi món ấy đã đi vào sâu thẳm khó thể quên.

…………………

Độ này điện gió khá hot trong các bản tin thời sự, năng lượng xanh sạch kia được yêu thích ở khắp nơi, miền nhiệt đới giàu gió xứ mình càng đầy hứa hẹn cho nguồn điện khai thác từ sức gió. Đi tàu hỏa từ Hà Nội về Nam, ngang bờ biển Miền Trung choáng ngợp cánh đồng điện gió xoay những cánh quạt khổng lộ màu trắng, tàu chạy nhanh tới 74 cây số/giờ nhưng thật lâu mới qua khỏi các tuốc bin gió. Cánh quạt khủng gắn trên trụ cao trông thật ấn tượng. Rồi về quê, ngồi uống nước mía trong đê biển nhìn hàng cột điện gió ngoài khơi xa xa, vẫn không được quan sát thật gần cho “đã”.

Bữa nay tuyệt vời, đạp xe vào hẳn vùng duyên hải ở Nam Biển Đông, cả một cánh đồng điện gió với hàng trăm tuốc bin xoay những cánh quạt màu trắng trên độ cao mỗi trụ ngót 130 mét, và từng hàng cột ấy chạy từ gần quốc lộ đến sát cửa biển, thực hoành tráng. Đạp xe vào sâu tận lối đường xuất hiện khi thi công các trụ, đến cạnh bên các cột có cánh quạt trên cao đang xoay trong gió sản xuất điện, âm thanh ầm ào văng vẳng trên cao do sức gió tạo nên giông  giống âm thanh ở các sân bay. Cánh quạt nhìn từ xa có vẻ quay rất chậm, nhưng vẫn tạo nên điện đáng kể do tiết diện cánh quạt tiếp xúc với gió và độ cao. Mỗi trụ cao không khác một máy sản xuất điện độc lập.

Cảm giác khi đến thật gần nhìn các cánh quạt xoay, và thu vào tầm mắt từng hang cột chạy dài trong không gian trống trãi của vùng duyên hải thực mãn nhãn , đạp xe dưới các cánh quạt trong cơm mưa nhẹ hạt càng tuyệt khi bốn bề hầu như chỉ có… một mình. Đến trạm vận hành điện gió mới cảm nhận được sự tĩnh lặng của công nghiệp sạch, không một tiếng ồn: dòng điện từ gió tạo nên sẽ được kiểm soát ở nơi này qua kỹ thuật hiện đại.

Đứng ở nhiều vị trí chụp ảnh từng trụ cao, cánh quạt, rồi từng hàng cột xa xa, bỗng chợt nhận ra: ô, cánh quạt khổng lồ đang xoay kia sao giống chiếc chong chóng thắt bằng lá dừa thời thơ đến vậy, cứ như một phiên bản chong chóng đồ chơi của chúng tôi thời bé được phóng to lên và… làm trắng: có nít to ở giữa, các cánh… và xoay.

Suốt cung đường dài từ quốc lộ ra biển, các chóng chóng “chạy” theo bánh xe, tận cửa biển vẫn thấy mấy trụ cao “đi theo” hành trình khám phá. Cánh đồng điện gió thực tuyệt biết bao, khơi gợi hứa hẹn tiềm năng to lớn của xứ biển giàu nắng gió bậc nhất. Vùng duyên hải khó khăn lơ thơ cỏ dại và các loài cây tạp thấp, ngoài con tôm nay đã được phủ một màu trắng yêu thương của điện gió, thắp hy vọng. Các em học ra về trên đường cứ ngắm mải miết xa xa những cánh quạt trên cao, không hiểu các em có liên tưởng đến chiếc chong chóng lá dừa như tôi hay không?

Những cánh quạt vẽ từng nét kỳ vĩ trên nền trời thực  đẹp biết bao…

 

 

 

Nguyễn Thành Công

>> Đọc tiếp…

"Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở" - tạp văn Nguyễn Thành Công

Hồi thi THPT (hệ bổ túc), chúng tôi làm đề Văn phân tích “Tiếng  hát con tàu” của nhà thơ Chế Lan Viên: “Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở; Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn…”, một đề hay, giàu sức gợi và có nhiều đất để viết bởi “đụng” đến tâm tư tình cảm hầu như của mọi người. Không xét hay câu thơ ấy trong ý tứ chung của toàn bài thơ, xét riêng chỉ hay câu thôi để lan man về một quy luật tình cảm của con người trong đời thường: khi qua rồi, mất đi, xa cách… con người mới nhận ra tròn trịa đủ đầy tình của mình với chủ thể đã vơi vắng kia do khoảng trống để lại trong long, hóa thành  tâm hồn.

Có nhiều ví dụ thực tế: Cụ Nguyễn Thị Bình đã tám mươi tuổi sống ở một con hẻm thuộc thị trấn Miền Tây, từ năm 1973 cho đến nay. Không hiểu sao Cụ hầu như không thích ai, nhắc đến láng giềng nào cũng đầy thói hư tật xấu cùng kỷ niệm không vui. Câu cửa miệng cụ thường nói: “Phải biết vậy hồi đó mua đất chỗ khác”. Nói vậy thôi, nhưng cụ chưa từng rời nơi ở trong ngõ hẹp ấy. Rồi một ngày Cụ vì lý do sức khỏe phải bứt khỏi hẻm nhỏ chừng tháng trời, tai không phải nghe hàng xóm moi móc nhau chưởi rủa, cũng xa tiếng đám nhóc mình trần quậy phá suốt ngày đêm, tiếng động cơ xe hơi ngay cạnh cùng xưởng cơ khí  ầm ĩ liên tục… Cụ sống ở một nơi khác đủ tiện nghi, khoáng đãng, với những hàng xóm mới tinh. Nhưng, ráng hết sức được chừng tháng, cụ một hai đòi về hẻm nhỏ, và khi xuống xe chạm chân chốn than thuộc gần hết đời người, cụ hỏi liền khắp lượt những người hàng xóm: Thành Hiếu khỏe không, con Tư bán được hôn và… Chưa bao giờ cụ quan tâm như vậy với những láng giềng ở hẻm đầy khó chịu. Chính sự xa cách, thoát ly giúp cụ nhận ra cái tình hàng xóm láng giềng, sự thân thuộc. Một câu chuyện tích cực, vui. Với cụ già, con hẻm bây giờ đày ắp yêu thương…

Anh Năm Phát, 52 tuổi, ở Lấp Vò - Đồng Tháp, một người từng trải, đi nhiều. Ở nơi nào, khi Sài Gòn, Tiền Giang lúc tận Miền Trung, có độ sang tận CPC theo nghề mộc gia truyền, lui cui chí thú làm ăn, có lúc thấy “chỗ nào như chỗ nấy”, nhưng khi rời xa thật xa, “nhớ lắm chú, từng căn nhà, mấy đứa nhỏ, bờ vườn con kênh…” - anh nói. Tâm lý ấy mang tính chung. Cô giáo Khánh Vy trong nghiệp sư phạm đã phải thuyên chuyển tới bốn lần về đủ lý do chung và riêng, và mỗi lần rời xa ngôi trường gắn bó đến nhiệm sở mới “cứ như bứt ruột giằng đi, nhớ ngày đêm từng đứa học trò, quán cóc, cổng trường…”, trong lòng cô giáo yêu nghề ấy có bao nhiêu ngôi trường sống động.

Thực ra, góc phố, mấy căn nhà nghèo trong hẻm, mấy đứa nhóc mình trần giỡn dưới mưa…  nhìn thô nghĩ vụng cũng thường thôi có chi mà nhớ dữ vậy! Không, tình cảm con người vậy, nhớ mọi thứ da diết khi xa cho dù chẳng sang cả gì theo góc nhìn của ai đấy. Chú Bảy Xệ, gần 90 tuổi, từ Cà Mau sang định cư bên Canada đã hai mươi năm có hơn, cứ nằng nặc con cháu về VN nhớ chụp hình cây cầu gần chợ ngày bé chú tắm, khúc lò bún, hay cội cồng già… Bác nhớ lắm những điều dung dị, con cháu vâng dạ cho bác vui chứ mấy chục năm rồi vật đổi sao dời làm gì còn cảnh cũ mà chụp? cảnh ấy in trong tâm khảm bác không hề xuy xuyển.

Tình cảm nó vậy, nên khi nhìn xung quanh, hít thở đời thường, cảm thấy trân quý và yêu thương hơn? Để khỏi phải chờ khi  rời xa mới nhận ra điều trân quý.

Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở

Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn.

 

 

 

Nguyễn Thành Công 

>> Đọc tiếp…

Xóm, tế bào cộng đồng dân cư ở nông thôn miền Tây - tạp bút Nguyễn Thành Công

Cả nước có khác biệt trong cách gọi đơn vị nhỏ tập trung dân cư: thôn, xóm, ấp, làng… Khác biệt ấy đến từ các nền quản trị xã hội khác nhau của từng nhà nước phong kiến, chính quyền thực dân, từng thể chế riêng ở từng thời đoạn lịch sử, và theo từng vùng miền.

Trong lịch sử gần, ở vùng đất xác lập chủ quyền mới vài thế kỷ, nơi chính quyền thuộc địa xác lập qui chế riêng là xứ Nam Kỳ, xóm chính đơn vị tế bào của cộng đồng dân cư – trước nhất là ở thôn quê.  Cũng có thể có ngộ nhận khi đặt ngang hang thôn- xóm- ấp… trong khi thực tế “xóm” mới đóng vai trò tế bào: vài nóc gia, vài chục nóc gia tập trung sinh cư đã là một xóm, nhiều  xóm mới hình thành ấp, làng, xã. Cũng thời thuộc địa, đơn vị “làng” có diện tích rất rộng so với quan niệm bây giờ, như làng Phong Thạnh thuộc thị xã Giá Rai- Bạc Liêu ngày nay trãi rộng bát ngát đồng ruộng mà hiện nay trùm lên nhiều xã, không khác đơn vị hành chính cấp huyện nho nhỏ bây giờ.

Nhiều xóm mới họp thành ấp, làng, trong ngôn ngữ dân gian nôm na có cách ghép từ “xóm làng”, “xóm ấp” chỉ một cộng đồng dân cư chai sẻ không gian sống chung: tình nghĩa xóm làng (hay làng xóm).

 Xóm đúng chỗ dụng câu bàn cận kế cận, tối lửa tắt đèn có nhau, nhất là khi chiến tranh loạn lạc cần nương tựa. Phân bổ nóc gia theo xóm cũng đồng thời chia sẻ nghề nghiệp chung: làm ruộng, làm đồ nan, rẫy, thủ công… Hoặc xóm là tập hợp những gia đình di cư đến từ xa có chung bản quán: xóm Huế, xóm Bắc…  Xóm cũng có thể là nơi chung sống của những gia đình cùng niềm  tin tôn giáo: xóm Đạo, xóm Chùa…

Đất đai của một xóm có nét riêng khiến  khi có dịp đến thăm hay đi xa, người  ta rất nhớ: cội cổ thụ, ao, hồ, công trình cũ… Thành viên trong xóm cùng chia sẻ thuở ấu thơ, đi học, cần lao, vui buồn trong cảnh chung ấy nên gắn bó tự nhiên trong một tình cảm láng giềng.

Trãi nghiệm Miền Tây, bạn đồng thời nếm hương quê từng xóm nhỏ: xóm trên cù lao Tân Quy chỗ giáp Vĩnh Long và Trà Vinh ngợp trong cây trái vườn tược ngút ngàn, có cầu khỉ cheo leo, những cự củi khô, bến đò, đường quê nhỏ nhắn chạy quanh… Xóm ấy thực đẹp, yên bình bên sông Hậu. Miệt bán đảo Cà Mau có những xóm mang tên gọi dung dị dế nhớ dễ hiểu: xóm Cần Bẩy, xóm Mả, xóm Lá…  Có xóm Giáng Cần Bẩy thoi loi giữa đồng ruộng, đi chợ  Giá Rai hay Long Điền đều gần (Bạc Liêu), xóm Vịnh ngay cây cầu Vịnh cũng cách đấy không quá xa.

… Xóm Lá nằm giữa Sóc Trăng và Bạc Liêu chìm trong lá dừa nước, rạch nhỏ uốn quanh, mát rượi dù giữa trưa nắng rắt. Đi xa hơn về hướng thị trấn Phước Long (vẫn Bạc Liêu) đầu này Ninh Quới đầu kia Vĩnh Phú Đông, chính giữa ven kênh đạo Quản Lộ Phụng Hiệp là ..Xóm Giữa (vì..ở giữa!) chuyên nghề đan đát tre trúc lâu năm.

Quá trình phát triển, đô thị hóa, nhiều xóm đã thành chợ mất dấu vết cũ, thay vào sinh khí đô thị bán buôn nhộn nhịp, song hãy còn tên như Xóm Lung (giáp giới Giá Rai và Hòa Bình thuộc Bạc Liêu), chợ gắn biển lớn “Xóm Lung” và chiếc cầu bê tông trên quốc lộ cũng mang tên ấy một cách chính thức, dễ hình dung ngày cũ  nơi ấy chỉ có ít nóc gia, và là một xóm nông thôn đúng nghĩa heo hút vắng.

Xóm nhỏ nên “đầu xóm cuối xóm” đều biết nhau, rành sáu câu chuyện hàng xóm như chuyện nhà và tình cảm người  hàng xóm ai cũng có trong long, càng nồng ấm nếu khi phải đi xa rời nơi chôn nhao cắt rốn.

Có lẽ khắp thiên hạ đâu cũng vậy, gắn kết tế bào các gia đình gần gũi thành một cái tên nào đó diễn đạt bởi ngôn ngữ riêng. Tiểu thuyết nổi tiếng của nhà văn Quỳnh Giao chuyển thể thành phim cũng không kém nổi tiếng được chuyển  ngữ sang tiếng Việt dùng từ “xóm” một cách thích hợp “Xóm vắng”là ví dụ.

Về hành chính ngày nay, ở Miền Tây Nam Bộ, xóm không được xét đến về mặt từ ngữ hành chính nào, thực tế nhiều xóm hợp thành ấp và ấp là đơn vị hợp nên xã, một tập hợp mang tính tự quản, không phải đơn vị hành chính. Nhưng xóm tồn tại mãnh liệt, có thực chất trong tình cảm bà con tự lâu đời, mái nhà chung của đồng bào, tế bào của cộng đồng dân cư.

Dù là ai cũng có xóm của mình, dòng kênh bến nước con đò và ngay ở trong sâu thẳm mỗi con tim. Cứ thử hỏi anh Việt Kiều bất kỳ xa xứ mà xem anh nhớ nhất điều gì khi xa quê hương vạn dặm: nhớ xóm – nơi có gia đình, bè bạn, tuổi thơ…

Đẹp thay tình nghĩa xóm làng ở Miền Tây.







Nguyễn Thành Công


>> Đọc tiếp…

Tản mạn cà phê Nam, Bắc - tạp văn Nguyễn Thành Công

Nghiện hương vị cà phê từ mấy chục năm trước, buổi còn bao cấp lên tỉnh lỵ tập huấn, tuổi chót thanh niên đã trót “yêu” màu sắc đen tuyền, hương vị phảng phất, vị đắng… trên nền nhạc trữ tình nơi sân vườn, rặng tre, lầu cau hay ghế tre tạm bợ nơi hiên nhà, hè phố. Cái ngon, tuyệt, quyến rũ của cà phê “người trong cuộc” thẩm thấu sâu sắc, song phân tích diễn bày chi li hơi bị khó: chất liệu cà phê, quang cảnh, bối cảnh, nội tâm, nhạc họa…

Cà phê với nhiều biến tấu: cà phê đá, sữa đá, sữa nóng. Nói vậy,  tức biến tấu từ xuất phát món cà phê đen trong tách gốm, đất nung.

Trong Nam, thủ phủ cà phê có tiếng trên thế giới ở cao nguyên Trung phần, nơi người Pháp gầy dựng ngành trồng trọt thứ cây mang từ Nam Mỹ đến và hình thành ngành kinh tế quan trọng ở Đông Dương. Miền Đông, Miền Tây, Sài Gòn gần xứ bazan đất đỏ, gắn với thú thưởng thức cà phê sớm, sâu đậm. Quán cà phê thuộc vào hàng quán có số lượng nhiều nhất ở Nam Bộ, chỗ nào cũng có và có nhiều, đủ loại. Đô thị lớn, thị trấn, làng xã, đến hẻm phố, thôn ấp, vài chiếc ghế hay cái võng, cùng chiếc bàn, có chỗ nhâm nhi cà phê. Tìm gì thì khó chứ chỗ uống cà phê ba bước đã có ngay, thượng vàng hạ cám: Cà phê nguyên chất loại xịn thơm lừng cùng nhạc nhẹ êm tai, cảnh trí lịch sự, điều hòa, phục vụ xinh đẹp; Cà phê bình dân năm ba nghìn một tách xây chưng ngắm xe vù vù ngay sát mặt, chợ búa ồn ã xung quanh, hay cà phê văn phòng có không gian vừa nhấm nháp chất đen vừa thảo luận, trao đổi công việc…

Miền Tây đứng đầu về hình thức kinh doanh cà phê võng đáp ứng nhu cầu khách đường xa cần chốc nghỉ ngơi đong đưa trên hành trình. Sài Gòn là hạng nhất về cung cấp các quán cà phê sang trọng có đầu tư lớn.

Nhưng, theo lẽ tự nhiên, đến cao nguyên Trung Phần - thủ phủ ngành trồng và chế biến cà phê - mới nếm trãi tận gốc vị ngon mộc của thức uống này. Ở Đà Lạt không thể đếm hết có bao nhiêu quán cà phê. Đến đấy, sẵn chập chùng đồi dốc, sương mù, hồ và suối, thông, hoa, thú cà phê được thăng hoa. Đêm, trên  cao cao những ánh hồng thắp sáng vừa độ, tiếng nhạc nhè nhẹ vang, uống cà phê ngắm s thành phố mộng mơ. Trung tâm thành phố, có những gờ đất cao cao lãng mạn hoa, hàng quán cà phê như trong mộng. Cùng một thức uống, từng giọt cà phê mang đến hương vị riêng.

Xứ Bắc, nơi có những vùng trồng chè nổi tiếng, lại thú vị chất uống đượm nồng ấy hơn cà phê. Dân Bắc  mê mệt với thưởng trà từ nghìn năm cũ, thành trà đạo như bên Nhật vậy, theo cách riêng. Này ấm, này búp trà, rồi ướp, chế… Đủ công phu cho một thú thưởng thức. ở Bắc, ngay thủ đô, có những hàng chè từ sang đến trên vỉa hè cạnh cội cây, và từ chốn ấy hàng hóa chè tỏa khắp muôn phương.

Dân Nam ra Bắc chơi vơi tìm hàng cà phê, lúp xúp chạy bộ thể dục cả sáng mới tìm được chỗ uống cà phê, mà ly cà phê đá lại lèo tèo mấy viên đá nhỏ, nâu hay đen không đi cùng ấm chè lại chỉ một lý nước nóng nếu có yêu cầu. Nào có cảnh sáng sáng cả trăm nghìn vạn con người ngồi quán cà pê làm thủ tục cho đam mê  rồi mới bắt đầu ngày mới như trong Nam. Ở Bắc người ta ít uống cà phê và nếu có uống cũng không đến nỗi đắm đuối gì. Ngộ thiệt. Ở Lạng Sơn, có chú  bộc bạch: tụi em có tiệc tùng mới dùng cà phê. Sự kiện, biết dân Nam nghiện cà phê, nhà tổ chức bày riêng nước nóng và mấy gói cà phê chế  biến sẵn như trên máy bay, uống nhưng thấy sao sao… Cảm quan nhẩm tính, nếu trong Nam dùng cà phê 10, ngoài  Bắc chắc cỡ  1 hay 2, có cũng được, không có chẳng làm sao.

Cả thế giới dùng cà phê, Âu Châu thích cà phê từ rất sớm, theo chân người Pháp cà phê vào Đông Dương qua những đồn điền, ngưng tụ nhiều trong tiêu thụ ở miền Nam, dệt nên thú thưởng cà phê - dụng chữ như ngoài Bắc - không khác thưởng chè ngoài kia.

Cà phê Bắc, cà phê Nam…

 

 

 

Nguyễn Thành Công 

>> Đọc tiếp…

Sự hấp thu thành ngữ, tục ngữ, ca dao trong đời sống - Nguyễn Thành Công

Sự  hình thành thành ngữ tục ngữ ca dao trong kho tàng văn học dân gian VN có chiều  dài hàng nghìn năm, tích tụ không khác cách bồi đắp của phù sa, tạo nên vốn tài sản phi vật thể phong phú, sâu sắc, hấp dẫn thể hiện một phần đời sống tinh thần của giới bình dân Việt trong tiến trình lịch sử: những đúc kết, cô đọng, thu hoạch mang tính trí tuệ về mọi mặt đời sống.

Cũng như ở mọi quốc gia, kho tàng văn học dân gian được tổng hợp gìn giữ, nghiên cứu, phổ biến qua nhiều kênh, bao gồm giảng dạy ở các bậc học, xuất bản rộng rãi… Nếu thuở khai thiên lập địa, thời cổ, thành ngữ tục ngữ ca dao chỉ và chỉ sinh tồn trong không gian khẩu truyền, qua trí nhớ, ngày nay bối cảnh khác, sự lan truyền  qua hấp thu vốn văn  hóa ấy có hẳn kênh - như đã viết - giáo khoa, giáo trình, xuất bản đại chúng… Thế hệ xì - tin bây giờ biết nhiều vốn thành ngữ tục ngữ ca dao qua học đường, các phim ảnh, sách báo hơn là con đường khẩu truyền như ngày xưa. Ở bậc tiểu học, các thành ngữ tục ngữ ca dao được đưa vào nhiều ở chương trình Tiếng Việt, trẻ học thuộc lòng.

Tuy nhiên, con  đường khẩu truyền vẫn còn trong đời sống bình dân ngay thời hiện đại. Và, cách truyền khẩu thực tế ấy sống động, sâu sắc, khó quên bởi được dẫn dụ ngay khi có tình huống trong hiện thực, thành bài học. Tác giả bài viết vụng này có một số trải nghiệm.

Một lần, cụ bà thâm thúy ở quê, khi chứng kiến những cảnh huống đau lòng do ghen tuông tạo nên, đã dẫn lời xưa: “Nhất hậu hôn, nhìn điền thổ” - chuyện ngoại tình với người đời còn hơn cả điều vốn sanh tử ở quê: tranh chấp đất đai. Khi chứng kiến cảnh đánh ghen đổ máu trước mắt, nghe lời xưa không  khác “thuyết minh” thực không có gì thấm thía hơn.

Một lần khác, thấy cảnh cháu ruột quá ư chăm chút tài sản dù những vật mọn, đến thái quá: suốt ngày lau chùi, hết lượt này  đến lượt khác khiến người ngoài khó chịu, từ chiếc xe đạp cùi bắp đến TV, ông cậu phán: “lấy của che người, ai lấy người che của”, thiệt đúng cảnh, hay. Lời xưa lan truyền như vậy, ở ngay buổi hôm nay.

Một cụ bà trải đời, sống qua mấy thời đoạn lịch sử, khi chia sẻ với hậu sinh, đã cảm khái  nói “quê còn, vinh mất” - một khái quát sâu xa và có từ xưa cũ. Một cụ khác nay đã quy tiên, nôm na nhắc nhở con cháu lẽ sống ở đời vốn đã được đúc kết từ lâu: “Thương người như thể thương thân, ghét người như thể vun phân cho người”. Bằng cách sinh động, hấp thu thành ngữ tục ngữ ca dao trong đời sống qua khẩu truyền như vậy thấm sâu nhớ kỹ có khi hơn hẳn kênh giáo khoa ở học đường, trẻ đôi khi học thuộc máy móc mà không thấm hết các tầng nghĩa sâu sắc bên trong.

Thành ngữ tục ngữ ca dao đã khá lâu trở thành đối tượng nghiên cứu trong các đề tài sau đại học, nhiều công trình biên soạn đồ sộ đã xuất bản công phu ở các thời kỳ cả hai miền Nam Bắc, nhưng với tác giả bài viết này, chính cách truyền miệng như đã dẫn dụ lại thấm thía, hấp thu sâu sắc hơn  khi đọc cách khó khăn các công trình đồ sộ kia. Có lẽ bởi lý do đơn giản: bây giờ khẩu truyền thành ngữ tục ngữ ca dao là đúng “cơ chế” của  ngày xưa, từ khởi nguồn những câu đúc kết ngắn gọn kinh nghiệm sống, triết  lý đạo đức ngay đời sống ra đời, hấp thu như vậy tự nhiên hơn chăng?

Chỉ biết rằng nghe một lần, không thể quên. 





Nguyễn Thành Công 

>> Đọc tiếp…

Mười lăm năm Ông già Nam Bộ ra đi - Nguyễn Thành Công

Ngày 13/8/2008, tại Sài Gòn  nhà văn Sơn Nam vĩnh viễn ra đi, sau 82 năm sống trọn vẹn “một đời Nam Bộ” mộc mạc chân chất nhưng không kém phần thâm thúy  theo cách của Phương  Nam.

Cách Phương Nam trong ngôn từ, phong thái, nếp nghĩ, ở đời sống thường nhật và trước tác đồ sộ của một nhà văn, nhà báo, nhà khảo cứu.

Cùng các quyển sách của Bà Tùng Long, Hồ Biểu Chánh... được giữ ở một vài thư viện gia đình sau 30/4/1975, chú bé xíu là tôi khi ấy mê mải đọc những gì nhà văn Sơn Nam viết về vùng đất “của mình”: Bán đảo Cà Mau muỗi mòng, mặn đắng nước sông nước biển trong màu đước xanh um bám rể  nơi phù sa. Sơn Nam viết bằng chất văn khiến đứa trẻ tiểu học hiểu thấu, đi vào lòng, rõ ràng rành mạch thuyết phục. Sách khảo cứu của ông về bán đảo Cà Mau, vùng Nam Bộ thời trước được in trên giấy tốt trắng tinh, dày dặn, kèm theo thiệt nhiều bản đồ vẽ kỹ song ngòi kênh rạch cửa biển mô tả địa dư đồng bằng. Tôi nhớ như in đến giờ các trang tư liệu của ông dù mấy mươi năm chính bởi cách viết phù hợp “tông” tiếp nhận của người Nam Bộ của một tác giả vô cùng Nam Bộ đến mức thành danh. Những sông Cái Lớn, miệt Đầm Dơi, U Minh, Năm Căn… sống động trong các trang viết của Sơn Nam bởi tác giả viết từng con chữ trên nền lao động điền dã thực tế, bởi nguồn tư liệu chuẩn xác dồi dào được tham cứu, và nhiệt huyết giới thiệu về một phương Nam ông đã sinh ra lớn lên, thăng trầm đến mức dệt thành bút danh.

Sau này, lớn lên, tôi có cơ hội hầu như đi khắp vùng bán đảo, cả Nam Bộ, chạm vào từng con chữ nhà văn đã viết, chạm vào tâm hồn ông. Và, cho dù được tặng hẳn toàn bộ tác phẩm Sơn Nam xuất bản do mua bản quyền toàn bộ, đọc, song cảm xúc khó bì thời nhỏ miệt mài trên con chữ những quyển sách cũ cũng chính của ông viết.

Một dạo lâm vào khốn khó, đi dỡ nhà cho người ta lấy chút công, trong kho sách có những quyển của Sơn Nam thời cũ, và tôi mượn về để đêm dùi mài chép lại, vẽ lại những trang mình thích. Đấy mối tâm giao người đọc và tác giả.

Tập tành làm báo, một hai bước nhỏ trên con đường của ông, được đọc các câu chuyên ngoài lề về nhà văn mình thích và nép nghĩ lối sống của Sơn Nam trung thành với trước tác của ông: liêm chính, thanh bạch, càn lao chữ nghĩa, giữ kỹ hình ảnh ông già Nam Bộ trước biến thiên khốc liệt của thời cuộc vật đổi sao dời. Nếp áo cũ mòn nhưng sạch sẽ, cặp kính, phong thái khi giao tiếp chia sẻ… Bao nhiêu nhà báo trẻ, sinh viên, nghiên cứu sinh đã tìm đến ông như tâm thế tìm đến ánh sáng còn hiếm hoi của một nhà Nam Bộ học - cách dụng từ của tôi - để mong có tư liệu cần và họ đã không thất vọng, có người trân trọng trả thù lao cũng nhiều người không, đời sống nhà văn tiện tặn như nếp áo mòn nhưng sạch của ông vẫn mặc. Sơn Nam thường xuyên lên Sài Gòn đi xe ôm vòng vèo các tòa soạn hỏi nhuận bút, thu nhập ít ỏi nhưng là chính yếu của ông. Đến khi được mua tác quyền toàn bộ ông vãn không khá giả gì, vậy mà có thương nhân tặng mảnh đất 300 triệu để dưỡng già, nhà văn từ chối.

Vùng đất phương Nam có An Biên - Rạch Giá nơi Sơn Nam ra đời, vùng thiêng được mở cõi, một thời binh đao loạn lạc, muông thú cùng sương lam chướng khí cản ngại một đời sống an bình, thử thách con người. Người Việt ở đấy sinh cơ lập nghiệp cạnh dòng nước xiết, tiếng hổ gầm, cần lao mưu sinh và tỏa ra ánh sáng văn hóa đặc thù của vùng. Những người con ưu tú sinh ra chốn ấy đã hấp thu văn hóa đặc thù ấy, chia sẻ bằng con tim khối óc nhiệt thành, có một cái tên “Ông già Nam Bộ” Sơn Nam.

15 năm ông ra đi, thời gian còn mới tinh khôi đấy mà…

 


 

 

Nguyễn Thành Công

>> Đọc tiếp…

Nghĩ về sen - tản văn Nguyễn Thành Công

Ít ai không biết đến Sen, một loài hoa thanh tao bừng nụ trắng pha sắc hồng từ mặt nước, thanh thoát vượt lên những chiếc lá xanh rộng dập dờn. Sen - một nét đẹp cổ điển ở Phương Đông, mang tính biểu tượng bởi vẻ đẹp thanh khiết, đi vào thơ ca nhạc họa từ thuở nghệ thuật biểu hiện còn ghi lại trên mành trúc. “Trong đàm gì đẹp bằng sen, lá xanh bông trắng lại chen nhụy vàng, nhụy vàng bông trắng lá xanh, gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn” - những câu in dấu đẹp của một loài hoa trong văn học dân gian Việt, có tính triết lý răn dạy đạo đức qua biết bao đời.

Quả thực Sen đẹp: hãy ngắm xem, dù hoa nở trong hồ con con nơi sân vườn hay chỉ ở một chậu bé, hoặc đầm rộng, nhụy vàng bông trắng lá xanh đều tuyệt một vẻ đẹp thanh tao, trong trắng, mạnh mẽ mà dịu dàng. Từ mặt bùn non có khi khá sâu,  cọng sen không khác hoa súng có quan hệ gần gũi cạnh bên trong phân loại thực vật học, mầm sống vươn dần trong nước, từng chiếc lá non phủ xung quanh thẫm màu từng ngày. Đến độ, búp sen nhu nhú ưởn cái đẹp thanh khiết trên những chiếc lá, và nở hoa. Dưới ánh nắng bình minh, mưa rào, mặt nước lặng hay sóng nhẹ lăn tăn sen lại cho một nhân dáng khác lung linh.

Một dạo đi khỏi Hà Nội theo hướng Đông Bắc  cùng nhóm bạn, ra khỏi ngoại ô chưa bao xa đã thấy dưới những khoảnh ruộng ngăn ngắn tựa bàn cờ thi thoảng có những đầm nho nhỏ toàn sen, hoa nở tự nhiên như hoang dại vậy, đẹp đơn sơ. Ấn tượng sen ở Bắc Bộ đầu tiên đến như thế: sen ở trên đồng ruộng.

Ở thành nội Huế cổ kính thâm nghiêm - nơi từng là đế đô của Vương Triều Nguyễn, trầm tích lịch sử văn hóa sâu dày phảng phất, sen lác đác thưa thớt thôi trong hồ nước Lăng tẩm đền đài rêu cũ. Vài chiếc lá, chút hoa, ngắm không thôi. Vẻ đẹp của Sen đến từ phối cảnh cổ kính của đền đài lăng tẩm, cả không khí tĩnh lặng trầm mặc tạo phong nền cho vẻ đẹp một loài hoa thưa thớt sống ở những chiếc hồ kín được cẩn đá bốn phía, một cái gì đó xưa cũ lắm trùm lên mấy bụi sen… Gọi đấy “sen ở Miền Trung”.

Miền Nam, đến tận cuối đất mặn chát nguồn nước, sen vẫn trồng được bởi công phu lao động tạo nên những chiếc hồ trữ nước ngọt, hay đơn giản chỉ trồng trong chậu. Sen vẫn xanh lá, ra hoa, tốt tươi. Cái khác chính ở chỗ không thể tìm sen mọc như tự nhiên trên đồng hay nơi hồ đá cổ kính, ở trong Nam bà con mình trồng sen như hoa súng vậy thôi, trong các ao nước được đào thủ công. Vẫn là sen song phối cảnh địa lý, phông nền riêng của môi trường mang đến nét khác.

Chưa hết, con người từng nơi đối đãi với vẻ đẹp của sen cũng không đồng: nếu Miền Bắc bà con chuộng sen, mang ra chợ bán, vẽ tranh, thưởng trà bên sen và ướp trà trong hoa sen nữa, đời sống làng gắn với Đình, cây Đa, bến nước và đầm sen. Cảnh bậc cao niên tiếp bạn tri âm, tiểu đồng nhẹ dầm bơi xuồng con hớt từng ngụm nước sương đọng trên lá sen mang vào nấu nước pha trà đã là nét đẹp kinh điển ở đất Bắc. Thưởng trà, thưởng sen thuộc về thú vui tao nhã.

Trong Nam có vẻ như dù thích nét đẹp của sen song gu thẩm mỹ lại có khác đất Bắc. Chuyện tụ năm tụ ba ngắm sen hiếm thấy, và cho dù có ở ngay cạnh hồ sen đang hồi đơm nụ trổ hoa nhiều người cứ vãn có thói quen  ra chợ mua hoa tươi từ Đà Lạt: lay - ơn, cúc, hồng…về cắm trong bình, ít ai mang sen ra chợ bán hay cắm sen trong phòng. Ở quê có một hồ sen chu vi chừng 500 thước, khi hoa bừng nụ cả hồ không thể tính có mấy nghìn hoa sen, còn khi sen tạo hạt trong các đài xanh khi hoa tàn nhìn cùng tuyệt. Nhưng, như đã viết: không mấy ai hái hoa về chưng trong bình, nếu có đấy là mấy cô cậu bé. Nghĩ: giới bình dân trong Nam không mấy mặn mà với sen nếu so với bà con ngoài Bắc hay Trung.

Văn nghệ sỹ, trí thức cũng có khác trong sự thưởng sen. Một dạo quá cà phê Chuông Gió ở phường 5 Cà Mau, một chốn có tiếng trong kinh doanh thức uống đen do một anh vốn là giảng viên trường Dược mở: có rặng trúc, ao nước, gọng vó và xuồng con, nhiều cá cảnh. Các nữ nhân viên mỗi ngày trong sắc áo dài khác nhau tinh tế phục vụ. Ở đấy từng tổ chức một triển lãm ảnh nghệ thuật về sen khá xôm tụ tập hợp nhiều nhiều nhiếp ảnh gia. Sự kiện nghệ thuật như vậy về sen gần như là duy nhất cho đến bây giờ. Anh Sơn chủ quán, giảng viên trường Dược mang tâm hồn nghệ sỹ đã làm được chuyện hiếm hoi.

Thực ra sen không chỉ có mỗi loài “lá xanh hoa trắng lại chen nhụy vàng”, đường từ nội ô Bạc Liêu hướng về Vĩnh Châu có những đầm sen trắng tuyệt mỹ mọc như hoang dại  gần giống hình ảnh từng thấy qua cửa ô tô khi rời ngoại ô Hà Nội, nhưng nay người ta đã đổ đất san lấp xây cất công trình lớn, sen trắng không còn. Trong phân bố, Bạch Liên - sen trắng ấy ít hơn nhiều loài sen “lá xanh bông trắng…”.

Một bậc lão niên từng trãi vẫn du khắp mọi miền, uyên bác thâm thúy, nay ở Sài Gòn, đã nhận xét sâu trong một bài nói chuyện, về sen: ngoài Bắc người ta làm bao nhiêu chuyện vói sen, nào ủ trà, thưởng thức, ủ cốm trong lá sen, trong khi trong Nam cũng có sen bà con mình lại chẳng làm gì hết.

Ngẫm về ý cụ lão niên, đúng là ngay gu thẩm mỹ sự khác biệt vùng miền đã vậy, với loài sen.

Mỗi nơi mỗi khác…

 

 

 

Nguyễn Thành Công 

>> Đọc tiếp…

Cấy lúa mùa hạ ở ven đường - tản văn Nguyễn Thành Công

Nghề nông xứ mình đã có nhiều đổi thay từ phương pháp canh tác lúa, xen canh kết hợp nuôi tôm cá, đến sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực  vật, thay đổi giống… Miền Tây, khu vực đồng bằng lớn nhất nước và có tiếng trên thế giới về diện tích cũng như lịch sử lâu đời trồng cấy lúa nước nay đã có những thay đổi theo chiều hướng như vậy.

Từ trước 1975 cho đến sau giải phóng, phương thức canh tác cổ điển: cày ải bằng trâu, gieo mạ, cấy nọc hay tay. Một mảnh ruộng dành thửa đất tốt về độ phẵng, khả năng tích giữ nước, độ bùn; lúa giống để dành đem ngâm ủ cho đến khi mọc mầm đem gieo vào thửa mạ kia. Mạ lớn đúng độ, nhổ bó dăm trên  ruộng đều đặn cho thợ cấy dung tay hay nọc cắm xuống đất mềm, trồng lúa. Nọc - dụng cụ nhọn bằng cây- đâm xuống đất rắn lấy lỗ để cấy mạ xuống, đất mềm thì không cần.

Nông phu cắm cúi cấy lúa theo cự ly đã chọn: tầm 8 cây, mười cây, mười hai cây…  Khoảng cách dày hay thưa được tính toán tối ưu có sự phát triển của cây lúa, tốc độ nở bụi. Các thợ cấy giỏi, thâm niên sẽ hoàn thành công cấy với mảnh ruộng đều tăm tắp thành hàng xanh đẹp mắt của mạ mới.

Thợ cấy ngán nắng mưa, tuyệt nhất thời tiết dịu mát, nhưng nếu gặp mưa dầm nắng cháy cũng phải cấy, cắm cúi liên tục các động tác thuần thục: lấy mạ, bốc vừa đúng một bụi lúa, di chuyển… Cực nhọc trăm bề. Người giỏi có thể cấy xong một công tầm cấy trong ngày hay hơn nữa, tính ra con số bụi lúa vô cùng nhiều.

Phương pháp sạ xuất hiện sau này, ruộng chuẩn bị sẵn các khâu cày ải, nhổ cỏ, lúa giống ngâm ủ nẩy mầm mạ mang ra gieo thẳng lên mặt ruộng thay vì cấy, nhanh chóng gấp bội phần. mạ lớn nhanh phủ xanh kín mặt đất thay vì từng hàng thẳng tắp thân lúa như khi cấy. Sạ thay cấy là thay đổi lớn. Bây giờ ít khi thấy nhà nông cấy lúa, hình ảnh cấy tay hay bằng nọc lùi dần xa.

Bữa rồi đạp xe ở vùng ngoại ô thành phố, ven đường có những biền đất nho nhỏ xen trong khu dân cư, chợt thấy hai nông dân cắm  cúi cấy như ngày cũ, áo tơi, mạ xanh, động tác thuần thục. Mảnh đất hẹp đã sạ, mấy anh cấy dăm lấp vào chỗ trống. Xúc động hoài nhớ thời cũ, khác chăng cạnh  các anh không phải tiếng cúm núm, ếch nhái, ầm ì xe hơi qua lại trên quốc lộ.

Chút ruộng ven đường tính ra chỉ một góc đất, thu hoạch cũng không bao nhiêu lúa hạt, nhưng vào lúc khó như sau dịch sinh kế không thuận, vài giạ lúa khô cũng  ấm chái bếp đắp dổi qua ngày.

Mình thấy lạ, nhớ, còn với các cháu bé có lẽ phải giải thích nhiều bé mới hiểu “cấy” là như thế nào…

 


 

Nguyễn Thành Công

>> Đọc tiếp…

"Làm việc": Từ ngôn ngữ đến thực tế - tạp bút Nguyễn Thành Công

Trong tiếng Việt, từ LÀM VIỆC, đồng nghĩa cách nói MẦN VIỆC trong dân gian ở Miền Tây Nam Bộ, có nội hàm: hoạt động nghề nghiệp, lao động… Song lại có nghĩa hẹp: công tác, hoạt động trong khu vực nhà nước, tức chỉ của công chức viên chức - nghĩa hẹp này sử dụng phổ biến, như khi nói “tôi đi làm việc” hay “đi mần việc”  được hiểu đi công vụ, đến cơ quan nhà nước, thực  thi nhiệm vụ… Hướng này có nghĩa LÀM VIỆC là tác nghiệp đặc thù của cán bộ công nhân viên chức. Vác cuốc ra đồng làm nông, bốc xếp hàng hóa, xây dựng nhà cửa … cho dù về ngữ nghĩa vẫn có thể dung từ LÀM VIỆC. Song thực tế ít dùng như vậy, ở Miền Tây hoạt động như thế được chỉ bằng từ LÀM CÔNG CHUYỆN, MẦN CÔNG CHUYỆN để phân biệt với LÀM VIỆC trong khu vực nhà nước, việc công.

Từ khởi thủy xa xưa lắm, lúc xã hội có giai cấp rồi hình thành nhà nước phong kiến, trong ý thức và thực  tiễn có phân biệt rõ công & tư thành đẳng cấp: làm việc - như đang nói đến - tức quan nha của công sở các cấp thuộc triều đình, từ lãnh đạo đến nhân viên, từ TW đến địa phương phủ huyện, là tầng lớp trên cai trị. LÀM VIỆC là công vụ sang cả quan trọng khác hẳn LÀM VIỆC, MẦN VIỆC của nông gia, thợ thuyền hay việc nhà. Ở VN phong kiến, LÀM VIỆC ở các nha môn phủ huyện thuộc về bậc Nho sĩ đã qua các kỳ khảo hạch long trọng, cho dù chức việc bé xíu ở làng xã cũng vô cùng thơm tho vinh hạnh nên chuyện chạy chọt mua phẩm hàm chức việc ở các thời phong kiến là khá phổ biến theo tâm lý vẫn còn di chứng đến ngày  nay “một kẻ làm quan cả họ được nhờ”.

Xã hội không ngừng vận động, các triều đại  phong kiến Đông Tây làm lượt cáo chung trước đà tiến hóa, hình thành xã hội dân chủ với các hình thái nhà nước Cộng hòa cùng nền sản xuất mới. Đã khá lâu, ở các quốc gia phát triển cao như Mỹ hay Pháp, Đức, Ý…. Kinh tế tư nhân, khu vực hoạt động bên ngoài nhà nước rất hùng hậu bởi giá trị kinh tế vật chất, nhân lực, đem đến ảnh hưởng xã hội đáng kể cho con người LÀM VIỆC trong khu vực này về danh dự, quyền lợi. Họ được pháp luật bảo hộ không có chi khác với viên chức nhà nước. Cho dù ở các  xứ ở phát triển ấy, danh phận chính khách, từ nghị sỹ đến viên chức chính phủ, hay nhân viên thường vẫn được  trọng vọng qua nỗ lực học tập và thi tuyển, tranh cử, ứng cử rất sôi động, nhưng ranh giới công & tư, LÀM VIỆC  trong hay ngoài khu vực nhà nước không còn quá cách biệt như thuở xa xưa. Một ông chủ tập đoàn, hay chủ hiệu buôn, công nhân công ty… cũng mang đến danh dự và thu nhập không kém cỏi so với LÀM VIỆC trong khu vực nhà nước ở cùng vị trí lao động theo so sánh tương đối, các nghệ sỹ VIP và nhân vật nổi tiếng lĩnh vực khác có danh dự và tài sản vượt trội hơn cả các chính khách hàng đầu. Bối cảnh xã hội như vậy đã khiến không còn chuyện sinh tử cuốn vào cuộc đua LÀM VIỆC cho nhà nước để có bổng lộc danh dự vượt trội. Ở Mỹ, trở thành nhân sự một nông trang lớn, hay công nhân của hãng Boing... đã là vinh dự và đảm bảo cuộc sống sung túc không kém cảnh sát trưởng hay viên chức khác của dân cổ cồn ở các công sở.

Vận động xã hội không đồng đều, ở Á Đông tiến trình phát triển có khác, di chứng thời phong kiến còn sâu sắc ở từng nơi, ở lối nghĩ và cả thực tế cho dù thời phong kiến đã qua lâu và nền kinh tế với phương thức mới đã thành hình cũng không phải hôm qua. Ở VN, TQ và nhiều quốc gia Á Đông khác khu vực nhà nước và tư nhân còn rõ rệt về nhiều so sánh, đặc quyền bổng lộc của quan nha còn nhiều, khẩu hiệu “mọi công dân bình đẳng trước pháp luật” chưa hẳn được thực thi tốt như bên Âu - Mỹ nên tâm lý sinh tử tìm một chỗ trú thân trong khu vực nhà nước để LÀM VIỆC hãy còn. Cho dù chỉ là viên chức làng xã khóm ấp  mà thôi vẫn hơn nhiều làm nông hay thợ, cho dù thu nhập chính thức không bao nhiêu. Thời bao cấp, khu vực nhà nước trùm khắp đến bờ ruộng sạp rau ngoài chợ quê qua đủ hình thức tập hợp quốc doanh. Khu vực tư nhân teo tóp, ai cũng cố công có một chân nhà nước để có danh phận. Khi đổi mới mở cửa, tình hình có cải thiện với sự nẩy nở phát triển nhanh chóng của khu vực kinh tế tư nhân qua hoạt động sôi nổi của hàng nghìn công ty lớn nhỏ, các tập đoàn, hiệu tiệm và kinh tế hộ gia đình, thu nhập cùng danh phận công dân thường có thay đổi. Song đặc quyền của quan nha hãy còn, nên tâm lý và thực tế níu bám công sở để LÀM VIỆC vẫn còn cho dù không đến mức sinh tử như trước. Đã có tuy chưa nhiều các cử nhân thạc sỹ không chọn con đường LÀM VIỆC ở công sở để về quê LÀM VIỆC đồng áng, mở công ty, có thu nhập ổn và uy tín, danh dự. Đã có tuy chưa nhiều các tranh tụng pháp lý trong đấy bên công dân thường thắng kiện các pháp nhân và viên  chức nhà nước. Nhìn các nhân sự từ CEO đến nhân viên các chuỗi kinh doanh lớn LÀM VIỆC bài bản chuyên nghiệp hiệu quả càng thấy khác biệt trong thực tế vốn cố hữu trong từ LÀM VIỆC đã giảm - và đáy là xu hướng tích cực hợp tiến bộ xã hội: cho dù LÀM VIỆC ở đâu và công việc gì cũng có thể đóng  góp cho xã hội, tạo giá trị, có danh dự, không nhất thiết phải LÀM VIỆC trong khu vực nhà nước theo quan niệm xưa cũ lỗi thời.

Chỉ “luận” một từ  ngữ thôi đã đuối, mới thấy về ngôn ngữ và thực tế cái sự LÀM VIỆC cũng đa đoan lắm lắm…

 

 


Nguyễn Thành Công


>> Đọc tiếp…

Tình quê - tản văn Nguyễn Thành Công

Hồi đi học đã thấm yêu thơ Nguyễn Du, trong nhiều câu tạc dạ có những con chữ chân xác: “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” - cảnh đẹp hay xấu theo ý thi hào, không đến từ khách quan vật chất non nước mây trời cây cỏ, lại do chính tâm trạng chủ quan của con người!

Thích đi, đi nhiều, chạm vào từng lối mòn xa, đồi thấp, sông ngòi, ngắm không thôi, máy ảnh có sức nhớ bao nhiêu vẫn không thỏa bởi lòng cứ muốn chụp từng bước chân đi. Nhưng, có lúc về quê nhà, ngẫm lại: thiệt ra vân du xứ lạ có bao nhiêu cảnh có khi còn thua quê mình, nơi cũng có hồ sen thắm thiết xanh che kín mặt nước, vườn Sao dầu tươi tốt chim chuyền cành, kênh đào cuồn cuộn phù sa nối với biển, phố chợ sầm uất xưa cũ, những cánh đồng lác đác cánh cò trắng muốt bay là đà trong ánh mai… Một buổi đi qua chiếc cầu cạnh nhà có cụm đước phủ rễ trên bãi phù sa, rạch nhỏ xíu nuôi bày còng cùng máy chú cá thòi lòi, cùng thôn xóm bao năm gắn bó, đẹp chứ. Nhớ một bận ở Sài Gòn, ăn nhà hàng gần cầu Công Lý cùng bàn cô gái từ đất Bắc vào, biết  mình dân Bạc Liêu cố ấy nói: em có tới rồi, chỗ anh đẹp lắm. Nghe như vậy cũng có phần xấu hổ vì chưa từng khen quê nhà đẹp bao giờ.

“Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”, làng xóm có chuyện lục đục hoài, khích vách lắm khi không qua lại nói chi ngắm kênh rạch hay chiếc cầu như sáng nay. Khi bạn có tình cảm thân thương, láng giềng chòm xóm gắn bó, có nhiều kỷ niệm cạnh chiếc cầu, dòng kênh, mái nhà thân thuộc thì cho dù cảnh có bụi mù, cây lơ thơ lác đác thôi, vẫn thích và thấy... đẹp, còn khi lòng buồn bã, không thân thiết, lại thêm ký ức hiu hắt nào đó ám ảnh, dù có trên cao nguyên sương mù nơi vạn người tìm đến du ngoạn tràn hoa, thông reo suối chảy, vẫn không thấy đẹp - đấy chính ý thi hào Nguyễn Du, cái đẹp phong cảnh đến từ nội tâm con người. Quán vắng kia sẽ đẹp, lãng mạn biết bao nếu cùng bạn than bao năm cà  phê cà pháo hàn huyên chia sẻ, kênh kia sẽ nhớ hoài khi cùng nhau trên xuồng đến lớp, và lối mòn nhiều bụi cũng nên thơ khi tay nắm tay đi về cùng chia sẻ tuổi học trò.

Thi hào Nguyễn Du đã phát biểu một đặc điểm tâm lý thú vị về cảnh và người, một quan điểm mỹ học, chỉ với một câu thơ.

Khi có tình cảm, gắn bó sẻ chia thân ái, chính nơi bạn sống cũng đẹp cũng nên thơ không kém Đà Lạt hay Sapa, và mỗi ngày sống thực sự là một ngày vui cho dù đời sống đạm bạc kiểu nhà quê chân chất.

Cái đẹp ở chữ tình…

 

 

 

Nguyễn Thành Công 

>> Đọc tiếp…

Nhớ lắm trâu ơi - tản văn Nguyễn Thành Công

Đã khá lâu rồi, trên đường vân du để ý ít thấy trâu, rồi vắng bặt ở vùng đất từng gắn nông nghiệp với con trâu chiếc cày, và nhớ…

Quê ngoại tôi ở làng Phong Thạnh, đất thuộc thành khoảnh từ lâu chuyên canh lúa. Đến khi lập điền thành danh cho đến ngày nay: Điền Chủ Út, Điền Xã Úi, Điền Chủ Ngọc…

Trâu nhiều lắm, thành đàn. Cày, trục, dăm mạ, kéo lúa, đạp lúa..tất tất do trâu, gánh hết việc của máy kéo sau này. Chiếc cày với lưỡi thép  bén, trâu kéo ăn ngập xuống đất khô dưới nắng, từng bước trâu nặng nề cực nhọc lắm. Khi mạ lên xanh, đến thì, nông phu nhổ bó, chất lên cho trâu kéo dăm đều trên ruộng cho thợ cấy. Đến kỳ thu hoạch lúa gặt thành bó vàng ươm hạt, trâu kéo về sân, đạp cho ra hết hạt chỉ còn rơm. Các công đoạn để có hạt lúa vàng từ A đến Z đều chất lên sức trâu.

Vất vả vậy, nhưng trâu chỉ ăn cỏ thôi, hay rơm khô, nếu lỡ ăn lúa hay mạ sẽ bị đánh đuổi. Còn ngủ dưới hầm sình lầy… Không phải ngẫu nhiên khi có câu “cực như trâu”.

Có trâu cò màu trắng, thường trâu có lông đen, trâu con gọi là nghé. Leo lên lưng trâu như ngựa, rong trên đồng hoặc lội theo sông rạch về nhà, trẻ nhỏ cũng làm được. Trẻ con rất thích trâu, các bài đồng dao hát trên lưng trâu chính hình ảnh đáng yêu của một thời…

Cặp sừng trâu phát triển theo năm tháng, khi còn nghé ọ (trâu con) sừng nhu nhú như nhung hươu nai, rồi theo thời gian sừng rắn chắc cong cong giao nhau sắc nhọn. Trâu mà chém nhau nhìn hãi lắm, cảnh ngoài Bắc tổ chức chọi trâu ở Đồ Sơn chiếu trên TV nhìn đã khiếp.

... Những chiếc máy cày Liên Xô, Pháp, Áo… đỏ au, cồng kềnh thay dần công việc của trâu. Máy làm nhanh hơn nhiều sánh như chuyện máy dệt thay thợ dệt thủ công vậy, trâu vắng dần. Cũng không hiểu sao ngay ngoại ô Sài Gòn, các tỉnh mạn trên như Đồng Tháp, Tây Ninh và ngoài Bắc trâu hãy còn kha khá, từng đàn, còn mạn Cà Mau Bạc Liêu và hầu hết Miền Tây vơi vắng trâu? Máy kéo là một nguyên nhân, song có lẽ có những căn cớ khác: diện tích đáng kể đất nông nghiệp chuyển sang nuôi tôm…

Nhớ đàn trâu đủng đỉnh ăn cỏ trên đồng, về nhà bằng đường kênh rạch, cày ải giữa nắng… Con trâu, lũy tre, ngố lúa, đống rơm, chiếc xuồng ..hợp thành đồng quê.

Giờ, hình ảnh ấy vơi mòn…

 

 

 

Nguyễn Thành Công 

>> Đọc tiếp…

Giữ nét quê - tản văn Nguyễn Thành Công

Bữa rồi đi chợ Phó Sinh, một bổn phố bên bờ Quản lộ Phụng Hiệp  nằm giữa Phước  Long và Chủ Chí cùng thuộc tỉnh Bạc Liêu. Như mọi chợ quê khác trong vùng, có những tiệm giải khát, hiệu bán điện thoại, vải vóc… Ngang bến phà qua kênh có một cô bán bánh khọt  với vài chiếc ghế nhựa. Ngồi chờ nướng bánh, nghe mấy chị  em tám chuyện rồi nhìn đĩa bánh vàng ươm lạ lẫm: bánh khọt thường chỉ có màu hơi ngà thôi do bột chín dưới lửa, không vàng đến như bánh xèo thế này. Hỏi, nhóm mấy chị em ngồi cạnh cô chủ bán bánh trả lời thay: bánh khọt vốn không vàng đến vậy, nhưng một dạo có dân thành phố về ăn nói vàng mới đẹp mắt, thế là…

Thời buổi giờ chợ hay quê thông suốt, chuyện chấp nhứt như ngày xưa dễ bị cười, nhiều tiện nghi hay trào lưu ở quê còn ồn ả hơn cả thành phố. Quán xá từ bày biện đến trang phục nhân viên tân kỳ như thành phố lớn, cung cách phục vụ và thức ăn uống cũng vậy, không ai níu kéo tất tất phải như ngày cũ. Nhưng rõ ràng  quê chợ vẫn khác biệt, quê có nét hay riêng, đô thị cũng vậy, bù trừ cho nhau. Không phải vô cớ khi các đô thị có xu hướng quay về phong cách miền quê qua cung cách ẩm thực, trưng bày theo vùng nông thông Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ và hút khách. Những cá rô kho tộ, cơm cháy, canh chua bông súng với cô phục vụ áo bà ba khan rằn vấn vai toát hồn vía một văn hóa Miền Tây luôn được  khách hàng chuộng,  ngay cả bên trời Tây- nơi có bà con Việt Kiều sinh cư.

Chuyện bánh khọt ở bến phà Phó Sinh vàng như bánh xèo khiến lữ khách có chút muộn phiền khi nét quê bị vơi chao: không phải bất cứ cái chi phải như trên thành phố mới xịn xò, bánh vàng như thế trông lạ bởi không phải màu do bột chín dưới lửa, cô chủ đã pha bột nghệ vào khá nhiều.

Nét quê, từ chiếc nón lá, xuồng con, bến nước, hủ dưa cà… hợp thành một bản sắc khiến người xa quê tận bốn phương trời đêm nằm phải nhớ chỉ mong chóng được quay về. Tiền bạc không mua được, công nghệ không thay thế được. Phân tích hơi bị khó, chỉ cảm được một cái đẹp lãng đãng qua chiếc bánh ú lá tre, cánh vó đung đưa và cả màu hơi vàng một chút của chiếc bánh khọt nướng bằng vỉ đất nung dưới than hồng.

Về Phó Sinh, bên bến phà nhìn ra chợ, thưởng thức dĩa bánh khọt vàng ươm không khác màu bánh xèo có ai hụt hẫng không?

Anh người thành phố nào đấy khuyên cũng ác thật, vậy mà cô bán bánh vẫn làm theo để vơi chao một chút nét quê…




Nguyễn Thành Công

>> Đọc tiếp…

Một thoáng Quảng Ninh - tản văn Nguyễn Thành Công

Sài Gòn nhịp sống sôi động, hàng hóa dồi dào, một trung tâm giao thương; Đà Lạt lãng đãng mộng mơ trên cao cao; Cần Thơ thủ phủ miệt đồng bằng; Hà Nội cổ kính nghìn năm cũ… Nước Việt mến yêu trãi dài chỗ nào cũng mang  nét riêng cuốn hút từ địa dư, xã hội, văn hóa, kinh tế, lịch sử.

Quảng Ninh cũng vùng Đông Bắc tổ quốc không chỉ có kỳ quan Hạ Long huyền hoặc, vùng đất miền man núi đồi cùng hồ nước, rừng xanh cách không xa thủ đô, lại cận biên thùy phía Bắc được thiên nhiên phú vẻ đẹp độc đáo mà nếu khám phá một lần bạn sẽ khó quên.

Có nhiều đường đến thăm Quảng Ninh, nếu theo đường bộ từ Hà Nội bạn tha hồ ngắm đồng ruộng hai bên, những ô khoảnh ngay ngắn tựa bàn cờ khiến dân Miền Tây bỡ ngỡ dù  cả đời gắn với đồng lúa. Thi thoảng xuất hiện những đầm sen mãn nhãn.. Chẳng mấy chốc đã chạm vào vùng đồi núi trập trùng.

Quảng Ninh có địa thế cao. Nghỉ mấy đêm ở thành phố Uông Bí, ngày tha thẩn thăm thú, trên đường nội ô đã thích thú với những cung dốc thoai thoải và càng ra xa dốc càng nhiều. Thế đất đặc thù, từ đồi xanh nhìn xuống sông Bạch Đằng lượn qua đã choáng ngợp bởi hồn thiêng sông núi của nghìn năm lịch sử. Phía dưới mặt đất ở một khu vực của thành phố trẻ là than đá-  khoáng sản nổi tiếng này tập trung ở Quảng Ninh.

Đến Hạ Long, bảo tàng tuyền màu đen với kiến trúc hình khối, một biểu tượng của vùng đất. và từ đấy nhìn ra vịnh Hạ Long… Bạn sẽ trải nghiệm khu du lịch Tuần Châu với các tiết mục hoành tráng biểu diễn trên nền nhạc nước như bên Sentosa (Singapore) gồm cả màn xiếc kỳ thú của cá heo. Ban đêm xem nghệ thuật ở sân khấu lớn ngoài trời có cái gì đấy rất gần Sentosa.

Quảng Ninh mang một phần của vòng cung Đông Triều, khi dừng  ở Mạo Khê trước khi tiến sâu vào vùng núi đồi có nhiều suối, trúc, và hiện còn loài Thông cổ quý hiếm - một loài Thông khác với Thông Đà Lạt. Đón bình minh trên cao với sương mù cùng tiết lạnh thực thú vị.

Trên đường bạn sẽ b ắt gặp những hồ to ngay khu vực núi đồi, nước sạch trong veo và vắng, lại có sẵn thuyền nan.

Vùng than Quảng Ninh tuyệt mỹ ở địa đầu tổ quốc, ngõ sân bay Vân Đồn  giúp khách phương xa dễ tiếp cận hơn khiến bạn có nhiều thời gian để trãi nghiệm.  Nơi ấy có cái gì đấy của Đà Lạt cao nguyên, Sentosa cùng nhiều nét riêng quyến rũ.

 


 

Nguyễn Thành Công


>> Đọc tiếp…

Tiếng Việt trong ngôn ngữ bảng hiệu - Nguyễn Thành Công

Đã thành hình về phân loại ngôn ngữ trong tiếng tiếng Việt thành kiến thức học đường: ngôn ngữ sinh hoạt, báo chí, chính luận, khoa học, hành chính… Tiếng Việt sống động trong các trang viết và đời sống thường nhật  có khi vượt lên trên các phân loại, cho thấy sự phong phú của thực tiễn. Trong đấy, có thể kể đến ngôn ngữ biển hiệu.

Nếu lại sắp xếp, có lẽ ngôn ngữ biển  hiệu nghiêng về phong cách ngôn ngữ sinh hoạt: nôm na, bình dân, đa sắc màu.

Ở đâu cũng có biển hiệu, từ logo khủng đi cùng danh phận một công ty lớn, thiết kế sơn vẽ công phu, đến tấm biển nhỏ xíu vẽ vụng trên ván đính vào thân cây trên đường làng, hết thảy thuộc về thế giới biển hiệu của hoạt động kinh tế.

Nếu biển hiệu các công ty bề thế được chăm chút thiết kế và thể hiện chuyên nghiệp, thì lô nhô hàng vạn vạn biển hiệu của các cơ sở nhỏ, chỗ mua bán - dịch vụ ở hẻm phố thôn làng lại tùy nghi viết vẽ có khi gây cười, khó hiểu và chuyện sai chính tả là… bình thường.

Đến vùng miền địa phương nào bạn cũng chạm trước tiên vào thế giới biển hiệu dù đến bằng phương tiện gì, “thế giới” ấy thông báo địa chỉ, ngôn ngữ vùng miền, cả văn hóa qua lối thể hiện.

Dân Miền Tây, nhớ lần đầu ra Quảng Ninh, tập thể dục buổi sáng trên các phố ở Uông Bí, nhìn hoài các tấm bảng sơn “ở đây có cho vay lãi suất thấp”, khi đấy trong quê không có lối viết này, thường viết đại loại như “hiệu cầm đồ”, “có cho vay không cần thế chấp”, còn “cho vay” mà “lãi suất thấp” khá sốc.

Một dạo thăm cù lao Tân Quy ở Vĩnh Long, đi lòng vòng giữa các tàng cây ăn trái xanh mướt, chợt thấy tấm biển gỗ đính lên thân cây kèm mũi tên “ở đây có rượu nếp than” thực ấn tượng bởi mộc mạc từ câu chữ đến lối viết, cũng như con người chốn này.

Xứ mình, ở Miền Nam, trước và sau 1975 cho thấy khác biệt lớn trong ngôn ngữ biển hiệu nằm trong sự thay đổi chung. Trước 1975, các biển tiệm quán luôn dùng dấu gạch nối ở những từ ngữ cần mà học đường đã qui định: công - ty, thương - mãi, ngân - hàng… Lượng từ gốc Hán - Việt dùng nhiều hơn hẳn ngày nay. Thời ấy, biển hiệu tiệm quán chuộng đắp chữ nổi hay đã sơn vẽ thích lối chữ chân  phương nghiêm cẩn.

Kinh tế thị trường, biển hiệu xuất hiện và mất đi hàng ngày do cuộc làm ăn thịnh suy, nhu cầu về biển hiệu khiến ngành sơn vẽ thiết kế biển trở nên ngành không nhỏ khi đã làm ăn, tấm biển thuộc về yêu cầu đầu tiên.

Biển hiệu mang một phần của ngôn ngữ tiếng Việt.





Nguyễn Thành Công

 

>> Đọc tiếp…

Muôn màu sắc chuyện bán xôi - tản văn Nguyễn Thành Công

Xôi, nếp nấu - hấp gói với đường, món ăn đường phố phổ thông của người Việt, thấy dân dã song cũng có nhiều chuyện để “bàn” cách thú vị, vì hầu như ai ai cũng thấy mình có biết đến, từng trải nghiệm.

Ở Nam Bộ món ăn từ gạo nếp đi cùng nông phu theo đuổi mùa màng và luôn sẵn sàng ở hầu hết mái tranh quê: cơm nếp. Vo nếp, bắp lên bếp, nạo dừa, có món ăn nóng hổi no lòng dẻo thơm, một biến thể gần gụi với cơm tẻ ngày hai bữa. Cơm nếp mang ra đồng, vắt đem theo độ đường xa, cho học trò nghèo đến lớp… Cơm nếp căn bản vậy. Cơm nếp ăn với đường, dừa là công thức chính, nấu nếp còn nhiều biến tấu để tang sự ngon, bớt ngán: dừa nạo vắt nước cốt cho thẳng vào nồi cơm nếp thay vì trộn lên nếp sau khi chín, cơm nếp ăn với các thức như bữa cơm: cá kho, thịt… Và, khi nấu cũng trộn thêm đậu xanh tạo nên chút thay đổi khẩu vị.

Xôi có khác: thay vì nấu như cơm, nếp vo cho vào xửng nhôm hấp chín bằng hơi, công phu hơn, và ngon miệng hơn, hạt nếp chín bởi hơi nóng thực đẹp mắt. So với cơm nếp dân dã, xôi - cũng từ nếp nguyên liệu - lại có vẻ “sang” hơn.

“Sang” nên món xôi chiếm các đường phố, vào tiệm, trước  cổng trường, cùng tiếng rao khắp thôn làng hay theo xe đẩy dọc các con đường sẵn thức đỡ lòng mọi người với giá bình dân nhất.

Xôi “cơ bản” cũng trộn với dừa khô nạo hay nước cốt dừa, ăn với đường. nhưng xôi được gói bằng nhiều cách: lá chuối, bánh tráng, bánh kẹp… “Giấy gói” tạo thêm  hương vị cho món xôi. Gần đây, lại thay lá chuối bằng hộp xốp, ăn với nguyên liệu mặn như trứng, thịt, chả - món xôi mặn.

Hành nghề bán xôi cũng nhiều bề tùy hoàn cảnh: có người chỉ cần chút nếp, than củi, lò, nấu chín cho vào xịa cùng tiếng rao hay cũng chẳng cần rao, đặt trước cổng trường hay chợ, thành nghề. Thực ra đấy là món cơm nếp chứa không phải xôi.

… Còn hấp xôi bằng xửng nhôm, cho lên xe đẩy, vào quang gánh, dừng lại điểm bán bày ra mấy chiếc ghế con con lại “chuyên nghiệp” hơn.

Ở quê, quen thuộc món cơm nếp gọi nâng tầm lên thành xôi, một  dạo lên tỉnh lỵ, trông cô hàng xôi hạ gánh trước cổng trường Trung cấp kỹ thuật nghiệp vụ thông tin (Bạc Liêu) thiệt lạ, cô gái xinh, ăn nói nhẹ nhàng, nam nữ sinh viên tề tựu điểm tâm trên những chiếc ghế thấp dưới tán cây, nhìn thấy xôi cũng không phải quá dân dã bình dân, cũng... ra dáng lắm! Nhớ đến ngôi trường ấy, lại nhớ đến cô hàng xôi đến giờ lại bày trước cổng trường, áo bà ba, nón lá bài thơ… Mấy cây số nữa, bỏ Trà Kha ra trung tâm chợ, ngay bến xe buýt, có chú bán xôi trên xe đẩy gỗ, nhiều xửng trắng phau, cùng các thức ăn kèm, chủ mở nắp xửng khói bốc lên trông hấp dẫn tợn. mỗi xửng là một món xôi: xôi gấc, xôi nếp than, xôi đậu… tha hồ chọn và đủ giá cho một suất: mười nghìn, mười lăm, hai chục…

Sài Gòn cũng nhiều xôi, một lựa chọn điểm tâm ít tiền cho mọi người. Trước cổng Đại học KHXH và NV, bệnh viện Nhi Đồng… đều có gánh xôi. Sáng sớm xe đẩy mang theo xửng xôi đạp trên đường đến các điểm bán - nơi tập trung đông người.

Ngoài Bắc, xôi lại càng nhiều. Uông Bí, ngay từ tinh sương, ở chợ đã có các xe đẩy bán xôi nóng hổi: các cô chú bác có lẽ ra đường cùng thời khắc dân thể dục.

Xôi cũng có thể bán “độc vị” nhưng lắm khi kết hợp cùng bắp nấu: hàng xôi bắp - cũng đều món bình dân.

Ở xứ mình, có lẽ không có học sinh sinh viên nào thời đi học lại không biết đến xôi, hình ảnh ngôi trường có cô hàng xôi dãi dầu cùng năm tháng.

Xôi, cũng có nhiều chuyện để “bàn”… 





 

Nguyễn Thành Công


>> Đọc tiếp…