Home » 05- LÝ LUẬN PHÊ BÌNH
- Trang chủ
- |
- Giới thiệu
- |
- Quy ước
- |
- Tác giả
- |
- Thư ngỏ
- |
- Lá thư Bông Tràm
Tác phẩm kỷ niệm 10 năm hoạt động của Bông Tràm, có sự góp mặt của 50 tác giả với trên 100 tác phẩm. Sách dày 312 trang, khổ 13 x 19 cm, giá 100.000 đồng.
1. Đọc Nhân Ảnh của nhà văn Tôn Nữ Diệu Hạnh thật lôi cuốn, tôi không thể nào rời mắt nếu chưa đọc xong tác phẩm. Câu chuyện là cho người đọc rung động và trăn trở trước một bức tranh đời thực, một lát cắt của cuộc sống qua nhãn quan nhà văn. Khi trang sách cuối của truyện khép lại với bao cảm xúc bồi bồi khó tả. Từ góc nhìn tinh tế và khả năng đi vào thế giới nội tâm của con người để tạo ra một thiên truyện hấp hẫn. Giọng văn giản dị, đậm chất Huế nhẹ nhàng nhưng sâu sắc để lại cho người đọc nhiều suy tư ngẫm ngợi.
Vài
nét về nữ văn sĩ Tôn Nữ Diệu Hạnh. Chị là con gái Hoàng Tộc triều Nguyễn, sinh
sống tại cố đô Huế, là nhà giáo, từng giảng dạy và viết rất sớm. Chị bắt đầu
sáng tác từ những năm 90 của thế kỷ trước, năm 1993 chị có tiểu thuyết đầu tay.
Đến nay thì chị đã có mười hai tác phẩm. Phần lớn mỗi tác phẩm được trình bày
thành hai tập với nhiều chương. Đó là truyện dài (Tiểu thuyết trường thiên)
theo cách gọi của người Nhật, người Tàu để phân biệt với truyện ngắn (tiểu
thuyết đoản thiên). Ở Việt Nam khi nói đến tiểu thuyết người đọc thường nghĩ đó
là truyện dài. Có người lại cho rằng truyện dài là thể loại nằm giữa tiểu
thuyết và truyện ngắn.
Nếu
căn cứ vào định nghĩa: Tiểu thuyết là một loại tác phẩm văn chương dài, thuộc
thể loại tự sự, phản ánh những chuyện đời thường, mô tả cảnh đời, xã hội, tâm
lý của nhiều nhân vật trong các mối quan hệ xã hội, có hư cấu, kết cấu chương
hồi. Khi tái hiện bức tranh đời thực mang hơi thở thời đại có yếu tố đời tư và
mạch tự sự là tính chất của thể loại văn xuôi hiện đại. Như vậy 12 tác phẩm của
nàng Tôn Nữ có thể gọi là tiểu thuyết. Từ nhiều năm nay sở trường của chị là
văn xuôi, phần lớn là tiểu thuyết hay truyện dài nhiều chương có tầm vóc tiểu
thuyết. Sắp tới chị chuẩn bị thử sức ở địa hạt mới là thơ, sẽ xuất bản tập thơ
với hơn 100 bài thơ trữ tình trong năm 2024.
Bàn
về tác phẩm Nhân Ảnh thì thấy nhà văn chọn tiểu thuyết để thỏa sức sáng tạo
thông qua nhân vật, hoàn cảnh, sự việc để nhà văn phản ánh những vấn đề của
cuộc sống con người, thân phận con người. Trong đó có tính chất tường thuật và
kể chuyện bằng ngôn ngữ văn xuôi. Khuynh hướng sáng tác của Tôn Nữ Diệu Hạnh
(nàng Tôn Nữ) bằng bút pháp hiện thực và lãng mạn.
2.
Tóm tắt nội dung: Câu chuyện gồm 52 chương xoay quanh nhân vật chính Bích Ngọc
(BN). Em được sinh ra ở bệnh viện nhưng mẹ ruột em (vì hoàn cảnh nào đó không
nuôi được) đành đoạn gửi con lại bệnh viện. Em được một gia đình hiếm muộn nhận
làm con nuôi. May mắn cho em, gia đình mẹ nuôi Quỳnh Dao và ba Minh Quân, bà
nội là những người tốt, rất yêu quý, chăm sóc em chu đáo.
Nhưng
tai họa bất ngờ - mẹ Quỳnh Dao bị mất sau một tai nạn. Ba vẫn cố gắng làm lụng
để nuôi Bích Ngọc học hành nên người. Bích Ngọc vẫn được ba và bà nội chăm sóc
nuôi dưỡng. Thời gian sau sức khỏe bà nội ngày càng già yếu, bà nghĩ đến việc
lấy thêm vợ cho ba Quân, hi vọng có cháu nối dõi tông tông đường cũng là ao ước
của biết bao ông bà. Ba Quân dù không nghĩ đến đi bước nữa, bởi anh rất yêu
Quỳnh Dao, dù chị đã mất cũng không ai thay thế được bóng hình vợ yêu.
Bà
nội nhờ chị hàng xóm là Cẩm Nhung mai mối, tìm được người phụ nữ tên là Hồng
Liên (thị). Cô thường tới chơi, lấy lòng mẹ anh. Mẹ mỗi ngày năn nỉ Minh Quân
lấy vợ để có thêm cháu, thêm thành viên cho gia đình bớt neo đơn, mẹ thì ngày
càng già không thể ở đời với anh. Mưa dầm thấm lâu, thế rồi anh cũng bằng lòng.
Đám cưới diễn ra gọn gàng ấm cúng. Hồng Liên về lúc đầu cũng tỏ ra chăm sóc bé
Bích Ngọc. Thời gian sau buôn bán ngày càng khó, nên tính khí dần đổi thay.
Công ty nơi Minh Quân cũng gặp khó khăn nên công việc không ổn định. Lúc này
trụ cột chính là cô vợ sau. Thị trở nên khó tính, gắt gỏng, anh cũng nhẫn nhịn
cho qua, hàng ngày chở vợ đi bỏ mối thịt, làm việc nhà. Sau này việc bỏ mối
thịt ở các chợ cũng không đắt hàng nữa. Hồng Liên bắt đầu đi buôn chuyến với
Cẩm Nhung. Tình cờ chị gặp lại người tình cũ là Hùng Râu. Lúc đầu chị hoảng sợ
nghĩ mình bây giờ đã có chồng. Hóa ra thị đã từng có bầu với Hùng Râu, nhưng
Hùng Râu vì lý do gì đó đã bỏ trốn. Cơ hội để chị hợp thức hóa cái bầu là kiếm
nhanh một ông chồng, dịp may là có Nhung giới thiệu Quân. (Cẩm Nhung không biết
chuyện này). Nhưng vì phải mất mấy tháng Quân mới đồng ý, sợ bụng to nên thị
phải đi phá thai. Bây giờ gặplại Hùng, Hùng cứ bám lấy thị khó rứt ra được, sau
này hai người đi buôn chung, tách chị Nhung ra. Và thị đã có bầu lại với Hùng
Râu. Khi nghe thị có bầu, bà nội mừng lắm! Một hôm bà qua nhà chị Nhung hàng
xóm chơi vô tình nghe hai vợ chồng chị Nhung nói chuyện với nhau: Rằng Hồng
Liên ngoại tình và đã có bầu với Hùng Râu. Bà bàng hoàng ngã sóng soài tạị bậc
thềm nhà chị Nhung, trong người bà đã có bệnh nền tim mạch. Chở bà tới bệnh
viện không bao lâu thì bà mất. Trước khi mất bà kịp trăng trối với Minh Quân là
vợ sau của anh đã ngoại tình, không phải con anh. Người hiền lành chân chất như
Quân không chịu nổi cú sốc này, trên đường về anh suy nghĩ miên man, không làm
chủ tay lái đã đâm và lối phân cách và chết ngay sau đó. Như vậy bà nội và ba
Quân đã ra đi tức tưởi. Ngồi trước hai cái quan tài, Bích Ngọc đau đớn, từ đây
cô đã mất đi những người thân yêu nhất.
Hùng
Râu dọn về sống với Hồng Liên và Bích Ngọc, thị sợ trong xóm dị nghị nên bán
nhà họ Trần của gia đình Bích Ngọc đi mà về Phú Bài mua đất làm nhà, cách thành
phố 60 km. Bích Ngọc bị thôi học ở nhà làm lụng, chạy ngược chạy xuôi và sai
vặt như con ở. Lúc này em đã 16 tuổi lại rất sợ trước ánh mắt nhìn như muốn
nuốt lấy thân thể Bích Ngọc. Nhân lúc đầy tháng đứa con của thị và Hùng Râu,
Thị sai BN đi mua đồ, Hùng Râu bảo để “ba” chở đi. Mặc dù Bích Ngọc đã rất sợ,
và thường rất ý tứ nhưng giờ không biết làm gì hơn. Cơ hội đến, Hùng Râu lừa
con bé vào nhà nghỉ bằng thuốc mê. Tỉnh dậy, trên người không mảnh vải che
thân, bé hiểu ra sự việc. Thế là hết, không thể trở về nơi căn nhà đáng sợ ấy
nữa. Thế là B N đi lang thang, tối ngủ ở một mái hiên nhà ai, trong cơn đói,
tỉnh dậy vô tình gặp người đàn bà tên là Tuyết tới hỏi chuyện. Dì Tuyết đem bé
về nhà, cho ăn uống, sắm sửa quần áo, Bích Ngọc cảm động và thương yêu dì Tuyết
tưởng là quý nhân phù trợ, ai ngờ mụ là một tay buôn người. Mụ lại bán bé vào
Sài Gòn cho một động gái mại dâm. Không tiếp khách, Bích Ngọc bị đánh đập tàn
nhẫn. Hôm nay Quốc Đại Bàng (ông chủ động dâm) tới tuyển người để bán qua Trung
Quốc. Gặp Bích Ngọc, ông sững sờ nhận ra những nét quen thân của người xưa của
ông (Bích Ngọc là nhân ảnh của mẹ chăng). Từ đó ông cho đàn em ra Huế điều tra
lai lịch Bích Ngọc, hỏi chuyện bé, thử adn. Biết BN đích thị là con gái của
ông. Ông bồi hồi nhớ lại thước phim ngày cũ, lúc mẹ BN thông báo có thai, Kiến
Quốc bảo không thể cưới vì công việc chưa ổn định, bảo mẹ bé phá thai nhưng cô
không phá, đợi ngày đi sinh ở bệnh viện cho ai kiếm con.
Ông
Quốc cảm thấy tội lỗi quá! Ông từ bỏ giang hồ và hai cha con ông về Nha Trang
sinh sống. Ông bù đắp những gì có thể cho con ông. Cô bé học xong đi làm, gặp
người thương mến (Bảo Duy) nhưng cô tự ty bào mình không xứng đáng vì quá khứ
không may ấy. Rồi có lần cô ốm, đến bệnh viện xét nghiệm. Kết quả xét nghiệm bé
tình cơ đọc được trong lúc dọn phòng ba. Cô tự tử, nhưng người yêu cô đã tới
chở đi bệnh viện cứu kịp. Cuối cùng Quốc dẫn con gái về Huế, ông chuộc lại căn
nhà để lập lại nhà hương hỏa cho họ Trần cũng là cách ông cảm ơn những người đã
nuôi nấng con ông. Hai vợ chồng Hùng Râu bị tù do phạm pháp.
Kết
thúc câu chuyện là cảnh lúc ti vi mở chương trình “Người đương thời” giới thiệu
gương mặt Bích Ngọc. Dù đi qua bất hạnh cô đã vươn lên và sống đẹp, sống có
ích, cô mở trung tâm nuôi dạy trẻ em bị HIV và thông qua các chương trình thiện
nguyện truyền cảm hứng. Hai vợ chồng Bảo Duy ngồi xem, sau anh đứng dậy đi ra
lan can với ánh mắt cay cay, anh bảo: Bích Ngọc ơi! Em đúng là viên ngọc quý!
3.
Thế giới nhân vật của truyện được phân ra hai tuyến: Tuyến chính diện: Gồm Bích
Ngọc, Bà nội, bà ngoại, mẹ Quỳnh Dao, ba Minh Quân, dì cẩm Nhung. Tuyến phản
diện: Gồm Hùng Râu, Hồng Liên và bố Quốc, nhưng sau khi gặp con thì ông tỉnh
ngộ và cải tà quy chính. Còn mẹ ruột của BN là nạn nhân của sự phụ tình, xem
như nhân vật trung tính. Vì hoàn cảnh mà bỏ con nhưng cũng cố giữ cho đến ngày
sinh con ra trên đời.
Nội
dung và diễn biến truyện có luật nhân quả chi phối theo tư tưởng Phật giáo. Chi
tiết Kiến Quốc lúc trẻ, có thể anh ta yêu nhưng tình yêu chưa đủ lớn, nên anh
ta xem như đã phụ rẫy người tình, chối bỏ đứa con đầu lòng của mối tình thời
son trẻ. Sau này anh ta lấy vợ thì chẳng may bị hỏa hoạn chết vợ và hai con. Từ
đó anh ta đi vào con đường phạm pháp, làm ăn kiểu xã hội đen trong đó có buôn
người. Công việc làm ăn của ông ta là giáng lên con gái của mình. Con gái ông
(khi chưa nhận ra) bị bọn đàn em đánh đập thừa sống thiếu chết vì không chịu
tiếp khách. Từ đó ông biết đau nỗi đau của người làm cha. Những cô gái trẻ bị
ông và đàn em buôn bán trên thân xác thì cũng ông cũng thấm đòn đau -nỗi đau
của các bậc làm cha làm mẹ khi con cái mình bị chà đạp. Chi tiết Thị và Hùng
Râu ăn ở bạc, bất nhân cuối cùng bị tù đày. Luật nhân quả cho thấy quả báo nhãn
tiền là thông điệp tác giả muốn gửi gắm trong truyện. Câu chuyện không có xung
đột cao trào, ồn ào gì ráo. Dẫu có những lúc thót tim lo lắng cho nhân vật. Nữ
văn sĩ đã điềm tĩnh, nhẹ nhàng dẫn dắt người đi theo trình tự logic, hợp lý và
thuyết phục. Cứ túc tắc để cho nhân vật thực hiện nhiệm vụ của mình trong văn
bản để người đọc dõi theo và cảm nhận. Người đọc đi hết câu chuyện, cũng quặn
thắt lòng theo từng biến cố mà bé Bích Ngọc phải chịu dựng. Từ nội dung, ý
nghĩa câu chuyện, khép lại trang sách, người đọc đi từ rung cảm, ngẫm ngợi suy
tư và từ đó rút ra bài học cho mình. Đôi khi lòng người khó đoán không thể hiểu
được người khác toan tính gì. “sông sâu còn có thể dò, lòng người nham hiểm có
dò được đâu” (ca dao). Bề ngoài tử tế đấy nhưng rước vợ sau về nhà như rước họa
vào thân. Nếu Thị không bước chân vào gia đình này thì Bà Nội và Ba Quân đâu bị
chết tức tưởi như vậy.
Câu
chuyện cũng là bài học cho những đôi lứa yêu nhau cần có trách nhiệm với chính
mình và con cái. Khi đã tạo ra con thì phải nuôi nấng đừng để con lay lắt với
số phận trôi nổi lành ít dữ nhiều. Không phải lúc nào cũng gặp người tốt.
Bài
học nữa với người dưng khác máu tanh lòng, dì ghẻ, ít ai thương con chồng (con
đẻ hay con nuôi) mà nếu có cũng rất hiếm trên cuộc đời này. Còn bố dượng với
con của vợ, mà con của chồng cũ của vợ nữa thì coi như miếng mồi ngon mắt,
không bỏ qua. (dĩ nhiên trên đời vẫn có những bố dượng và dì ghẻ tốt, nhưng quả
thật hiếm. Nếu có, liệu may mắn đó có tới được với con mình không?). Đó là
những thông điệp tác phẩm gửi đến người đọc.
Nghệ
thuật kể chuyện: Theo trình tự thời gian, trước khi bé chào đời, rồi cuộc đời
Bích Ngọc từ nhỏ đến lớn đặt chủ yếu trong không gian Huế thân thuộc.
Từ
đời thực nhà văn quan sát rồi bằng tài năng của mình mà xây dựng cốt truyện,
miêu tả hành động, diễn biến tâm lý nhân vật tạo ra nhiều tình huống bất ngờ và
tính chân thực khá cao.
4.
Nhà văn là thư ký của thời đại. Và mỗi người sẽ có một góc nhìn, một cảm quan
nghệ thuật riêng. Những tình huống rất đỗi bình thường nhưng khi đi vào trang
viết qua ngòi bút của nhà văn sẽ có một ý nghĩa nhất định. Bởi nhà văn đi từ
cuộc sống. Thu vào tầm mắt những vấn đề nổi cộm của cuộc sống để khái quát,
chọn lọc, tìm vấn đề đặt ra cho tác phẩm. Nhà văn có thể quan sát nguyên mẫu
hay tổng hợp cuộc sống vào hình tượng nhân vật điển hình lên trang viết sinh
động, tự nhiên như ngoài đời thật. Hoàn cảnh sống, tâm lý, hành động, lời nói
của nhân vật người đọc cảm thấy đã gặp ở đâu đó trong cuộc đời này. Câu chuyện
Nhân Ảnh rất đời, rất thuyết phục. Vốn sống và tư tưởng thẫm mỹ là chất liệu
quan trọng được nhà văn tích lũy để phản chiếu vào văn chương. Từng mảng đời
thực của thời đại mình đang sống được tác giả chuyển tải lên trang viết. Văn
chương là cuộc đời nhưng phải qua nhãn quan của nhà văn đến tác phẩm là cả quá
trình ấp ủ cảm hứng sáng tạo. Để đời sống thực đi vào nghệ thuật dĩ nhiên ít
nhiều cần có hư cấu... Tác phẩm nghệ thuật được chắt lọc từ thực tế cuộc sống
mới hấp dẫn, lôi cuốn và neo lại trong lòng người đọc là thuộc về tài năng của
người cầm bút.
Cuộc
sống vốn phong phú đa dạng. Quan trọng là nhà văn chọn vấn đề gì của cuộc sống,
nội dung phản ảnh và thông điệp gửi gắm. Mỗi nhà văn sẽ có góc nhìn riêng và
một cách chuyển tải riêng. Cuộc sống đi vào trang viết giàu tính hiện thực,
nhân vật lạ mà quen. Ai cũng có thể nhận ra là đã gặp đâu đó hoặc tìm thấy một
phần đời mình trong đó, để suy ngẫm rút ra bài học cho riêng mình. Cốt lõi đọng
lại là tính nhân văn và nhân bản, mà văn học thời nào cũng hướng đến.
Tác
giả đã quan sát cuộc sống với góc nhìn tinh tế, chọn vấn đề cần thiết để xây
dựng cốt truyện. Chị miêu tả hành động, lời thoại, tính cách, diễn biến tâm lý
nhân vật hợp logic và sinh động. Thông điệp cần chuyển tải bổ ích, sát thực. Là
người con dân Huế, chị sống gắn bó sâu sắc với Huế, vốn từ mang âm hưởng xứ
Huế, bối cảnh chính cũng diễn ra trên đất Huế, dù có đi đâu xa rồi cũng trở về
với Huế ở cuối truyện. Ngôn từ có giá trị biểu đạt. Ngòi bút chân thực và giản
dị.Văn phong trong sáng, dễ hiểu. Nhân Ảnh đã cho chúng ta thấy một bức tranh
đời rất quen, xẩy ra xung quanh chúng ta.
Xuất
thân ngữ văn, chị đến với văn chương trên 30 năm rồi đến nay vẫn là một cây bút
sung sức. Những tác phẩm của chị đã chứng tỏ là một cây bút vững vàng. Nhưng
chúng tôi vẫn mong chị lưu ý những câu văn đôi chỗ còn thừa từ, cần được gọt
dũa súc tích hơn. Đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của độc giả. Tuy nhiên, đó chỉ
là tiểu tiết có thể khắc phục. . Chất liệu cuộc sống, tư tưởng thẫm mỹ và thông
điệp gửi gắm trong tác phẩm mới là điều quan trọng. Thế giới hình tượng thông
qua bộ lọc của nhà văn, chọn hình thức phù hợp để xây dựng tác phẩm. Nghệ thuật
ngôn từ chuyển tải nội dung là những ẩn ức của nhà văn khiến người đọc suy tư,
trăn trở về nội dung văn bản và những lớp nghĩa trong đó sau khi đọc xong một
văn truyện. Những trang viết của nàngTôn Nữ xứ Huế quả thật thấm đẫm hơi thở
của cuộc sống và đầy tính nhân văn.
Sài
Gòn, ngày 25/01/2024
Hoàng Thị Bích Hà
BÀI CA CUỐI CÙNG
Chim trời xếp cánh
Hát vu vơ mấy tiếng trong lồng
Nhớ mãi rừng cây thăm thẳm
Ủ tâm tư cho hạt thóc cay nồng
Rát bỏng với nỗi hơn khổ nhục
Nó nhịn ăn
Rồi chết gục
Ta đã hát những bài ca phố chợ
Người ăn mày kêu lịch sử đi lui
Chàng tuổi trẻ cụt chân từ chiến địa
Vỗ lề đường đoán mộng tương lai
Lộng lẫy chiếc lồng son
Hạt thóc căng nỗi hờn
Giữa tường cao bóng mát
Âm u lời ca khổ nhục
Nó nhịn ăn
Và chết
Ta đã hát bài ca của suối
Gã anh hùng bẻ vụn mặt trời
Gọi quỉ sứ từ âm ty kéo dậy
Ngập rừng xanh lấp lánh ma trơi
Đêm qua chiêm bao ta thấy máu
Từ sông Ngân đổ xuống cõi người
Bà mẹ xoi tim con thành lỗ
Móc bên trong hạt ngọc sáng ngời
Lồng son hạt cơm trắng
Cánh nhỏ run uất hận
Tiếng hát lịm tắt dần
Nó đi về vô tận
TUỆ SỸ
Trong bài “Tuệ Sỹ, Thái Độ
Của Nhà Sư Nhập Thể”, hòa thương Thích Nguyên Siêu đã viết như sau:
“Từ thời lập quốc, từ thủa sơ
khai của nước nhà Lạc Việt là thời thái bình, an cư lạc nghiệp, đó là buổi
bình minh, là tiếng khóc đầu đời của dân tộc Việt có mặt trên dải đất dấu yêu.
Để xây dựng cho giang sơn gấm vóc, bao anh hùng liệt nữ đã tô đậm non
sông bằng máu đỏ của thân mình để làm tươi thắm ruộng đồng, mà hôm nay Thầy
tiếp nối dòng sông lịch sử ấy, đem nước mát, phù sa phì nhiêu cho dân
sinh nhuần đượm. Nhưng nay, thời thanh bình thịnh trị đó đã không còn
để Thầy phải viết lên tâm tư qua “Bài Ca Cuối Cùng”. “Hình ảnh này là thực
trạng của quê hương Việt Nam chúng ta hôm nay. Thầy đã đi từng vỉa
hè, góc phố, chứng kiến cảnh trạng đau thương từ muôn người đến
muôn vật, từ tình cảm đơn côi đến cái nhìn nhãn quan tổng thể. Thái
độ nhập thế không chủ quan, phiến diện mà là tâm trạng đau buồn
cho quê hương, dân tộc, ngang qua những hình ảnh xót xa đau đớn. Nỗi đau
của dân tộc cũng là nỗi đau của chính mỗi người trong chúng ta. Nỗi đau của
người Mẹ mất con, nỗi đau của bà con ruột thịt chia lìa, của cửa mất nhà
tan, của một dân tộc bị lưu đày”
Thiết nghĩ, trích đoạn
lời bình của thượng tọa Thích Nguyên Siêu đã nói đủ ý nghĩa của bài thơ, nay
Châu Thạch tôi chỉ xin bàn về nghệ thuật của bài thơ.
Vào khổ đầu của bài thơ, Tuệ
Sỹ giới thiệu cái chết và nguyên nhân cái chết của con chim trời. Chim bị nhốt
trong lồng, nó nhớ khu rừng nó sống tự do, nó nhịn ăn và chết:
Chim trời xếp cánh
Hát vu vơ mấy tiếng trong lồng
Nhớ mãi rừng cây thăm thẳm
Ủ tâm tư cho hạt thóc cay nồng
Rát bỏng với nỗi hơn khổ nhục
Nó nhịn ăn
Rồi chết gục
Đọc khổ thơ nầy, dễ cho ta
nhớ đến bài thơ “Hổ Nhớ Rừng” của Thế Lữ. Con hổ của Thế Lữ cũng bị nhốt
trong củi sắt, cũng nhớ rừng nhưng nó gầm nó thét, nó chịu sống trong tủi nhục
để hằng ngày nhớ về quá khứ:
“Ta
sống mãi trong tình thương nỗi nhớ,
Thủa tung hoành hống
hách những ngày xưa.
Nhớ cảnh sơn lâm,
bóng cả, cây già,
Với tiếng gió gào
ngàn, với giọng nguồn hét núi,”
…“Có biết chăng trong những ngày ngao
ngán,
Ta đương theo giấc mộng ngàn to lớn
Để hồn ta phảng phất được gần ngươi,
- Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi!”
Ngược lại với hổ nhớ rừng,
chim cũng nhớ rừng nhưng không chịu nhục, chim nhjn ăn để chết. So mức độ của
lòng quả cảm thì con chim nhỏ nhoi hơn, yếu đuối hơn ngàn lần con hổ, nhưng
lòng quả cảm, sự tự tôn của nó cao hơn hổ rất nhiều. Thơ là người, Tuệ Sỹ lấy
cái chết của con chim để bày tỏ chí khí của mình, và nhà thơ đã làm như thế khi
ngài đã tuyệt thực, không viết đơn xin ân xá khi nhà nước Cọng Sản buộc
ngài làm như thế mới phóng thích ngài. Cũng may, trong trường hợp nầy con chim
Tuệ Sỹ đã thắng mà không chết.
Khổ đầu của bài thơ viết về
con chim, khổ thứ hai của bài thơ tự nhiên viết qua con người, tưởng là lạc đề
nhưng không phải lạc đề:
Ta đã hát những bài
ca phố chợ
Người ăn mày kêu lịch sử đi lui
Chàng tuổi trẻ cụt chân từ chiến địa
Vỗ lề đường đoán mộng tương lai
“Ta” ở đây là ai? Bài
thơ của Tuệ Sỹ nên “ta” ở đây là Tuệ Sỹ rồi. Thế nhưng ta cũng có
thể hiểu là chúng ta, là những con người sống cùng thời với Tuệ Sỹ, những người
thấy người ăn mày xuất hiện lại giữa đời, thấy những thương binh cụt chân
lê lết trên lề đường.
Tại sao nhà thơ viết “Người
ăn mày kêu lịch sử đi lui”? Bời vì nhà thơ đã từng sống một thời đại không
có ăn mày. Nay nhà thơ thấy ăn mày xuất hiện lại, làm ngài tưởng như hình ảnh
đó đà kêu quá khứ khổ đau xa xăm quay về hiện tại. Tại sao nhà thơ viết “Chàng
tuổi trẻ cụt chân từ chiến địa/Vỗ lề đường đoán mộng tương lại”. Đó là ngài
muốn nói đến người thương binh của phe thua cuộc, kéo tấm thân lê lết trên lề
đường với bàn tay trắng, vỗ lề đường là cử chỉ bức xúc, đoán mộng
tương lai vì hiện tại đau thương và tương lai mù mịt .
Tại sao khổ đầu Tuệ Sỹ viết
về con chim mà khổ hai lại viết về con người? Tại vì nhà thơ muốn ám chỉ con
chim chính là con người hay chính là mình, là Tuệ Sỹ. Tuệ Sy đã “Ta đã hát
những bài thơ phố chợ” nghĩa là đã tố cáo những hình ảnh không đẹp
giữa đời nên đã bị bắt nhốt vào tù như thân phận con chim kia bị nhốt vào lồng.
Qua khổ thơ thứ ba nhà thơ
không viết về chim, không viết về người mà viết về huyễn mông:
Đêm qua chiêm bao ta thấy
máu
Từ sông Ngân đổ xuống cõi người
Bà mẹ xoi tim con thành lỗ
Móc bên trong hạt ngọc sáng ngời
Đêm qua nhà thơ nằm mơ thấy
máu, nhưng máu đó không phải do con người chém giết nhau trên đất, mà là máu “Từ
sông Ngân đổ xuống cõi người”. Tại sao? Hai câu thơ nầy nhà thơ muốn
nói đến nghiệp, đến nhân quả mà “cõi người” phải gánh chịu.” Cõi
người” đã gieo nhân gì thì “cõi người” nhận quả ấy. Với đức độ của
một Thiền Sư, Tuệ Sỹ không nói đến hận thù, không tố cáo ai gây tội ác,
không khuyến khích báo oán mà ngài thức tỉnh con người bằng giáo lý cao siêu
của Phật pháp. Ngài chỉ cho thấy “cõi người” gieo nhân thì gặt quả để “cõi
người” tự thức tỉnh.
“Bà mẹ moi tim con thành
lỗ/ Móc bên trong hạt ngọc sáng ngời” nghĩa là sao và bà mẹ là ai? Tất
nhiên ta nghĩ ngay bà mẹ là mẹ Việt Nam, bà mẹ ấy không moi lồng ngực con mình
mà moi ngay quả tim con mình để lấy ra hạt ngọc sáng ngời. Trong hai câu thơ
nầy nhà thơ muốn nói trong mọi trái tim con của mẹ đều có hạt ngọc sáng ngời.
Đứa nào chết, mẹ lấy hạt ngọc giữ lại trên tay mình, hay đúng hơn mẹ giữ nguyên
truyền thống tốt đẹp đời đời, dầu cho có một thế hệ con mẹ suy đồi nhưng
viên ngọc trên tay mẹ vẫn còn thì tương lai còn hy vọng . Ý cả khổ thơ hình như
nhà thơ muốn “cõi người” hãy nhận viên ngọc của mẹ Việt Nam mà thức tỉnh
làm điều lành tránh điều ác.
Ở khổ thơ cuối cùng Tuê Sỹ
cho con chim chết bên hạt cơm trắng, nghĩa là nó chết vì mất tự do chớ không
phải vì đói. Khổ thơ muốn nói quyền tự do quý hơn sự sống. Con chim lịm tắt dần
trong tiếng hát của mình, đó là tiếng hát tôn vinh quyền tự do. Cái chết của
chim thật là bất công, ai oán nhưng là một cái chết quật cường để được tự do
cho “Nó bay về vô tận”:
Lồng son hạt cơm trắng
Cánh nhỏ run uất hận
Tiếng hát lịm tắt dần
Nó đi về vô tận
Cuối cùng, “Bài Ca Cuối
Cùng” là cuối cùng của con chim bị nhốt trong lồng. Cái chết của chim là
cái chết của con người bất khuất, đấu tranh cho tự do. Cái chết đó trao cho mẹ
Việt Nam viên ngọc sáng ngời, viên ngọc đó nằm trên tay mẹ sẽ không chết bao
giờ, là sự bắt đầu của hứa hẹn một tương lai ngọc trong tay mẹ sẽ thay đổi “cõi
người” trở nên tốt đẹp hơn!
Châu Thạch

Mai mốt em về làm cánh hạc
Ta có muôn phương bay cùng
nhau
Rừng tùng xanh sắc hương
miền Linh Thứu
Tây phương ánh vàng vằng
vặc trăng sao
Mình sẽ ngàn năm an nhiên
anh nhỉ
Chốn huyền không xanh cội
bồ đề
Những sơn thạch gương mặt
hồ phỉ thúy
Nước thơm thơm từng giọt
giọt suối khe
Dựng am cỏ bên đồi tre
trúc
Thiền viện đơn sơ tràng
hạt chiên đàn
Mỗi chiếc lá cũng mang hồn
Phật tính
Mỗi hạt sương ngọt vị bình
an
Em về cùng anh vui miền an
trú
Thắp ánh nhiên đăng soi
rọi tâm lành
Khắp cõi thiêng nắng mưa
luân vũ
Gió ngàn phương gieo hạt
thiện lành.
Nhà thơ Vạn Lộc còn vài năm nữa thì vào tuổi bát thập. Cách đây không lâu chị đã tiển đưa phu quân của mình về chốn an tịnh. Tôi nhớ trong bài thơ “Vắng Anh” đăng trong tập “Hái Mùa Động Vạt Nắng” chị đã khóc bằng lời không bi quan, rất thơ và rất gây cảm xúc:
Ta xin hái mùa đông vạt
nắng
Cài lên câu thơ tóc xỏa
bềnh bồng
Và quàng vào tim mình chút
ấm
Tựa tay người ve vuốt những niềm đông.
Trời mùa đông Đà Nẵng u ám
mấy tuần qua, sáng nay bắt đầu có chút nắng. Nhìn qua cửa sổ tôi thấy có những
vạt nắng mùa đông. Rồi tình cờ lại đọc bài thơ “Về Miền An Trú” của Vạn
Lộc, tôi thấy như chính mình cũng được an trú trong hương thiền như bài thơ của
Vạn Lộc. Nhu cầu viết nhờ đó lại trổi dậy trong tôi, tôi viết cho tôi, không
phải viết cho Vạn Lộc.
Đọc khổ thơ đầu, ta thấy nhà
thơ Vạn Lộc dự phóng một tương lai tốt đẹp của mình ở thế giới bên kia, hứa hẹn
với anh của mình đoàn tụ ở cõi tây phương cực lạc:
Mai mốt em về làm cánh hạc
Ta có muôn phương bay cùng
nhau
Rừng tùng xanh sắc hương
miền Linh Thứu
Tây phương ánh vàng vằng
vặc trăng sao
Hình tượng loài chim hạc ảnh
hưởng sâu sắc trong văn hóa phương Đông và mang nhiều biểu tượng thanh cao. Hạc
là con vật tượng trưng cho sự tinh tuý, thanh tịnh, thần tiên thoát tục còn gọi
là Tiên hạc. Chim hạc là loài chim của vũ trụ, của tầng cao, có tính cách của
người quân tử. Hạc còn được cho là linh vật, là loài chim có phẩm chất cao quý.
Tương truyền, núi Linh Thứu
không chỉ là một nơi nghỉ ngơi mà còn là một nơi tu hành của Đức Phật cũng như
các đệ tử của ngài. Địa điểm này thường xuyên được nhắc đến trong các cuốn kinh
Pali của Phật giáo Nam tông như là địa điểm thuyết giảng của Phật. Núi Linh
Thứu sau này cũng xuất hiện trong Bát-nhã-ba-la-mật-đa tâm kinh, Liên Hoa kinh
hay Thủ Lăng Nghiêm kinh.
Như vậy qua khổ thơ đầu tiên,
nhà thơ Vạn lộc đã hứa hẹn với anh cùng hóa hình thành cánh hạc, cùng ngao du
nơi chốn trần gian Phật từng ngự, cùng bay về cõi Niết Bàn ở “Tây phương ánh
vàng vằng vặc trăng sao”.
Tôi nghĩ nhà thơ Vạn Lộc có
quyền ước vọng như thế vì tác giả là một cư sĩ Phật Giáo, ăn chay trường và tu
tại gia nhiều năm qua. Tất nhiên nhà thơ Vạn Lộc dư biết muốn được như thế phải
qua ngàn vạn kiếp tu hành nhưng quyết tâm thì sẽ thành hiện thực, vì Đức Phật
đã nói “Ta đã thành Phật và các ngươi cũng sẽ thành Phật”.
Đọc khổ thơ một, không ai
không thấy lòng thanh thản bởi cảnh sắc được mô tả trong thơ thoát tục, bởi cái
tâm được thể hiện trong thơ an bình, thanh thản, thấy trước thế giới bên kia
của mình bình tịnh an vui. Khác với người đạo Thiên Chúa có niềm tin chắc chắn
vào cõi Vĩnh Hằng khi qua đời nầy, người theo đạo Phật không thể có niềm tin
chắc chắn là mình sẽ đến đâu. Thế nhưng qua thơ ta thấy Vạn Lộc như khẳng định
nơi mình đến sau kiếp nầy bằng chữ “Mai mốt em về” có nghĩa là sẽ
gần đây thôi. Tôi rất thích có niềm tin như Vạn Lộc, vì nó sẽ làm ta nhìn qua
thế giới bên kia không sợ hải, không lo âu, không đau khổ.
Qua khổ thơ thứ hai Vạn Lộc
giới thiệu chổ ở trong tương lai mà hai người sẽ sống ngàn năm cùng nhau, nơi
đây không là Niết Bàn cũng là tiên giới:
Mình sẽ ngàn năm an nhiên
anh nhỉ
Chốn huyền không xanh cội
bồ đề
Những sơn thạch gương mặt
hồ phỉ thúy
Nước thơm thơm từng giọt
giọt suối khe
“Chốn huyền không” là
chốn nào?. Chương Trọng Sơn nói: “Vô định, vô cứ, không phương hướng, không
góc cạnh, không khởi đầu, không kết thúc, không hình thể, không dấu vết, tồn
tại khắp nơi, không lúc nào không có. Đấy gọi là Huyền Không”. Vậy huyền không
ở đây là nơi “Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc. Sắc tức là không,
không tức là sắc”. Cái cảm nhận và suy nghĩ ấy nằm trong “Bát nhã ba la
tâm kinh” tức là nơi trú ngụ của các bậc giác ngộ.
“Hồ phỉ thúy” ở đâu?
Hồ Thanh Hải hay hồ phỉ thúy nước xanh như ngọc phỉ thúy, núi đá bảy màu ở Cam
Túc, Thanh Hải, Trung Quốc giáp với Tây Tạng.
Đọc khổ thơ thứ hai ta thấy
Vạn Lộc tưởng tượng một cảnh sống xuất thế, họ sống có lẽ như A-Dam Và E-Va
thuở xưa trong vườn Địa Đàng mà Thiên Chúa dựng nên. Khổ thơ cho ta cảm nhận
ước vọng sống đơn sơ, không mang linh hồn thần thánh, chỉ mang linh hồn con
người thiên nhiên chưa ăn trái cấm, chưa biết tội lỗi là gì, còn trong như
tuyết, còn trắng như lông chiên.
Quả thật vậy, qua khổ thơ thứ
ba, nhà thơ Vạn Lộc nói rõ hơn ước vọng sống bình dị của mình, sống như người
vừa dựng nên từ tay Thiên Chúa, tâm hướng về Phật, hòa nhập cùng vô vi Lão Tử:
Dựng am cỏ bên đồi tre
trúc
Thiền viện đơn sơ tràng
hạt chiên đàn
Mỗi chiếc lá cũng mang hồn
Phật tính
Mỗi hạt sương ngọt vị bình
an
“Chiên đàn” đứng đầu trong 5 loại tuyệt đỉnh danh
hương, chiên đàn được dùng để làm tràng hạt trì niệm bởi mùi thơm trang nhã và
giá trị tâm linh cao tại các quốc gia Phật giáo như Nepal, Ấn Độ, Tây Tạng
...Từ xưa đến nay, thế gian lưu truyền ngũ danh hương – 5 loại hương thơm quý
nhất từ thiên nhiên: chiên đàn hương, trầm hương, đâu lâu ba hương, tất lực ca
hương và tử đinh hương. Trong đó, chiên đàn đứng đầu vì tương truyền có thể
diệt trừ ô trược (tà khí).
Trong khổ thơ thư ba, nhà thơ
Vạn Lộc dựng nên cho mình một khung trời thiền tịnh trong sạch, thơm tho, chẳng
khác chi vùng trời của Hàn Mạc Tử cho nhà thơ đi: “Người thơ là khách lạ đi
giữa nguồn trong trẻo. Trên đầu Người là cao cả, vô biên và vô lượng: xung
quanh Người là mơn trớn với yêu đương vây phủ bởi trăm dây quyến luyến làm bằng
êm dịu, làm bằng thành bại....Gió phương mô đẩy đưa Người đến bờ xa lạ, đầy
trinh tiết và đầy thinh sắc. Người dừng lại để hái những lá tinh hoa. Người nín
lặng để mà nghe tiếng trăng reo vang vang như tiếng châu báu vỡ lỡ. À ra Người
cũng dại dột, hốt vàng rơi bọc trong vạt áo.”. Khác Hàn Mạc Tử chăng
là nhà thơ Vạn Lộc đi trong vạn vật mang hồn Phật tính.
Khổ thơ thứ tư là khổ thơ kết
thúc trong miên viễn, trong vĩnh hằng hạnh phúc, trong ánh sáng thiện lành:
Em về cùng anh vui miền an
trú
Thắp ánh nhiên đăng soi
rọi tâm lành
Khắp cõi thiêng nắng mưa
luân vũ
Gió ngàn phương gieo hạt
thiện lành.
“Nhiên đăng” là gì?.
Chữ nhiên đăng được giãi thích bằng thơ như sau:
“ÁNH sáng từ bi bủa khắp
trời
NHIÊN quang đèn huệ rọi
cùng nơi
ĐĂNG minh soi thấu trong
ba cõi
TỎ RẠNG lý chân chỗ tuyệt
vời.”
“Nhiên Ðăng được xem là vị
Phật quan trọng trong các vị trước Thích-Ca. Ngài là vị đại diện cho Phật quá
khứ tương tự như trường hợp Di-Lặc được xem là đại diện cho Phật vị lai.
Danh hiệu Phật theo Phạn
văn là Dipamkara, dịch âm là “Đề hòa yết la”. Cũng còn dịch tên là Đính quang
Phật. Tên Nhiên Đăng là dịch theo ý. Trong Phật giáo đây là một trong những vị
cổ Phật đời quá khứ. Tương truyền rằng: lúc sinh thời, thân thể ngài tỏa rực
sáng như đèn nên mới gọi tên là Nhiên Đăng. Sau khi Ngài thành Phật cũng lấy
tên gọi ấy làm hiệu.”
Vạn lộc chấm dứt bài thơ
trong ánh sáng quá khứ của Phật, trong mưa luân vũ hiện tại, trong gió gieo hạt
thiện lành bây giờ. Như thế nhà thơ Vạn lộc và anh của bà đã đi và về được
trong thời gian, không dám nói là đã thành Phật nhưng có thể nói là đã vào chốn
thiên thần ngự trị. Tất nhiên hiện tại bà đã đi bằng thơ, cởi trên những tư duy
thiện lành để bay bằng con chữ sắc màu viên mãn “Đại dương minh vân” mà
Đức Phật phóng quang trên 2500 năm trước.
Châu Thạch
ÁC MỘNG
Lại ác mộng bởi rừng khuya
tàn bạo đấy
Thịt xương người vung vãi
lối anh đi
Nhưng đáy mắt không căm
thù đỏ cháy
Vì yêu em trên lá đọng
sương mai
Anh chiến đấu nhọc nhằn
như cỏ dại
Thoảng trông em tà áo mỏng
vai gầy
Ôi hạnh phúc anh thấy mình
nhỏ bé
Chép tình yêu trên trang
giấy thơ ngây
Đời khách lữ biết bao giờ
yên nghỉ
Giữa rừng khuya nằm đợi
bóng sao Mai
Để một thoáng giấc mơ tàn
kinh dị
Dáng em buồn bên suối nhỏ
mây bay
Rừng Vạn Giã 76
Tuệ Sỹ
Có một
nhà văn đã viết về Tuệ Sỹ rằng:
“Trong số những sáng
tác của Thiền sư Thích Tuệ Sỹ, một số lớn được sáng tác trong thời gian một năm
tác giả rút về sống cô độc làm rẫy trong rừng Vạn Giã từ 1976 đến 1977. Những
bài thơ này được gom lại trong tập “Giấc mơ Trường Sơn”. Ngoài những bài thơ về
núi rừng, về vũ trụ, về kiếp nhân sinh, còn có một số không ít bài về tình yêu,
rất tha thiết và truyền cảm, là một điều khá ngạc nhiên khi tác giả là một
thiền sư”. “Ông biết rất rõ tâm lý con người để có thể diễn tả một cách thuyết
phục những lối đi thơ mộng của tình yêu, những tâm tư thầm kín của lòng người,
mà không nhất thiết biểu lộ những tình cảm của riêng mình. Mặt khác, trong
những câu thơ nói về tình yêu, chúng ta nghĩ là tình yêu thơ mộng nam-nữ, nhưng
thật ra có thể đó chỉ là biểu hiện trong thi ca của một tình rộng lớn hơn là
tình người.”
Những lời nhận định trên
quả rất đúng. Tuệ Sỹ chính là kẻ sĩ trong truyền thống của Đông phương. Thiền
sư Tuệ Sỹ đã thể hiện tinh thần “uy vũ bất năng khuất” của kẻ sĩ không
phải chỉ bằng hành động, mà còn bằng những tác phẩm. Qua văn tự, ngài đã viết
tác phẩm đó bằng sự hy sinh quên mình, để chia xẻ sự đau khổ với quê hương đất
nước. Một trong những bài thơ như thế là bài thơ “Ác Mộng” ngài viết
trong rừng Vạn Giã năm 1976, viết trong túp lều tranh do tự tay mình dựng lên,
nơi mà đêm xuống nơi đó chẳng có gì cả, ngoài ngọn đèn dầu leo lét trong túp
lều tranh và bóng tối mịt mù giữa núi rừng mênh mông.
Bây giờ xin mời quý vị và
tôi cùng mang hai bản chất để đi vào bài thơ “Ác Mộng”. Có như thế
chúng ta mới có thể hiểu được một phần nào ý sâu xa trong bài thơ của ngài.
Trước hết hãy mang bản chất của tình yêu nam nữ để cảm thụ tiếng thơ tình say
đắm, sau đó tùy theo mỗi người, hãy thử mang ít hay nhiều bản chất của một tu
sĩ, của người đã xa lánh bụi trận gian để cảm nhận huyền vi trong câu thơ của
Tuệ Sỹ.
Xin hãy bước vào khổ thơ
đầu tiên:
Lại ác mộng bởi rừng khuya
tàn bạo đấy
Thịt xương người vung vãi
lối anh đi
Nhưng đáy mắt không căm
thù đỏ cháy
Vì yêu em trên lá đọng
sương mai
Đọc hai câu thơ đầu ta
thấy ngay nhà thơ mơ một giấc mơ hải hùng giữa rừng. Nhà thơ đã thấy “Thịt
xương người vung vãi lối anh đi”. Tác giả cho biết “Lại ác mộng”
nghĩa là đã từng có ác mộng nhiều lần trong khu rừng ấy. Tác giả cho biết thêm,
lại ác mông bởi vì “rừng khuya tàn bạo đấy”. Như thế ác mộng của tác giả
có nguyên nhân rõ tàng là do “rừng khuya tàn bạo” mà gây nên. Vậy câu
thơ đầu tác giả đã chỉ ngay chủ thể gây ra ác mông là “Rừng khuya tàn bạo”.
Chủ thể là gì? Chủ thể là cá nhân, tổ chức tồn tại hiện hữu, nhận diện được qua
hành động. Rừng khuyu không thể là chủ thể. Vậy “rừng khuya” trong thơ
dùng để ám chỉ một chủ thể nào đó đã gây ra ác mộng cho tác giả.
Qua hai câu thơ sau “Những
đáy mắt không căm thù đỏ cháy/ Vì yêu em trên lá đọng sương mai” là bức
tranh vẽ lá trong rừng Vạn Giã . Câu thơ thứ 3 “Những đáy mắt không căm thù
đỏ cháy” cho ta đoán được ác mộng xảy ra vào mùa thu trong rừng Vạn
Giã, vì mùa thu thì lá úa vàng, nhìn như đỏ cháy. Nhà thơ dùng cụm từ “Những
đáy mắt” để chỉ về phần nội tâm, sâu trong nội tâm những chiếc lá không
biết căm thù trước sự tàn bạo gây ra. Ta hiểu rừng trong thơ đại diện cho một
chủ thể thì lá trong thơ cũng đại diện cho một tầng lớp trong xã hội đương
thời,
Qua câu thơ thứ 4, nhà thơ
đột nhiên dùng chữ “Yêu em”. Để hiểu nghĩa rõ hơn hai câu thơ nầy ta có
thể viết lại như sau: Những đáy mắt không căm thù đỏ cháy/ Đỏ cháy vì
yêu em trên lá đọng sương mai. Ta để ý cụm từ “yêu em trên lá đọng sương
mai”. Vậy em trong câu thơ nầy là ai? Là “lá đọng sương mai”, nghĩa
là em là những chiếc lá đọng sương mai. Hiểu như thế ta sẽ không còn thắc mắc
tại sao thiền sư lại viết “em” trong thơ của ngài.
Qua khổ thơ đầu ta có thể
thấy tuy nhà thơ viết về ác mộng, nhưng đó không phải là giấc mơ khi ngủ mà là
ác mộng khi ngài đang thức, bởi vì ngài vẫn thấy rõ lá đỏ đọng sương mai trước
mắt mình.
Tóm lại trong khổ thơ đầu,
Tuệ Sỹ viết về một cơn ác mông do xã hội đem đến cho ngài. Ngài thấy cảnh đau
khổ trên từng lối đi, ngài cũng thấy tầng lớp bị đè nén thơ ngây như những
chiếc lá không biết hận thù, tâm hồn họ đẹp như những giọt sương đọng trên lá
mà ngài yêu quý. Vậy lá đại diện cho lớp người bị áp bức được nhà thơ gọi là “Em”
và “sương mai” chính là tâm hồn của họ.
Bây giờ xin mời quý vị đọc
tiếp khổ thơ thứ hai:
Anh chiến đấu nhọc nhằn
như cỏ dại
Thoảng trông em tà áo mỏng
vai gầy
Ôi hạnh phúc anh thấy mình
nhỏ bé
Chép tình yêu trên trang
giấy thơ ngây
Câu thơ đầu “Anh chiến
đấu nhọc nhằn như cỏ dại” nói về thế lực của Tuệ Sỹ và ý chí của Tuệ Sỹ.
Thế lực của nhà thơ yếu đuối như cỏ dại, nhưng ý chí nhà thơ luôn kiên cường
chiến đấu. Trước bạo lực Tuệ Sỹ như cỏ dại nhưng cỏ dại vẫn chiến đấu. Ngài
chiến đấu cho ai, chiến đấu vì sao? Câu trả lời rất rõ ràng, chiến đâu cho “em
tà áo mỏng vai gầy”, nghĩa là chiến đấu vì tầng lớp yếu đuối và nghèo khó.
Hiểu như thế ta sẽ thấy “em” ở đây không là cô gái nào cả mà em ở
đây là những giai tầng bị áp bức.
Hai câu thơ tiếp theo nói
về sự thỏa lòng trong tình yêu của nhà thơ và cách bày tỏ tình yêu của nhà thơ.
Tất nhiên ta đã biết rõ tình yêu nầy không phải là tình yêu nam nữ, mà là thứ
tình yêu cao rộng cho tha nhân, cho người yếu đuối, người chịu sự bất công đè
nén: “Ôi hạnh phúc anh thấy mình nhỏ bé/Chép tình yêu trên trang giấy thơ
ngây”.
“Ôi hạnh phúc anh thấy
mình nhỏ bé”: Tuệ Sỹ hạnh phúc trong sự nhỏ bé thật, bởi vì chính sự
nhỏ bé ấy mà ngài thành tượng đài vĩnh viễn không chối cải được trong lương tâm
thời đại.
“Chép tình yêu trên
trang giấy thơ ngây”: Quả đúng như vậy. Ngày nay mặc dầu Tuệ Sỹ đã đi xa
nhưng thơ ngài, văn ngài, kinh kệ của ngài là thứ tình yêu vô đối còn để lại
trên trang giấy vĩnh viễn, rất thơ ngây nhưng vô cùng giá trị, là cảo thơm cho
văn học sử, là lời dạy của thiền sư trọng vọng trong đạo Phật, là văn tự của
hiền sĩ cho lịch sử Việt Nam.
Bây giờ xin mời qúy vị đọc
khổ thơ cuối của bài thơ:
Đời khách lữ biết bao giờ
yên nghỉ
Giữa rừng khuya nằm đợi
bóng sao Mai
Để một thoáng giấc mơ tàn
kinh dị
Dáng em buồn bên suối nhỏ
mây bay
Đây là một khổ thơ ước mơ
và hy vọng. Đạo Phật quan niệm đời người như một lữ khách lang thang qua ngàn
vạn kiếp: “Hỡi người khách lữ hành trên cõi thế/Đi lang thang vô định đã bao
đời/Vòng tử sinh, sinh tử, nẽo luân hồi/Trong tam giới xoay đi rồi chuyển lại”.
Đời đã buồn như thế nhưng Tuệ Sỹ càng buồn hơn vì đời nầy của ngài đang sống
giữa rừng khuya mờ mịt không biết bao giờ trời sáng lại. Tuy thế nhà thơ vẫn
nuôi một hy vọng lớn lao, ngài chờ đợi bóng sao Mai báo hiệu mặt trời sẽ lên,
ánh sáng sẽ đến. Lúc đó giấc mơ kinh dị của ngài sẽ tàn và ngài sẽ thấy được “Dáng
em buồn bên suối nhỏ mây bay”, nghĩa là em đang đứng trong khung cảnh bình
an. Tất nhiên dáng em vẫn còn buồn vì ngày đó đến bất ngờ em chưa nhận thức
được.
Như trên ta đã biết, em
của Tuệ Sỹ không phải người con gái, Em của Tuệ Sỹ trong thơ là lớp người gánh
chiu nhiều hệ lụy trong cuộc đời, là những người chịu nhọc nhằn đau khổ, những
người bị áp bức, chịu bất công hay có thể ngài quan niệm “Em” là
tất cả những người còn xa lìa với đạo Phật là con đường mà ngài đang tu tập.
Thơ Tuệ Sỹ không chỉ như
bông hoa nở trước mắt ta mà còn như ngôi sao lấp lánh trên trời cao. Như bông
hoa nở trước mắt ta là vì màu sắc tươi đẹp, hương thơm ngọt ngào ta cảm nhận
được ngay. Như ngồi sao lấp lánh trên trời cao là vì những ý siêu đẹp, những tứ
siêu phàm lấp lánh, ta cũng có thể thấy tùy theo mắt mỗi
người, nhưng ai cũng phải ngước lên cao để tìm và phải điều tiết mắt mình để
thấy rõ hơn.
Thấy thì có thấy nhưng kể
lại thì chắc chi ai giống ai, vì thơ Tuệ Sỹ là loại thơ siêu thực. Châu Thạch
tôi cũng vậy, chỉ thấy thơ ngài trong đôi mắt trần tục, suy nghĩ về thơ ngài
trong cái đầu dốt nát của mình, và viết về thơ ngài chỉ để mua vui cho mình và
cho những ai có tấm lòng độ lượng. Mong được tha thứ nếu thấy sai trật điều gì.
Kính cảm ơn qúy vị!
Châu Thạch