Home » Trần Quang Khanh
- Trang chủ
- |
- Giới thiệu
- |
- Quy ước
- |
- Tác giả
- |
- Thư ngỏ
- |
- Lá thư Bông Tràm
Tác phẩm kỷ niệm 10 năm hoạt động của Bông Tràm, có sự góp mặt của 50 tác giả với trên 100 tác phẩm. Sách dày 312 trang, khổ 13 x 19 cm, giá 100.000 đồng.
Đó
là lớp người không ngừng nỗ lực, tạo được những tác phẩm thơ có giá trị lâu dài
trong người đọc. Tính từ sau giải phóng 1975, những người làm thơ có thể kể Phạm
Thường Gia, Phạm Hữu Quang, Phạm Nguyên Thạch, Trịnh Bửu Hoài, Hồ Thanh Điền,
Nguyễn Lập Em, Nguyễn Thị Trà Giang, Trần Thế Vinh, Trương Công Thuốt, Lê Thanh
My... Kẻ trước người sau lần lượt được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam.
Tất
nhiên, trong vườn hoa văn học sẽ có những hoa sen, hoa quỳnh, dạ lý... Sẽ có những đóa hoa “hữu sắc vô hương” như
hoa giấy từ chối danh vị, phẩm hàm, chẳng cần khoa trương mà chỉ cảm thấy hạnh
phúc trong việc sáng tác một cách âm thầm, lặng lẽ... Từ đây cho thấy tiến
trình dòng chảy của Văn học An Giang luôn giữ được nét thăng hoa, thơ An Giang đã
góp phần vượt trội, tạo nền móng cho những tín hiệu khởi sắc và triển vọng kể từ
sau 1975 đến nay.
Năm
2021, vô cùng phấn khởi khi Hội Nhà văn Việt Nam kết nạp hai hội viên mới là
Nguyễn Đức Phú Thọ (chuyên ngành Thơ) và Lê Quang Trạng (chuyên ngành Văn học
thiếu nhi), chiếm tỉ lệ 2/4 hội viên ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long kết nạp
cùng đợt. Niềm vui tiếp niềm vui, An Giang lại là tỉnh đầu tiên của khu vực
thành lập được Chi hội Nhà văn Việt Nam tại tỉnh An Giang. Những gương mặt tiêu
biểu, nổi bật nhất của văn học tỉnh nhà đã có một “ngôi nhà chung”.
Bằng
nguồn lực vận động và được Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy đồng hành, Liên hiệp các Hội
Văn học Nghệ thuật An Giang hỗ trợ, Chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh An Giang đã tập
hợp tác phẩm gồm văn xuôi và thơ của các nhà văn Việt Nam ở An Giang để xuất bản
tuyển tập có tên "Từ quê làng biên giới" (Nxb Đà Nẵng, 2022). Đọc tuyển
tập, người viết xin được mạn phép ghi một vài dòng cảm nghĩ về các bài thơ được
chọn in trong tuyển tập ấy...
Nhà
thơ kỳ cựu Hồ Thanh Điền, với 7 tập thơ và hai lần giải Nhì cuộc thi Thơ ĐBSCL
các năm 1999, 2006 góp mặt cùng chùm thơ: Thế kỷ đi về, Ngày Bác về, Rụng một
bông xoài.
Như
có một lòng tin son sắt vẫn tồn tại âm thầm mà mãnh liệt nơi ngòi bút của thi
sĩ - Tâm trạng quyến luyến, tri ân, trân quý
luôn thường trực trong tâm trí Hồ Thanh Điền:
“Lẽ nào anh thôi hát
Những bài ca Tổ quốc
Những bài ca bạn bè
Những bài ca tình yêu”
Một
thời tuổi trẻ gắn với chiến tranh, sống rồi yêu trong mỗi khoảnh khắc sự sống
và cái chết cách nhau đầy ngắn ngủi. Trong tình yêu chung có nỗi đau riêng, nỗi
đau nơi tâm hồn của người làm thơ có sự lắng đọng nỗi đau chất ngất, quặn thắt
tâm can, ruột gan của người mẹ liệt sĩ, của anh em, bạn bè đã rời bỏ cõi tạm,
hy sinh vì đất nước...
“Lẽ nào
anh không hay
Có hoàng hôn chia tay
Có mùa đông thế kỷ
Lạnh mấy vầng mây bay
Cõi về. Thì anh về
Những người thân thiết cũ
Thắp một nén nhang nghe
Lóe mùa sang gió hú”
(Thế kỷ đi về)
Nói
đến đề tài chiến tranh ở vùng đất phía Tây Nam Tổ quốc, là phải nói đến những
bài thơ vô cùng ấn tượng của Trần Thế Vinh - nhà thơ của
vùng Thất Sơn (Bảy Núi), của những núi Dài, Tức-Dụp, Cô Tô... -
mảnh đất đã đau đớn bao lần, lớn lên từ mưa bom bão đạn...
Khởi
nguồn từ câu hỏi phát vấn, khơi gợi đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, nhà thơ xứ
núi mở đầu câu chuyện:
“Xào xạc nỗi lòng hỏi người đã khuất …
Phiến đá trăm năm
Có cùng người xưa thao thức
cảnh đời
Âm dương hai cõi đất trời
Chu kỳ sáng tối làm nơi tao
phùng”
(Trò chuyện cùng người đã khuất)
Nhà
thơ nói chuyện với người, hay nói đúng hơn là với “hồn người” -
cái thuộc về tinh anh khi con người đã mất... Hay chỉ là cái cớ để làm cuộc về
với tâm tưởng, mình độc thoại với mình:
“... Đá khóc
cùng người cách mạng gian lao
Hỏi chú Mười có về thăm địa
đạo?
Hay dì Út còn nương náu trời
xanh
Về tắm Ô Thum trong lành
Xóa vết chiến tranh dựng
thành điểm sáng
Tức Dụp bây giờ lãng mạn...”
Bút pháp như tái hiện một trường liên tưởng, như đang
trò chuyện với hai nhân vật điển hình “chú Mười” và “dì Út”. Dòng tư tưởng cứ
chảy trôi theo bao cảm xúc như là bất tận,thâu tóm dẫn về khổ thơ 4 và 5. Đó là
những hình ảnh của huyện miền núi Tri Tôn - vùng đất giàu truyền thống cách mạng
của đất biên viễn An Giang với nhiều địa danh lừng lẫy đi vào sách sử: Quả đồi
“2 triệu đô-la” - Tức Dụp; suối Ô Thum; căn cứ quân sự Ô Tà Sóc… Nhà thơ đã vận
dụng liên tiếp nhiều phương pháp ẩn dụ, hoán dụ, nhân hóa tạo ra trường thi ảnh
độc đáo, sống động: “Công viên hít thở, phím đàn” hoặc “Mắt lá… hé cười chơn chất”;
“Núi chở nghĩa ân, suối mát lòng người”...
Khép lại là hình ảnh biểu cảm lắng đọng nét nhìn lạc
quan pha lẫn niềm tự hào, thành kính:
“Tự mình đá trổ hoa xuân
Mời cô, rước chú… về mừng đoàn
viên”
Dòng cảm xúc theo mạch tuôn chảy khi tôi chạm vào thơ
Trịnh Bửu Hoài - Nguyên Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh An Giang, một người
từng làm quản lý văn học, một ngòi bút đa tài, viết trải dài với nhiều thể loại.
Ông đã xuất bản 57 đầu sách. Trước năm 1975 nhà thơ đã chủ trương và chủ bút
nhiều đặc san, tạp chí: “Khai hoang” (1967), “Đối diện” (1968), Khai phá
(1969), Khuynh hướng (1970).
Ở độ tuổi sang thu, Trịnh Bửu Hoài đã khơi sâu dòng
triết lý nhân sinh trong rất nhiều tác phẩm. Ấn tượng đậm nét nhất có lẽ là bài
thơ “Khoảnh khắc”:
“Tôi đi tìm gương mặt khả ái mỗi sớm mai
Để có một ngày đáng yêu
Để có một người đáng nhớ
Trong dòng đời cuộn chảy
Tôi giữ trong lòng mình vẻ đẹp
suốt ngày hôm ấy
Mặc cho thời gian trôi
Mặc cho nắng gió bên trời
Chỉ mình tôi trong sương
khói cuộc đời
Có điều gì đó thật mong manh
Mà ta không hủy hoại được
Có điều gì đó thật vĩnh hằng
Tan biến trong lòng nhau khoảnh
khắc…”
Gói gọn trong 12 câu thơ theo thể tự do theo dòng ngẫu
hứng là cuộc hành trình đi tìm và lưu giữ cái đẹp - cái đẹp dường như thật mong
manh, dễ tan biến giữa “dòng đời cuộn chảy”... Để rồi tác giả “giữ trong lòng
mình vẻ đẹp suốt ngày hôm ấy” và luôn cảm thấy cô đơn, quạnh quẽ: “Chỉ mình tôi
trong sương khói cuộc đời”.
Sống trong kiếp người, vẫn còn đó những hạn chế của
con người trong đời thường “thật mong manh” nhưng “mà ta không hủy hoại được”.
Cách chuyển xưng hô từ “tôi” sang “ta” thật sắc nét. Ta là tôi, tôi cũng chính
là ta, dù riêng hay chung vẫn là một bản thể trữ tình của người thi sĩ - yêu
cái đẹp và trân quý, nâng niu cái đẹp.
Ở nhà thơ Phạm Nguyên Thạch - một ngòi bút lão luyện
trong nghề, sáng tác từ những năm 1963. Ông là người đã phát hiện và dẫn dắt
nhiều cây bút giàu tư chất đạt được những thành tựu nổi bật,
về sau trở thành những đồng nghiệp, bạn viết của ông...
Nhà thơ Phạm Nguyên Thạch vì thế được tín nhiệm trong
vai trò Chi hội trưởng Chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh An Giang từ buổi đầu vận động
cho đến khi thành lập. Ông là tác giả của nhiều tập thơ có giá trị cao về mặt
nghệ thuật. “Từ quê làng biên giới” tên tuyển tập này cũng là tên một bài thơ
ông viết về địa danh Ba Chúc, nơi chịu đựng nỗi đau thảm khốc, kinh hoàng của nạn
diệt chủng Pol Pốt, nơi một thời chỉ có máu, nước mắt và những xác, sọ người vô
tội...
“Ở đây tiếp tiếp nhà không mái
Nghìn cột cháy đen chỏi mái
trời
Gió quật chuốt mòn đá núi
Tây Nam bây giờ, biên giới
ơi...
...
Gạch ngói ngổn ngang, bàn
chân xốc
Giặc tan, nền cũ ai về
Máu người trộn đất còn hơi bốc
Em về nhà, lấy mái nào che?”
Tác phẩm là lời tố cáo sự hủy diệt của chiến tranh.
Bên cạnh đó có lời ca ngợi sức chịu đựng bền bỉ và ý chí kiên cường của người
dân Ba Chúc nói riêng và nhân dân An Giang anh hùng trong kháng chiến vệ quốc
nói chung.
Nhà Mồ Ba Chúc giờ đây còn lưu giữ tội ác của giặc! Mỗi
lần đưa bạn bè trở lại đây thăm viếng, tôi vẫn luôn ngậm ngùi chứng kiến những
giọt nước mắt lặng rơi. Những xương, sọ người được phân loại theo tuổi, có cụ
già tuổi tám mươi, có đứa bé chỉ mới vài tháng tuổi...
“Thương nhà cũ nối xóm làng ngày cũ
Người chưa nguôi viên đạn giặc
xé đời
Mỗi căn nhà như trái tim
không ngủ
Ai giã bàng vang nhịp đập
sinh sôi”
Sao hiểu hết từ bóng râm dân
dã
Tôi sững sờ. Núi lại màu
xanh
Cây xanh đá, rễ tảo tần, đùm
bọc
Ba Chúc lặng thầm vá thương
tích chiến tranh”
Sống trong cảnh thanh bình, an lạc hiện tại có ai nghĩ
đến công lao, sự hy sinh cao cả của biết bao chiến sĩ xông pha trong cuộc chiến
đẫm máu đầy tang thương chết chóc, khói lửa ngút trời và biết bao số phận vô tội,
vùi mình oan ức nơi nỗi đau thống khổ tận cùng, nào ai dễ nguôi ngoai? Điều
đáng cảm phục ở đây là tinh thần vượt khó, vượt qua tàn dư của chiến tranh. Con
người Ba Chúc - xứ sở biên giới An Giang vẫn cứ thế kiên cường...
Chùm thơ Phạm Nguyên Thạch toát lên nét sáng tác cẩn trọng,
tâm huyết. Cách chắt chiu chọn lọc ngôn từ gợi hình và biểu cảm. Từ cảm
xúc thật cho đến những câu thơ lắng đọng.
Cứ nén chặt những âm ỉ, chất chứa khôn khuây.
Hiếm hoi trong tuyển tập là một giọng thơ nữ, quê ngã
ba sông Châu Đốc với vẻ đẹp trữ tình, đằm thắm và man mác buồn. Chân dung Lê
Thanh My hiện ra với chùm thơ: Mùa sau, Cho một ngày mưa, Lời thực.
"...và bây giờ
rất thực
trước mặt chúng ta là viên
đá nhỏ
điều gì đã khiến bàn chân ngập
ngừng
Nói lời xa lại quá ngại ngần
lặng im
để nhìn khác đi về một chân
trời mộng
lòng biển xanh luôn có
sóng"
(Lời thực)
Tài chẳng đợi tuổi, Nguyễn Đức Phú Thọ gây nên sự chú
ý đặc biệt khi trở thành thủ khoa Văn toàn quốc trong kỳ tuyển sinh Đại học -
Cao đẳng năm 2007. Ít ai ngờ, chỉ vài năm sau "thủ khoa" trẻ gia nhập
làng thơ và trở thành gương mặt mới triển vọng, gây nên sự chú ý.
Năm 2011, anh được chọn là 1 trong 3 gương mặt đại diện
“Thi quán phương Nam” của Sân thơ Hiện đại, tại Văn Miếu, thủ đô Hà Nội.
Tuổi trẻ nhưng thơ lại đậm đặc màu triết lý, ngẫm suy
về dòng đời, nhân dạng, tâm tưởng... Chùm 3 bài: Vỡ, Đốm sáng, Bông cúc đỏ -
mang nét hiện đại, tươi mới trong ý thức diễn đạt.
“Gió tước hết những chiếc lá bạc màu
Mùa thu trả về yên lặng
Vườn đêm qua một cơn mưa lắng
Hạt chồi tách hương
Dòng sông rẽ đôi bởi cung đường
Cỏ ri ri tiếng dế
Giọt nắng đầu tiên đã vỡ
Trên mắt người
Ngủ mê"
Ba câu thơ cuối vỡ ra thành ba dòng thơ thật tinh gọn
trong cách dùng phương thức chuyển đổi cảm giác ẩn dụ. Một sự thức tỉnh, hay sự
tuần hoàn theo chu kỳ của dòng đời. Thơ Nguyễn Đức Phú Thọ mượn chuyện xa nói
việc gần, bàng bạc thân phận và bao nỗi buồn, khắc khoải. Trong “Đốm sáng” được
viết từ một chuyến ghé thăm Nghĩa trang thai nhi, anh viết đầy ám ảnh:
“Những đứa trẻ túa ra từ đêm
chúng chạy nhảy thành một
vòng tròn
chúng chạy nhảy xuyên qua
đám cỏ
đôi mắt sâu như những ngọn
gió
Chúng
nhìn tôi”
Nhân vật trữ tình như ở một góc cuộc đời, nhìn sâu
vào nội tâm, bên trong mình. Phải chăng
số kiếp người thi sĩ là cứ phải đào sâu, cứ phải đối mặt trực diện với thế giới
nội tâm, với chính mình, mới tìm thấy được sự giải thoát?
Mỗi một tác phẩm sẽ mang nhiều tầng nghĩa, nhiều cung
bậc cảm xúc khác nhau. Mỗi người viết có sự nội cảm và lối sáng tạo, dẫn dắt
thuộc về riêng họ. Những thế hệ nhà thơ của một vùng đất biên viễn phía Tây Nam
cứ nối tiếp nhau, sống và viết, trải nghiệm và chắt lọc từ lịch sử, từ đất - nước
– gió - lửa, từ quá khứ và hiện tại, từ nỗi bất hạnh, khổ đau và cả niềm hạnh
phúc, bình yên... Như những chiếc lá vàng sẽ vun đắp cho lộc xanh nảy nở trên
cành. Từ trong nứt nẻ, khô cằn lại ngập tràn những sắc hương, lại khao khát
dâng đời bao mùa văn chương đẹp.
Trần Quang Khanh
Tài đâu đợi tuổi. Tài là do “thiên phú”. Đã xuất hiện không ít những văn nhân, danh sĩ vang bóng ở cái tuổi còn non trẻ. Cây bút Vĩnh Thông đã vào cái nghiệp viết lách ở độ tuổi trung học. Chỉ vài năm sau, anh đạt giải Nhất cuộc thi văn chương Thủ Khoa Nghĩa (2015). Trước đó, 2014 – giải III cuộc thi Truyện ngắn Tp. Cần Thơ và gần đây là giải Tác giả trẻ của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam 2018.
Vĩnh Thông sinh năm 1996, người Châu Phú – An Giang, đã theo học Khoa Văn hóa học – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh). Cây bút trẻ này đã sáng tác rất khỏe, đa dạng với nhiều thể loại: Thơ, truyện ngắn, tùy bút, biên khảo, nghiên cứu thật công phu về các địa danh lịch sử, thắng cảnh ở vùng đất Nam Bộ…
Cầm tập truyện ngắn mang nhan đề “Chạm đến tinh khôi” (Nxb Dân Trí, 2020) anh tặng khiến tôi ngẫm suy nhiều thứ. Đầu tiên, về từ ghép: “Tinh khôi” (Theo từ điển “Từ và ngữ Hán - Việt” của Nguyễn Lân) thì chiết tự “tinh” mang ý nghĩa nói về sự trong trắng nhất, hoàn hảo nhất, tốt đẹp nhất, chữ “khôi” mang nét nghĩa về tròn đầy, viên mãn, tươi sáng. Trong truyện thơ “Lục Vân Tiên” của Nguyễn Đình Chiểu, có câu:
“Số con hai chữ khoa kỳ
Khôi tinh đã rạng, tử vi thêm lòa”.
Như vậy, “Chạm đến tinh khôi” nghĩa là chạm đến vẻ đẹp trong trẻo, thanh khiết, tươi sáng nhất. Nét đẹp như sự hồi sinh, mới lạ, trong sự trọn vẹn khơi gợi mạch nguồn chưa ai chạm đến. Suy ngẫm ấy đã thôi thúc tôi tìm đến tập truyện “Chạm đến tinh khôi” và truyện ngắn cùng tên, xem như cuộc hành trình tìm đến nét “tinh khôi” đầy bản lĩnh của một tác giả trẻ.
Cốt truyện bắt đầu từ việc tái hiện cảnh huống đời thường mà trong chúng ta ai cũng đã và sẽ nếm trải. Một cuộc gặp gỡ ngẫu nhiên trong ba ngày xuất phát từ nhân duyên trên hai giường bệnh nằm cạnh nhau của hai bệnh nhân (Nhân vật “tôi” và nhân vật “nó” – “đồng bệnh tương lân”?)
Dẫn dắt diễn biến tâm trạng của nhân vật “tôi” được diễn tả theo phương thức độc thoại nội tâm xuyên suốt câu chuyện kể của một người đàn bà đã đánh mất thiên chức, người mẹ bất hạnh “đã từng có một đứa con, nhưng chưa… nhìn thấy mặt nó”. Nhìn sang giường bên chợt nhớ về đứa con của mình nếu còn sống đến nay cũng trạc tuổi đứa bé mang tên “Tinh Khôi” (do nhân vật tôi tự đặt theo ý thích). Ngòi bút trẻ Vĩnh Thông đã hóa thân vào nhân vật “tôi”, phân bày những cảm nhận của mình về nhân vật “nó” với cách gọi bằng cái tên thân thương “Tinh Khôi”.
Thực ra, ở đây tác giả đã dùng hai đại từ phiếm chỉ “tôi” và “nó”, theo lộ trình điều trị của hai bệnh nhân. Nhân vật “tôi” chờ bác sĩ chẩn đoán, xét nghiệm để có định hướng điều trị; còn nhân vật “nó” (Tinh Khôi) thì đang hồi hộp, bồn chồn chờ phẫu thuật vì chẳng may trời cho bạo bệnh nan y không theo chu kỳ: “Sinh- lão- bệnh- tử”.
Bố cục xây dựng chặt chẽ, trong bút pháp tạo cảnh có đan xen nội tâm, nhà văn trẻ thật tài tình, giàu suy tư khi đưa người đọc vào thế giới của “địa ngục trần gian”: “Tiếng khóc la đau đớn của người bệnh, tiếng bàn tán của người thân, tiếng rổn rảng của bánh xe băng ca, tiếng inox khua nhau khi di chuyển xe dụng cụ y tế.”… Để rồi mọi thứ “hợp lại vỗ ràn rạt vào buổi sáng cong cớn nắng – một buổi sáng không hề yên bình như lũ chim đang khúc khích đùa ngoài ban công. Mà nơi đây thì có ngày nào gọi là yên bình?”... Cách sử dụng ngôn từ, cách chọn lọc thật chắt chiu các. Từ láy rất tương thích với văn cảnh - “ràn rạt”, “cong cớn”, “khúc khích “mang giá trị gợi cảm, và tái hiện hình ảnh, có đan cài khéo léo thủ pháp so sánh “như lũ chim đang khúc khích đùa ngoài ban công” - ẩn chứa tâm hồn của những kẻ vô tâm...
Cách bố trí các tình tiết của truyện thật hợp lý, được liên thông mạch lạc. Đó là cách diễn tả tâm trạng của tác giả cũng thật tinh tế, trong dòng cảm xúc: “Tôi chưa vội báo cho gia đình…”. Cho dù đang bị muôn vàn áp lực từ các tác động của bệnh viện - “Bên tai, tiếng loa gọi tên người bệnh vẫn vang đều đều, dội vào tường chan chát, tôi nhớ đến những người bạn… rất lo lắng cho tôi và tỏ vẻ bất an khi để tôi một mình ở bệnh viện…”. Nhân vật “tôi” luôn dành hết tình cảm cho những người bạn đang tiếp tục chuyến du lịch “có lẽ họ cũng chẳng vui vẻ gì trong những ngày tiếp theo của chuyến đi, trong khi có người bạn còn kẹt lại dọc đường”. Hãy nghe cách độc thoại của tác giả - “Tôi tự trách mình, phải chi đừng tham gia chuyến du lịch này…”
Còn về nghệ thuật tả người thật chân thực và sinh động- chẳng lê thê, rườm rà mà cốt yếu khắc họa nét chính của tâm hồn, ánh mắt. “Hai hòn mắt trong veo óng một lớp long lanh, tươi tắn như hai giọt sương mùa thu đỏng đảnh đọng lại ban sáng trên rìa lau lách tịch mịch xa xăm. Đôi mắt hồn nhiên và hoang dại sau đêm sương đầm đìa đồng cỏ”
Thật gợi hình và biểu cảm, nên dồi dào sức thuyết phục về nét cuốn hút tiềm ẩn của một nét đẹp có chiều sâu nội tâm của nhân vật “Tinh Khôi”.
Trong đời ta, có rất ít những cuộc gặp để lại dư âm đậm nét như vậy. Có vẻ như hai nhân vật “tôi” và “Tinh Khôi” ấy đều có nét dễ gần, dự cảm cho nỗi niềm quyến luyến khi biết bao giờ mới có trở lại cuộc hạnh ngộ ấn tượng ấy. Thiết nghĩ – chúng ta cần biết những minh chứng về thiện cảm của nhân vật tôi:
“Con bé vẫn đôi mắt sáng và nụ cười hiền khi gặp bất cứ ai trong phòng. Gặp y tá, con nhỏ cũng líu lo hỏi đủ thứ chuyện. Thỉnh thoảng lại còn nghe nó thì thầm những câu hát đầy lạc quan. Dường như chẳng hề có căn bệnh quái ác, chẳng hề có cái đầu không tóc,… Một sự sống mong manh, vô vọng sau ca mổ não… đang trực chờ ở phía trước”.
Chính sự cảm nhận sâu sắc đó, tác giả bộc lộ niềm nể phục: “Khái niệm buồn đau không hiện diện: Đứa con gái ấy đã dạy cho tôi rất nhiều, về bài học lạc quan.” Ở đây, toát lên một tâm hồn thanh thản yên bình. An nhiên tự tại. Như đã thấu hiểu, thấu cảm được sự an bài của số phận. Dường như cô gái ấy đã tìm ra và kê biên được các chỗ dựa hạnh phúc, cõi an lạc ẩn sâu bên trong bi kịch đau khổ của dòng đời.
Không gian tĩnh lặng của tâm hồn. Tất cả thăng hoa, vượt thoát lên trên những nỗi đau đớn, khổ lụy của đời thường. Cho nên có được cái nét cự phách, bản lĩnh kiên cường ấy đã đạp đỗ cái tâm tính bạc nhược, yếu đuối khi rơi xuống bên bờ vực thẳm thua hơn được mất.
Thế nên, tác giả đã bộc bạch, một cách thẳng thừng: “Tôi biết tên nó, nhưng tôi thích gọi nó theo cái tên mà mình tự đặt, là Tinh Khôi”. Ngòi bút Vĩnh Thông như đã xóa sạch tâm tính hẹp hòi, chỉ biết nghĩ tới mình – chẳng quan tâm tới nỗi buồn, sự ham muốn, tị hiềm đối sánh của những người khác quanh ta. Trước đây “tôi thù ghét cuộc sống, đến độ tự nhắc với lòng rằng trong xã hội này không còn có ai là con người đúng nghĩa nữa. Những rồi nhiều năm trôi qua… tôi đã thấy trong cuộc sống này, “người” vẫn nhiều hơn “con”…” - Đó là suy tư đậm sắc nhân văn, đầy sự già dặn của nhà văn trẻ.
Dường như ngòi bút trẻ này luôn cảm nhận được quanh ta vẫn còn nhiều người tốt, đáng trân quý. Và vẫn có biết bao mảnh đời bất hạnh. Họ luôn hoài vọng được như mình mà không sao có được. Vẫn còn hàng vạn người chưa bằng mình…
Có nhân duyên, có hiểu nhau, con người sẽ thích sống gần nhau, hòa quyện cuốn hút nhau như lực hút của thỏi nam châm. Đoạn kết của truyện xoay quanh nỗi lo về ca phẫu thuật của Tinh Khôi: “Trong cơn mơ, tôi thấy một bìa rừng chạy dài hun hút, xa xa thấp thoáng một ánh mắt tinh khôi”. “Thế là chiếc băng ca được đẩy đi, nó còn nói với theo: “Có duyên thì mình gặp lại, cô hén”. Tất cả khép đóng câu chuyện với cuộc chia tay hết sức cảm động, qua cách diễn tả rất Nam Bộ của nhà văn trẻ An Giang: “Tôi nói không tròn câu, nước mắt không thể nuốt vào trong được nữa, nó rơi rồi”. Tình huống trữ tình kết thúc truyện thật dạt dào cảm xúc nghẹn ngào.
Đến đây, tác giả đã dành cho bạn đọc một trường liên tưởng về đoạn vĩ thanh của câu chuyện về cô bé mang tên “Tinh Khôi”. Đứng trước viễn cảnh hết sức khổ sở và bi đát vô cùng, nhân vật “Tinh Khôi” được Vĩnh Thông khắc họa như một mẫu người đã “ngộ cảm” được con đường đi đến cõi tĩnh lặng, ánh sáng tươi đẹp của tâm hồn.
Thật vô cùng ung dung và vững chãi.
Hầu hết các mẩu chuyện của Vĩnh Thông đều đậm đặc bút pháp hiện thực, với nét chân thực- trực cảm chan hòa bên ngoại diện lẫn linh hồn tác phẩm, tác giả đã tạo nên nét riêng thu hút bạn đọc của mình. Một ấn tượng, thành công đáng kể.
Hầu hết các truyện trong tập đều lấp lánh một tinh thần chung và bút pháp nổi trội đặc sắc như vậy. Câu chuyện về các giá trị gia đình truyền thống, truyền đời (Đức Lưu Phương, Bên miếu Cổ Nhơn, Thần làng Năng...) hay về con người, ký ức, những nỗi đau đáu nhân sinh, tình thương yêu sâu đậm (Đường về thăm thẳm, Neo đời, Đi qua bến đời người, Còn có yêu thương...) hòa quyện vào nhau, chân thực và sâu lắng.
Tuy truyện thiếu độ dài nhưng có được chiều sâu triết lý. Tất cả xuất phát từ tấm lòng. Từ niềm đồng cảm dẫn đến nỗi xót thương. Bức thông điệp chung - “Chạm tới tinh khôi”đưa độc giả đến bờ bến tươi sáng, chiêm nghiệm ra những mấu chốt giữ nên chất lửa thường trực tâm hồn.
Có phải xót thương cũng đồng hành với niềm khích lệ, an ủi xoa dịu vết thương lòng của mình. Trong chúng ta chắc hẳn không sao quên được lời phân bày hết sức nồng nàn, êm đềm và cũng rất đỗi tha thiết của danh sĩ Phạm Quý Thích (1760 - 1825). Một lời khen buồn khi đọc những vần thơ Kiều của Nguyễn Du:
“Nhất phiến tài tình thiên cổ lụy
Tân Thanh đáo để vị thùy thương”
(Chỉ vì tài tình mà ngàn năm còn vương mang phiền não, bi lụy/ Truyện Tân Thanh này vì đâu mà đau đớn lòng đến vậy?)
Vì ai mà Thảo Đường cư sĩ thương cảm? Phải chăng có nghĩ đến “kiếp đoạn trường” thương tủi cho phận mình? Đọc được lời hay: Chạm tới tinh khôi như đã giải mã lụy phiền. Đã sở hữu kim cương vàng ngọc quý vậy!
Ngày xưa, danh sĩ Cao Bá Quát đồng cảm với hàm oan của Nguyễn Công Trứ. Nho tướng Nguyễn Công Trứ lại thấy thương cảm cho Nguyễn Bỉnh Khiêm. Trạng Trình- Tuyết Giang phu tử “rùng mình” trước nỗi oan, vụ án thảm khốc “Lệ Chi Viên” của “Ức Trai” Nguyễn Trãi- “tâm thượng quang khuê tảo”...
Thật là bao kiếp số bất hạnh như thông lụy trần đời! Hãy cứ để: “Vạn sự do nhân duyên”. Vạn đời do nhân - quả trong vô lượng kiếp đời. Hãy hài lòng với thực tại. Chớ đọa đày, nhấn chìm chính bản thân trước thử thách, khổ lụy, bi thương. Luôn cảm nhận những niềm vui nhỏ bé, chân thành, gần gũi. Đồng thời luôn tạo tinh thần nhập cuộc vượt qua những chuyện bất ổn, như mở ra khung trời mới cho cuộc đời.
Còn ở đây, nhân vật Tinh Khôi trước khi ra đi đã gieo lại cơ duyên lành cho người ở lại. Người có tâm đức sẽ luôn là người sống có ích cho cuộc đời này. Cho dù cuộc đời họ luôn vướng víu lụy phiền.
Tóm lại, như một nhánh gai gây nên cảm giác nhức nhối. Có “lâm nạn” mới tìm được cách “giải cứu”. Ở đó, sự trưởng thành về nhận thức sẽ lớn dần cũng như mức độ chữa lành của vết thương trên một phần tâm hồn, da thịt... Cho đến lúc những tác động đó được gỡ hẳn ra khỏi cái phần sống còn lại lớn lao kia. Được quẳng đi cho lăn lóc hòa lẫn với cát bụi vô nghĩa và lạc loài, lòng yêu thương, sẵn sàng chấp nhận hiện tại sẽ rơi vào quãng trống mênh mông, thong dong và bình thản. Điều đó cho thấy cần phải chấp nhận một sự đánh đổi nghiệt ngã mà con người đã phải vương mang. Tất cả đều có căn cơ riêng – nguyên cớ riêng luôn tiềm ẩn. Có điều, ai sẽ cất công đi tìm đáp số? Hay chỉ thuần túy trong cách nghĩ về duyên kiếp, đã được định vị trong một chừng mực thời gian nào đó, với nhân vật Tinh Khôi: “Có duyên thì mình gặp lại”.
Thật chẳng có gì là quá quan trọng...
Có ai hoàn trả được thời gian?
Trần Quang Khanh
(Cảm nhận thơ Phạm Nguyên Thạch in trong “Tuyển tập kỷ niệm 10 năm
2011-2021” của Diễn đàn VHNT Bông Tràm)
Phạm Nguyên Thạch
Một trong những cánh én đầu đàn trong vườn xuân văn học An Giang – nhà thơ Phạm Nguyên Thạch – ông còn có bút danh Yên Uyên Sa, là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, nguyên Phó Chủ tịch Hội Văn học - Nghệ thuật An Giang, Phó Tổng biên tập Tạp chí Thất Sơn. Ông đã sáng tác từ trước năm 1975. Từ năm 1986 đến 2019, đã có những tác phẩm tạo tiếng vang được xuất bản: Ngôi nhà lợp ngói âm dương (1986), Theo tình (1994), Gió (1999), Thị trấn đá (2002), Mưa ảo (2019).
Một trong những bài thơ nổi bật nhất mà tôi cảm nhận từ “Tuyển tập kỷ niệm 10 năm thành lập” của Diễn đàn VHNT Bông Tràm là thi phẩm với nhan đề “Vật vã cơn hè”, của mảnh hồn luôn đau đáu với nhiều kỷ niệm “khô”:
“Mặc nhễ nhại mùa nắng cứ lửa trải dài
Nơm nớp kỷ niệm khô trong hộp giữ lâu năm mất nắp”
Thời gian mùa hè như mắc cạn trong không gian oi ả của một niềm riêng u ẩn, lắng sâu bên trong cái lò lửa không gian. Xa rời kỷ niệm hay muốn níu giữ hồi ức… Cả một vùng trời kỷ niệm… nên nhớ hay nên quên?
Vẫn còn đó nỗi phân vân, day dứt. Chưa an lòng… Chủ thể trữ tình đang trong tâm trạng khắc khoải, ôm ấp một hoài bão đẹp đang còn ở phía trước:
“Chẳng cách gì bỏ được của tặng cho hết nhiệm mầu
Tôi gánh quen thuộc còng lưng đi vào mùa phía trước
Nơi đây mọi điều cứ như điều ước…”
(Phía trước)
Bàng bạc niềm đau đáu trong bài thơ “Phía trước” lại khắc tô điều kỳ vọng ấy.Tất nhiên nhân vật trữ tình chẳng bao giờ trông chờ vào “chủ nghĩa thần bí”. Ở đây, nhãn tự “cố” đã điểm chỉ cho một cuộc cách mạng (Thay cũ đổi mới thực tại với niềm ao ước cái mới phải có nét thăng hoa hơn cái cũ). Thế nên mới có đôi câu thơ:
“Tôi cố ngớp khỏi nồng oi gay gắt
Trông chờ quan tâm hồi tỉnh những mê man”.
Thế rồi nhân vật “tôi” tiếp tục cuộc hành trình. Đó là dòng hồi tưởng khoảnh khắc đẹp, hạnh phúc:
“Tôi dắt tôi quen lại chỗ từng gần
Từng giữ ghế hạnh phúc lặn vào khoảng mát
Phía đó là chỗ ngồi hả hê chim rối rít
Tin tưởng vai nhờ…”
Một chỗ dựa vững chãi lòng tin của bờ vai, giữ vai trò là nơi neo giữ bình yên.
Một thoáng thong dong, tĩnh lặng.Một cảm giác êm dịu.Thật dễ chịu, “hạnh phúc lặn vào khoảng mát”. Phương thức chuyển nghĩa ẩn dụ, thật tinh tế.
Bố cục bài thơ theo chiều kích của bút pháp đối lập. Phần đầu là chặng đường hạnh phúc thật hoan hỉ tương phản với phần sau là tấn bi kịch đời thường mà biết bao người từng đã đi qua:
“Sóng chạy túa vòng số không trùng điệp
Thân yêu vuột mất tăm
Biết làm gì trước rác rến ngập mắt mình!”
Ở đây, dường như nhân vật “tôi” đã bị tan biến bởi “sóng chạy túa vòng số không”, sóng gió đã giăng giăng, bủa kín vòng đời. Các quan hệ thân thiết ngày xưa như đã cắt tuyệt, biến mất nhiều phần trong tỉ lệ thẩm định tình cảm. Không tách rời quỹ đạo hành xử: “Sông có khúc, người có lúc”. Con người chẳng khác gì chất thải. Khi đã hết niên hạn sử dụng sẽ bắt đầu sự chuyển đổi khác? Những câu thơ theo cách nói ẩn dụ thật đa chiều kích liên tưởng. Có thể cảm hiểu ở đây là một lời nhắn gửi ý nhị của nhà thơ Phạm Nguyên Thạch trong tình người, cần giữ lấy lẽ sống ân nghĩa…
Tất cả mạch nguồn ngẫm suy được dẫn về khổ thơ cuối với nỗi trăn trở, hết sức đau lòng:
“Nắng lóa tối tăm ảo ảnh đâu đâu
Tôi chúi xuống ký ức vốc cũ càng hôn cho sặc sụa
Đâu đó tiếng giễu cười như dao cứa
Có mưa đâu mắt mũi ước ròng”
Với thể thơ tự do, mỗi dòng thơ đều được chắt lọc từ vốn sống từng trải của một cây bút đậm đặc chất trữ tình, luôn ôm ấp khát vọng về chân lý “nhân – quả” vốn công bằng và nhân ái. Không theo quy ước kiểu thông lệ, bài thơ thật giàu hình ảnh và dạt dào cảm xúc, Yên Uyên Sa đã gửi đến bạn đọc niềm rung cảm thiết tha về lý tưởng sống đẹp, sống nặng tình nặng nghĩa để những kỷ niệm đẹp luôn được bảo tồn trường cửu, “không phải cái hộp đã bị mất nắp” để rồi rơi vào bi kịch lụy phiền “lãng quên quá khứ nghĩa tình”. Hãy giữ cho nhau lòng yêu thương-giữ cho nhau tình đời,tình người bền vững nhất quán trong mọi quan hệ.
Trần Quang Khanh