“Chầm chậm chiều”, hồn thơ còn ngân mãi - Nguyễn Lập Em

Nữ sĩ Thảo Vi (cô giáo Hồ Thị Huỳnh Đào) vừa xuất bản (hồi tháng  8. 2022) tập thơ mới CHẦM CHẬM CHIỀU, cũng là tập sách thứ 5 của chị.

Nữ sĩ Thảo Vi đã đến với văn chương từ rất sớm, thời gian không thua kém thời gian chị tham gia ngành sư phạm. Chúng ta thử quay lại, của 40 năm trước, từ thời thanh xuân của chị, năm 1982 chị đã viết, và năm 1986, nữ sĩ đã đoạt giải Ba cuộc thi thơ do ngành Giáo dục tỉnh An Giang kết hợp Hội Văn nghệ An Giang tổ chức với bài thơ MỘT TIẾT.

Sau mấy mươi năm, chúng ta thử đọc lại nguyên vẹn bài thơ đoạt giải văn chương này của nữ sĩ Thảo Vi, để biết rằng, nữ sĩ đã trung thành với phong cách và bản sắc của chính chị trong CHẦM CHẬM CHIỀU.

MỘT TIẾT      

Anh hỏi tôi: Sao là một tiết?     

Tôi không biết trả lời “một tiết” là sao     

Trong nghề tôi chỉ hiểu đơn sơ     

Một tiết là bốn mươi lăm phút giảng bài trên lớp.           
     

Một tiết không chỉ đủ đầy năm bước     

Có cả giọng hát, tiếng cười, lời khuyên nhủ yêu thương       

Một tiết sao cho em hiểu tận tường         

Bài học mới, mới lòng em thêm chút 
       

Một tiết có khi là cánh đồng xa hút       

Sóng lúa xanh như sóng biển xanh         

Có nắng mưa hoa trái trĩu cành         

Ngày mùa vui ngọt ngào câu hát 
       

Một tiết với thật nhiều con toán       

Giải phương trình nghiệm số trong tầm tay       

Đường cong, đường thẳng, góc nhọn, góc đầy       

Nối lại thành rộng dài đất nước 
       

Một tiết cùng về bốn nghìn năm trước       

Trống Ngọc Hồi tiếp pháo Điện Biên       

Lửa Mê Linh rực nắng Ba Đình       

Đẹp hơn cả là Mùa xuân đại thắng           
       

Một tiết đi vào hồn em sâu lắng       

Hiểu đậm đà câu hát thuở nằm nôi     

Hồn Nguyễn Du, cụ Chiểu bồi hồi       

Câu thơ Bác sáng ngời khí phách 
     

Một tiết nối liền bao khoảng cách   

Tri thức loài người chấp cánh em bay    

Một tiết hôm nay cho Tổ Quốc ngày mai     

Tôi gởi trọn bao điều mơ ước!
                                          Năm  1982 - Thảo Vi
           

Nữ sĩ Thảo Vi (cô giáo Huỳnh Đào) đem vào thơ sự giản dị, chân phương, những ý nghĩ mộc mạc về nghề, về những gì mà chị cảm nhận trong đời sống và việc làm của một người giáo viên dạy môn Sử của dân tộc mình như vậy. Chị đã không mục đích làm thơ, không chủ ý dụng văn chương ở đây mà chỉ là những giải bày tình cảm, những nói lên cảm nghĩ và cảm nhận của mình về cuộc sống và công việc giảng dạy của mình.

Nữ sĩ Thảo Vi trong tập thơ CHẦM CHẬM CHIỀU, sau 40 năm làm bạn với văn chương, cũng vẫn là chính chị, không câu nệ chữ nghĩa, bút pháp, không chạy theo thay đổi nghĩ và cách viết. Chị tâm sự "Mình viết theo lối cũ, chủ yếu là mình thích viết cho mình, viết theo sở thích của mình. Và dĩ nhiên cũng có bộ phận người đọc và dễ đồng cảm". Tôi đọc tập thơ vừa mới ráo mực in này của chị, không hy vọng tìm ở chị gì đó của trào lưu thời thượng văn chương hiện đại, hậu hiện đại như ở các tác giả văn thơ khác trong tỉnh và cả nước, mà đúng là tôi cũng chỉ muốn đồng cảm với nữ sĩ, nghe TIẾNG THƠ của nữ sĩ ngân lên, những tiếng lòng của một người thơ, một đời thơ đằm thắm, hiền dịu và mộc mạc, chân phương, thương yêu… như nhà lý luận Lê Huỳnh Diệu nhận xét (trong TRANG THƠ THẢO VI - Miền xanh ngọc), tải trên fb của tác giả này. Làm sao mà khác được, vì tâm hồn nữ sĩ Thảo Vi vẫn cứ thấy thân thương và thiết tha với những gì chị sống và trải qua gần cả đời người, đến CHẦM CHẬM CHIỀU?

Chúng ta đọc CHẦM CHẬM CHIỀU của nữ sĩ Thảo Vi, bất ngờ ngẩn ngơ với những hình ảnh rất đời thường gần gủi, lại rất nên thơ mà lâu lắm rồi chúng ta mới gặp lại "Mẹ nấu củi tre, khói loang mái bếp, khói ấm chiều đông, khói thành sương mỏng hóa mây lên trời (Quê hương tuổi thơ tôi), "tiếng chim hót và mảnh trời xanh ngoài cửa sổ/ trong lành như bầu sữa ngọt thơm môi... Nắng ban mai trải nhẹ khắp sân nhà/ đàn bướm trắng đuổi nhau/ bay vòng quanh hoa mướp nở/ bay vèo vào giấc mơ con... Dịu dàng tiếng chim cu trong bụi tre già trưa nắng chát/ con trốn vào lòng mẹ vểnh tai nghe ... Nơi bắt đầu quê hương là mẹ/ nơi tận cùng thương nhớ nở hoa" (Nơi bắt đầu quê hương là mẹ), "Con nhớ ba, nhớ những tiếng tơ đồng cứ lắng động ngân nga/ cung bậc bỗng trầm âm vang đêm vắng.../ Ba hóa thành người nghệ sĩ trong con..." (Nhớ ba), thì tôi hình dung, nữ sĩ không phải là người chân chưa từng đi xa vạn dặm trong đời và cái đầu chưa biết gì đến những ẢO của các kỹ thuật số hiện đại 4.0... của thế kỷ thứ 21 này, lại quay về với ký ức ngày xưa của người mẹ, người cha (có thể đã không còn nữa của chị), và sẽ không có sự trau chuốt ngôn từ nào ở đây, một thay đổi mới mẻ nào ở đây, một chuyên nghiệp điêu luyện kiểu "xiếc chữ" nào ở đây có thể thay thế được nỗi niềm tha thiết mong được còn mãi những đời thường nhất đã có và đã mất đi bằng cách nói giản dị nhất từ trái tim và nỗi lòng của kẻ làm thơ như nữ sĩ Thảo Vi.

Và cũng với cung bậc cảm xúc ấy, nữ sĩ viết cho người chồng thân yêu của mình, mà nữ sĩ vẫn thường ví von “CHỐN BÌNH YÊN" trong cuộc đời của nữ sĩ “Tôi yêu vạt nắng ngoài sân/ yêu tiếng chim hót cành gần cành xa/ yêu hoa nở trước sân nhà/ yêu người ngồi khẩy khúc guitar buồn “ ( Tôi yêu)

Trong mái ấm gia đình đó, dĩ nhiên không phải lúc nào cũng bình yên. Hạnh phúc nào cũng có cái giá của nó. Anh chị có được ngày tháng hạnh phúc hôm nay là kết quả của quãng đời thăng trầm, họ biết dựa vào nhau để vượt qua bao khó khăn trong cuộc sống: “Anh vô tình  làm em khóc/Đất trời cũng khóc/ mù mưa../Đêm em thức với cơn đau/mới biết mình cần nhau hơn thế!”. Hạnh phúc hôm nay, luôn được anh chị vun đắp bằng những kỷ niệm dấu yêu: “Tiếng đàn anh thấm thía giọt mưa ngâu/ tí tách gọi thời gian trên mái lá /... Thời gian có chở tôi về chốn cũ... (Tiếng đàn anh). Đó là XÓM GIỮA quê chị, nơi ươm mầm cho mối tình để nên vợ thành chồng của nữ sĩ Thảo Vi, thì như vậy, dù giờ đây, đôi lứa có thể đã nhà cao cửa rộng, có thể đã bạc trắng mái đầu, với một mái ấm gia đình suốt mấy mươi năm, đã là ông bà nội ngoại với cháu bế, cháu bồng, lẽ nào nữ sĩ Thảo Vi muốn viết một cách siêu phàm nhất, trúc trắc nhất, khó hiểu nhất để bày tỏ cảm xúc về một tình yêu rất bình dị dành cho "Người ấy" của cuộc đời mình không? Tôi hoàn toàn ủng hộ tâm sự của nữ sĩ Thảo Vi, và tôi đã có lần nghe một bạn văn tâm sự: "Đời đã nhiều rắc rối rồi, nên viết sao cho giản đơn dễ hiểu...".

Chúng ta tiếp tục đọc CHẦM CHẬM CHIỀU của nữ sĩ Thảo Vi, để lắng nghe nỗi lòng trong thơ của nữ sĩ, và có lẽ đây là những tâm tình của những gì thiết thân với nữ sĩ nhất "Về thăm chái bếp mẹ ngồi/ nhện giăng vách lá, nắng ngùi qua khe...Mẹ là vạt nắng vàng buông/ hóa mây vào bếp, ngọt ngon cơm chiều...Mẹ mang cánh gió, hình sương/ mong manh ngày tháng dặm trường gian nan...", (Tìm hơi ấm mẹ), gần gủi như vậy, cụ thể như vậy mà ký ức của nữ sĩ với đầy chất trữ tình và nên thơ, để sự huyễn hoặc của những gì trong thay đổi lối viết, trong hình thành tư duy, cấu tạo nên ý thơ mới mẻ thật là hoang tưởng, bởi ngoài cuộc sống đời thường làm nên chất thơ đẹp và hồn hậu như vậy, trước tình mẫu tử thiêng liêng ấy không gì có thể làm nên giá trị khác hơn, lớn lao hơn và đẹp đẽ hơn; Hoặc là "Em về với anh/... thửa ruộng, bờ ao, dòng kinh, bến nước/ấm lòng nhau dù đời lắm gian lao... Giờ quê anh đã thành quê chung/... Em chợt thấy đời mình còn nợ/ mồ hôi không bù đắp nỗi luống cày... Đất không bỏ người, người miệt mài cùng đất/ Đất và Người, tình đất nặng tình nhau" (Tình đất nặng tình nhau). Có cách nào nói khác hơn không, (một cách vòng vo khó hiểu hơn), để người đọc cảm thấy sự đổi thay rất mới, về một lời cảm ơn giản dị nhất, cần phải nói lên, dành cho tình yêu đất nước, con người?

Nữ sĩ Thảo Vi có nhiều thơ viết về quê hương, đất nước, những vùng trời, vùng đẩt là nơi mà chị đã sống, đi đến, thăm viếng và tham quan như Bình Phú, Tri Tôn, Phú Tân, rừng Trà Sư, Đồng Tháp, Đà Lạt, Đắc Nông... trong các bài Hương rừng, Thành phố xanh như ngọc, Đêm mưa dầm dưới chân núi LangBiang, Những giai điệu diệu kỳ, Về Bình Phú để thương, Thăm đền thờ Đức Quản Cơ... Chúng ta đọc của nữ sĩ những này sẽ thấy tâm hồn của nữ sĩ chứa chan, dào dạt tình yêu thương bằng những rung cảm thiết tha, mà trầm lắng ngọt ngào như những vĩa quặng trầm tích chất chứa của một đời người, đời thơ sẵn sàng dâng hiến để yêu thương của nữ sĩ, vẫn như là một giáo viên dành hết cho các lứa học trò trong cuộc đời làm "cô giáo" của mình. Thương lắm tâm tình của nữ sĩ trong thơ (Có phải còn ta) "Ta có là bóng mát/ ta có là hoa thơm/ cho mắt em trong sáng/ cho hồn em thêm hương...Ta thương hoài lũ trẻ/...ta nhớ hoài đồng nghiệp/ Ta có phải còn ta?", "Ta vẫn mãi một khối tình không đếm hết/ mãi tìm mình trong hình bóng các em/ ta mãi tìm ta - khoảng trời xa biền biệt/ nắng sân trường những giờ học thân quen... Ta sẽ về đọc lại dòng thơ cũ/ ngày xa trường, mắt ướt bụi mưa sa " (Mùa chia tay).

Và nữ sĩ Thảo Vi lắng nghe CHẦM CHẬM CHIỀU "Chầm chậm nhé/ chân mềm lên vách núi.../Lặng trong chiều/ mây quên nẻo về xuôi.../Chầm chậm nhé/ cây rừng xao xác lá/ ... Ta còn nhau/ giây phút hóa nghìn năm...", "Đời được mất/ chỉ cơn mơ phù phiếm/ đời lợi danh/ hư ảo chốn bụi trần" (Chầm chậm chiều). Tôi thường đọc văn chương, đọc thơ... như vậy (không đủ kiên nhẫn đọc nguyên từ đầu đến cuối) và tôi vẫn thường đọc cắt nhát như vậy để lọc những lõi, những hồn cốt của người viết, để thấy những lấp lánh của hồn thơ, tiếng thơ, của chữ nghĩa mà các nhà thơ đã gửi gắm vào thơ. Tôi đọc như vậy, và chợt thấy bài thơ Chầm chậm chiều đầy chất thơ và cứ cảm nghe ngân mãi trong lòng tôi một cảm xúc đồng cảm với nữ sĩ Thảo Vi, những nỗi niềm rất khó nói nên lời một cách thô thiển khác, của tôi, người đang ngưỡng cửa của chiều hôm.

Tôi đọc CHẦM CHẬM CHIỀU của nữ sĩ, chợt nhớ đến bình luận của nhà thơ Thanh Thảo " Nhà thơ không phải là anh trau chuốt "thôi, xao" chữ nghĩa, mài giũa ý tứ tạo nên những sản phẩm mang tính "bày bán". Nhà thơ phải đi đến tận cùng số phận mình để có thơ và thơ ấy, trước tiên, cho riêng mình. Sau đó, nếu mình công bố, nó mới thuộc về người đọc" (trích nhà thơ Thanh Thảo, báo văn nghệ số 35, ngày 27.8.2022, trong bài Khe khẽ thơ mình với mình).

Tôi thích tập thơ CHẦM CHẬM CHIỀU của nữ sĩ Thảo Vi, tập thơ đã đem lại nhiều cảm xúc cho tôi, trong những tháng ngày tôi thích một mình này. Cảm ơn nữ sĩ Thảo Vi. Cảm ơn CHẦM CHẬM CHIỀU và... Cảm ơn… THƠ ơi!..






Long Xuyên, tháng 10. 2022

Nguyễn Lập Em

>> Đọc tiếp…

Mùa xanh vùng giáp nước - chùm thơ Nguyễn Lập Em

MÙA XANH VÙNG GIÁP NƯỚC 


Con nước mặn tràn lên
Tháng Ba. Hạn khô vùng Giáp Nước
Xóm làng lo đói no, vụ sau - mùa trước
Đêm canh cống đập
Ngày đo độ nhiễm
Hạ nguồn Mê Kông, nơi này, đồng lúa xôn xao
>> Đọc tiếp…

Sông vơi - truyện ngắn Nguyễn Lập Em

1.
Bà út Na lặng lẽ ngồi nhìn ra cánh đồng mênh mông phía sau hè. Bà như thấy lại, ở phía đó, hồi năm nẳm (1), thầy Tình đã bưng thúng lúa giống đi đi, lại lại, mải miết tung, ném… để sau đó, bà có một mùa lúa gặt bể tay. Hóa ra, con người nhìn bên ngoài “nho nhã” như thầy Tình lại như một nông dân gieo trồng giỏi giang đến vậy.
>> Đọc tiếp…