Nhân ảnh, một thiên truyện hấp dẫn - Hoàng Thị Bích Hà

1. Đọc Nhân Ảnh của nhà văn Tôn Nữ Diệu Hạnh thật lôi cuốn, tôi không thể nào rời mắt nếu chưa đọc xong tác phẩm. Câu chuyện là cho người đọc rung động và trăn trở trước một bức tranh đời thực, một lát cắt của cuộc sống qua nhãn quan nhà văn. Khi trang sách cuối của truyện khép lại với bao cảm xúc bồi bồi khó tả. Từ góc nhìn tinh tế và khả năng đi vào thế giới nội tâm của con người để tạo ra một thiên truyện hấp hẫn. Giọng văn giản dị, đậm chất Huế nhẹ nhàng nhưng sâu sắc để lại cho người đọc nhiều suy tư ngẫm ngợi.

Vài nét về nữ văn sĩ Tôn Nữ Diệu Hạnh. Chị là con gái Hoàng Tộc triều Nguyễn, sinh sống tại cố đô Huế, là nhà giáo, từng giảng dạy và viết rất sớm. Chị bắt đầu sáng tác từ những năm 90 của thế kỷ trước, năm 1993 chị có tiểu thuyết đầu tay. Đến nay thì chị đã có mười hai tác phẩm. Phần lớn mỗi tác phẩm được trình bày thành hai tập với nhiều chương. Đó là truyện dài (Tiểu thuyết trường thiên) theo cách gọi của người Nhật, người Tàu để phân biệt với truyện ngắn (tiểu thuyết đoản thiên). Ở Việt Nam khi nói đến tiểu thuyết người đọc thường nghĩ đó là truyện dài. Có người lại cho rằng truyện dài là thể loại nằm giữa tiểu thuyết và truyện ngắn.

Nếu căn cứ vào định nghĩa: Tiểu thuyết là một loại tác phẩm văn chương dài, thuộc thể loại tự sự, phản ánh những chuyện đời thường, mô tả cảnh đời, xã hội, tâm lý của nhiều nhân vật trong các mối quan hệ xã hội, có hư cấu, kết cấu chương hồi. Khi tái hiện bức tranh đời thực mang hơi thở thời đại có yếu tố đời tư và mạch tự sự là tính chất của thể loại văn xuôi hiện đại. Như vậy 12 tác phẩm của nàng Tôn Nữ có thể gọi là tiểu thuyết. Từ nhiều năm nay sở trường của chị là văn xuôi, phần lớn là tiểu thuyết hay truyện dài nhiều chương có tầm vóc tiểu thuyết. Sắp tới chị chuẩn bị thử sức ở địa hạt mới là thơ, sẽ xuất bản tập thơ với hơn 100 bài thơ trữ tình trong năm 2024.

Bàn về tác phẩm Nhân Ảnh thì thấy nhà văn chọn tiểu thuyết để thỏa sức sáng tạo thông qua nhân vật, hoàn cảnh, sự việc để nhà văn phản ánh những vấn đề của cuộc sống con người, thân phận con người. Trong đó có tính chất tường thuật và kể chuyện bằng ngôn ngữ văn xuôi. Khuynh hướng sáng tác của Tôn Nữ Diệu Hạnh (nàng Tôn Nữ) bằng bút pháp hiện thực và lãng mạn.

2. Tóm tắt nội dung: Câu chuyện gồm 52 chương xoay quanh nhân vật chính Bích Ngọc (BN). Em được sinh ra ở bệnh viện nhưng mẹ ruột em (vì hoàn cảnh nào đó không nuôi được) đành đoạn gửi con lại bệnh viện. Em được một gia đình hiếm muộn nhận làm con nuôi. May mắn cho em, gia đình mẹ nuôi Quỳnh Dao và ba Minh Quân, bà nội là những người tốt, rất yêu quý, chăm sóc em chu đáo.

Nhưng tai họa bất ngờ - mẹ Quỳnh Dao bị mất sau một tai nạn. Ba vẫn cố gắng làm lụng để nuôi Bích Ngọc học hành nên người. Bích Ngọc vẫn được ba và bà nội chăm sóc nuôi dưỡng. Thời gian sau sức khỏe bà nội ngày càng già yếu, bà nghĩ đến việc lấy thêm vợ cho ba Quân, hi vọng có cháu nối dõi tông tông đường cũng là ao ước của biết bao ông bà. Ba Quân dù không nghĩ đến đi bước nữa, bởi anh rất yêu Quỳnh Dao, dù chị đã mất cũng không ai thay thế được bóng hình vợ yêu.

Bà nội nhờ chị hàng xóm là Cẩm Nhung mai mối, tìm được người phụ nữ tên là Hồng Liên (thị). Cô thường tới chơi, lấy lòng mẹ anh. Mẹ mỗi ngày năn nỉ Minh Quân lấy vợ để có thêm cháu, thêm thành viên cho gia đình bớt neo đơn, mẹ thì ngày càng già không thể ở đời với anh. Mưa dầm thấm lâu, thế rồi anh cũng bằng lòng. Đám cưới diễn ra gọn gàng ấm cúng. Hồng Liên về lúc đầu cũng tỏ ra chăm sóc bé Bích Ngọc. Thời gian sau buôn bán ngày càng khó, nên tính khí dần đổi thay. Công ty nơi Minh Quân cũng gặp khó khăn nên công việc không ổn định. Lúc này trụ cột chính là cô vợ sau. Thị trở nên khó tính, gắt gỏng, anh cũng nhẫn nhịn cho qua, hàng ngày chở vợ đi bỏ mối thịt, làm việc nhà. Sau này việc bỏ mối thịt ở các chợ cũng không đắt hàng nữa. Hồng Liên bắt đầu đi buôn chuyến với Cẩm Nhung. Tình cờ chị gặp lại người tình cũ là Hùng Râu. Lúc đầu chị hoảng sợ nghĩ mình bây giờ đã có chồng. Hóa ra thị đã từng có bầu với Hùng Râu, nhưng Hùng Râu vì lý do gì đó đã bỏ trốn. Cơ hội để chị hợp thức hóa cái bầu là kiếm nhanh một ông chồng, dịp may là có Nhung giới thiệu Quân. (Cẩm Nhung không biết chuyện này). Nhưng vì phải mất mấy tháng Quân mới đồng ý, sợ bụng to nên thị phải đi phá thai. Bây giờ gặplại Hùng, Hùng cứ bám lấy thị khó rứt ra được, sau này hai người đi buôn chung, tách chị Nhung ra. Và thị đã có bầu lại với Hùng Râu. Khi nghe thị có bầu, bà nội mừng lắm! Một hôm bà qua nhà chị Nhung hàng xóm chơi vô tình nghe hai vợ chồng chị Nhung nói chuyện với nhau: Rằng Hồng Liên ngoại tình và đã có bầu với Hùng Râu. Bà bàng hoàng ngã sóng soài tạị bậc thềm nhà chị Nhung, trong người bà đã có bệnh nền tim mạch. Chở bà tới bệnh viện không bao lâu thì bà mất. Trước khi mất bà kịp trăng trối với Minh Quân là vợ sau của anh đã ngoại tình, không phải con anh. Người hiền lành chân chất như Quân không chịu nổi cú sốc này, trên đường về anh suy nghĩ miên man, không làm chủ tay lái đã đâm và lối phân cách và chết ngay sau đó. Như vậy bà nội và ba Quân đã ra đi tức tưởi. Ngồi trước hai cái quan tài, Bích Ngọc đau đớn, từ đây cô đã mất đi những người thân yêu nhất.

Hùng Râu dọn về sống với Hồng Liên và Bích Ngọc, thị sợ trong xóm dị nghị nên bán nhà họ Trần của gia đình Bích Ngọc đi mà về Phú Bài mua đất làm nhà, cách thành phố 60 km. Bích Ngọc bị thôi học ở nhà làm lụng, chạy ngược chạy xuôi và sai vặt như con ở. Lúc này em đã 16 tuổi lại rất sợ trước ánh mắt nhìn như muốn nuốt lấy thân thể Bích Ngọc. Nhân lúc đầy tháng đứa con của thị và Hùng Râu, Thị sai BN đi mua đồ, Hùng Râu bảo để “ba” chở đi. Mặc dù Bích Ngọc đã rất sợ, và thường rất ý tứ nhưng giờ không biết làm gì hơn. Cơ hội đến, Hùng Râu lừa con bé vào nhà nghỉ bằng thuốc mê. Tỉnh dậy, trên người không mảnh vải che thân, bé hiểu ra sự việc. Thế là hết, không thể trở về nơi căn nhà đáng sợ ấy nữa. Thế là B N đi lang thang, tối ngủ ở một mái hiên nhà ai, trong cơn đói, tỉnh dậy vô tình gặp người đàn bà tên là Tuyết tới hỏi chuyện. Dì Tuyết đem bé về nhà, cho ăn uống, sắm sửa quần áo, Bích Ngọc cảm động và thương yêu dì Tuyết tưởng là quý nhân phù trợ, ai ngờ mụ là một tay buôn người. Mụ lại bán bé vào Sài Gòn cho một động gái mại dâm. Không tiếp khách, Bích Ngọc bị đánh đập tàn nhẫn. Hôm nay Quốc Đại Bàng (ông chủ động dâm) tới tuyển người để bán qua Trung Quốc. Gặp Bích Ngọc, ông sững sờ nhận ra những nét quen thân của người xưa của ông (Bích Ngọc là nhân ảnh của mẹ chăng). Từ đó ông cho đàn em ra Huế điều tra lai lịch Bích Ngọc, hỏi chuyện bé, thử adn. Biết BN đích thị là con gái của ông. Ông bồi hồi nhớ lại thước phim ngày cũ, lúc mẹ BN thông báo có thai, Kiến Quốc bảo không thể cưới vì công việc chưa ổn định, bảo mẹ bé phá thai nhưng cô không phá, đợi ngày đi sinh ở bệnh viện cho ai kiếm con.

Ông Quốc cảm thấy tội lỗi quá! Ông từ bỏ giang hồ và hai cha con ông về Nha Trang sinh sống. Ông bù đắp những gì có thể cho con ông. Cô bé học xong đi làm, gặp người thương mến (Bảo Duy) nhưng cô tự ty bào mình không xứng đáng vì quá khứ không may ấy. Rồi có lần cô ốm, đến bệnh viện xét nghiệm. Kết quả xét nghiệm bé tình cơ đọc được trong lúc dọn phòng ba. Cô tự tử, nhưng người yêu cô đã tới chở đi bệnh viện cứu kịp. Cuối cùng Quốc dẫn con gái về Huế, ông chuộc lại căn nhà để lập lại nhà hương hỏa cho họ Trần cũng là cách ông cảm ơn những người đã nuôi nấng con ông. Hai vợ chồng Hùng Râu bị tù do phạm pháp.

Kết thúc câu chuyện là cảnh lúc ti vi mở chương trình “Người đương thời” giới thiệu gương mặt Bích Ngọc. Dù đi qua bất hạnh cô đã vươn lên và sống đẹp, sống có ích, cô mở trung tâm nuôi dạy trẻ em bị HIV và thông qua các chương trình thiện nguyện truyền cảm hứng. Hai vợ chồng Bảo Duy ngồi xem, sau anh đứng dậy đi ra lan can với ánh mắt cay cay, anh bảo: Bích Ngọc ơi! Em đúng là viên ngọc quý!

3. Thế giới nhân vật của truyện được phân ra hai tuyến: Tuyến chính diện: Gồm Bích Ngọc, Bà nội, bà ngoại, mẹ Quỳnh Dao, ba Minh Quân, dì cẩm Nhung. Tuyến phản diện: Gồm Hùng Râu, Hồng Liên và bố Quốc, nhưng sau khi gặp con thì ông tỉnh ngộ và cải tà quy chính. Còn mẹ ruột của BN là nạn nhân của sự phụ tình, xem như nhân vật trung tính. Vì hoàn cảnh mà bỏ con nhưng cũng cố giữ cho đến ngày sinh con ra trên đời.

Nội dung và diễn biến truyện có luật nhân quả chi phối theo tư tưởng Phật giáo. Chi tiết Kiến Quốc lúc trẻ, có thể anh ta yêu nhưng tình yêu chưa đủ lớn, nên anh ta xem như đã phụ rẫy người tình, chối bỏ đứa con đầu lòng của mối tình thời son trẻ. Sau này anh ta lấy vợ thì chẳng may bị hỏa hoạn chết vợ và hai con. Từ đó anh ta đi vào con đường phạm pháp, làm ăn kiểu xã hội đen trong đó có buôn người. Công việc làm ăn của ông ta là giáng lên con gái của mình. Con gái ông (khi chưa nhận ra) bị bọn đàn em đánh đập thừa sống thiếu chết vì không chịu tiếp khách. Từ đó ông biết đau nỗi đau của người làm cha. Những cô gái trẻ bị ông và đàn em buôn bán trên thân xác thì cũng ông cũng thấm đòn đau -nỗi đau của các bậc làm cha làm mẹ khi con cái mình bị chà đạp. Chi tiết Thị và Hùng Râu ăn ở bạc, bất nhân cuối cùng bị tù đày. Luật nhân quả cho thấy quả báo nhãn tiền là thông điệp tác giả muốn gửi gắm trong truyện. Câu chuyện không có xung đột cao trào, ồn ào gì ráo. Dẫu có những lúc thót tim lo lắng cho nhân vật. Nữ văn sĩ đã điềm tĩnh, nhẹ nhàng dẫn dắt người đi theo trình tự logic, hợp lý và thuyết phục. Cứ túc tắc để cho nhân vật thực hiện nhiệm vụ của mình trong văn bản để người đọc dõi theo và cảm nhận. Người đọc đi hết câu chuyện, cũng quặn thắt lòng theo từng biến cố mà bé Bích Ngọc phải chịu dựng. Từ nội dung, ý nghĩa câu chuyện, khép lại trang sách, người đọc đi từ rung cảm, ngẫm ngợi suy tư và từ đó rút ra bài học cho mình. Đôi khi lòng người khó đoán không thể hiểu được người khác toan tính gì. “sông sâu còn có thể dò, lòng người nham hiểm có dò được đâu” (ca dao). Bề ngoài tử tế đấy nhưng rước vợ sau về nhà như rước họa vào thân. Nếu Thị không bước chân vào gia đình này thì Bà Nội và Ba Quân đâu bị chết tức tưởi như vậy.

Câu chuyện cũng là bài học cho những đôi lứa yêu nhau cần có trách nhiệm với chính mình và con cái. Khi đã tạo ra con thì phải nuôi nấng đừng để con lay lắt với số phận trôi nổi lành ít dữ nhiều. Không phải lúc nào cũng gặp người tốt.

Bài học nữa với người dưng khác máu tanh lòng, dì ghẻ, ít ai thương con chồng (con đẻ hay con nuôi) mà nếu có cũng rất hiếm trên cuộc đời này. Còn bố dượng với con của vợ, mà con của chồng cũ của vợ nữa thì coi như miếng mồi ngon mắt, không bỏ qua. (dĩ nhiên trên đời vẫn có những bố dượng và dì ghẻ tốt, nhưng quả thật hiếm. Nếu có, liệu may mắn đó có tới được với con mình không?). Đó là những thông điệp tác phẩm gửi đến người đọc.

Nghệ thuật kể chuyện: Theo trình tự thời gian, trước khi bé chào đời, rồi cuộc đời Bích Ngọc từ nhỏ đến lớn đặt chủ yếu trong không gian Huế thân thuộc.

Từ đời thực nhà văn quan sát rồi bằng tài năng của mình mà xây dựng cốt truyện, miêu tả hành động, diễn biến tâm lý nhân vật tạo ra nhiều tình huống bất ngờ và tính chân thực khá cao.

4. Nhà văn là thư ký của thời đại. Và mỗi người sẽ có một góc nhìn, một cảm quan nghệ thuật riêng. Những tình huống rất đỗi bình thường nhưng khi đi vào trang viết qua ngòi bút của nhà văn sẽ có một ý nghĩa nhất định. Bởi nhà văn đi từ cuộc sống. Thu vào tầm mắt những vấn đề nổi cộm của cuộc sống để khái quát, chọn lọc, tìm vấn đề đặt ra cho tác phẩm. Nhà văn có thể quan sát nguyên mẫu hay tổng hợp cuộc sống vào hình tượng nhân vật điển hình lên trang viết sinh động, tự nhiên như ngoài đời thật. Hoàn cảnh sống, tâm lý, hành động, lời nói của nhân vật người đọc cảm thấy đã gặp ở đâu đó trong cuộc đời này. Câu chuyện Nhân Ảnh rất đời, rất thuyết phục. Vốn sống và tư tưởng thẫm mỹ là chất liệu quan trọng được nhà văn tích lũy để phản chiếu vào văn chương. Từng mảng đời thực của thời đại mình đang sống được tác giả chuyển tải lên trang viết. Văn chương là cuộc đời nhưng phải qua nhãn quan của nhà văn đến tác phẩm là cả quá trình ấp ủ cảm hứng sáng tạo. Để đời sống thực đi vào nghệ thuật dĩ nhiên ít nhiều cần có hư cấu... Tác phẩm nghệ thuật được chắt lọc từ thực tế cuộc sống mới hấp dẫn, lôi cuốn và neo lại trong lòng người đọc là thuộc về tài năng của người cầm bút.

Cuộc sống vốn phong phú đa dạng. Quan trọng là nhà văn chọn vấn đề gì của cuộc sống, nội dung phản ảnh và thông điệp gửi gắm. Mỗi nhà văn sẽ có góc nhìn riêng và một cách chuyển tải riêng. Cuộc sống đi vào trang viết giàu tính hiện thực, nhân vật lạ mà quen. Ai cũng có thể nhận ra là đã gặp đâu đó hoặc tìm thấy một phần đời mình trong đó, để suy ngẫm rút ra bài học cho riêng mình. Cốt lõi đọng lại là tính nhân văn và nhân bản, mà văn học thời nào cũng hướng đến.

Tác giả đã quan sát cuộc sống với góc nhìn tinh tế, chọn vấn đề cần thiết để xây dựng cốt truyện. Chị miêu tả hành động, lời thoại, tính cách, diễn biến tâm lý nhân vật hợp logic và sinh động. Thông điệp cần chuyển tải bổ ích, sát thực. Là người con dân Huế, chị sống gắn bó sâu sắc với Huế, vốn từ mang âm hưởng xứ Huế, bối cảnh chính cũng diễn ra trên đất Huế, dù có đi đâu xa rồi cũng trở về với Huế ở cuối truyện. Ngôn từ có giá trị biểu đạt. Ngòi bút chân thực và giản dị.Văn phong trong sáng, dễ hiểu. Nhân Ảnh đã cho chúng ta thấy một bức tranh đời rất quen, xẩy ra xung quanh chúng ta.

Xuất thân ngữ văn, chị đến với văn chương trên 30 năm rồi đến nay vẫn là một cây bút sung sức. Những tác phẩm của chị đã chứng tỏ là một cây bút vững vàng. Nhưng chúng tôi vẫn mong chị lưu ý những câu văn đôi chỗ còn thừa từ, cần được gọt dũa súc tích hơn. Đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của độc giả. Tuy nhiên, đó chỉ là tiểu tiết có thể khắc phục. . Chất liệu cuộc sống, tư tưởng thẫm mỹ và thông điệp gửi gắm trong tác phẩm mới là điều quan trọng. Thế giới hình tượng thông qua bộ lọc của nhà văn, chọn hình thức phù hợp để xây dựng tác phẩm. Nghệ thuật ngôn từ chuyển tải nội dung là những ẩn ức của nhà văn khiến người đọc suy tư, trăn trở về nội dung văn bản và những lớp nghĩa trong đó sau khi đọc xong một văn truyện. Những trang viết của nàngTôn Nữ xứ Huế quả thật thấm đẫm hơi thở của cuộc sống và đầy tính nhân văn.





Sài Gòn, ngày 25/01/2024

Hoàng Thị Bích Hà 

>> Đọc tiếp…

Đọc "Bài ca cuối cùng", thơ Tuệ Sỹ - Châu Thạch

BÀI CA CUỐI CÙNG

 

Chim trời xếp cánh

Hát vu vơ mấy tiếng trong lồng

Nhớ mãi rừng cây thăm thẳm

Ủ tâm tư cho hạt thóc cay nồng

Rát bỏng với nỗi hơn khổ nhục

Nó nhịn ăn

Rồi chết gục

 

Ta đã hát những bài ca phố chợ

Người ăn mày kêu lịch sử đi lui

Chàng tuổi trẻ cụt chân từ chiến địa

Vỗ lề đường đoán mộng tương lai

 

Lộng lẫy chiếc lồng son

Hạt thóc căng nỗi hờn

Giữa tường cao bóng mát

Âm u lời ca khổ nhục

Nó nhịn ăn

Và chết

 

Ta đã hát bài ca của suối

Gã anh hùng bẻ vụn mặt trời

Gọi quỉ sứ từ âm ty kéo dậy

Ngập rừng xanh lấp lánh ma trơi

 

Đêm qua chiêm bao ta thấy máu

Từ sông Ngân đổ xuống cõi người

Bà mẹ xoi tim con thành lỗ

Móc bên trong hạt ngọc sáng ngời

 

Lồng son hạt cơm trắng

Cánh nhỏ run uất hận

Tiếng hát lịm tắt dần

Nó đi về vô tận

TUỆ SỸ


Nguồn: Giấc mơ Trường Sơn, 
An Tiêm xuất bản, California, 2002

 

Trong bài “Tuệ Sỹ, Thái Độ Của Nhà Sư Nhập Thể”, hòa thương Thích Nguyên Siêu đã viết như sau:

 “Từ thời lập quốc, từ thủa sơ khai của nước nhà Lạc Việt là thời thái bình, an cư lạc nghiệp, đó là buổi bình minh, là tiếng khóc đầu đời của dân tộc Việt có mặt trên dải đất dấu yêu. Để xây dựng cho giang sơn gấm vóc, bao anh hùng liệt nữ đã tô đậm non sông bằng máu đỏ của thân mình để làm tươi thắm ruộng đồng, mà hôm nay Thầy tiếp nối dòng sông lịch sử ấy, đem nước mát, phù sa phì nhiêu cho dân sinh nhuần đượm. Nhưng nay, thời thanh bình thịnh trị đó đã không còn để Thầy phải viết lên tâm tư qua “Bài Ca Cuối Cùng”. “Hình ảnh này là thực trạng của quê hương Việt Nam chúng ta hôm nay. Thầy đã đi từng vỉa hè, góc phố, chứng kiến cảnh trạng đau thương từ muôn người đến muôn vật, từ tình cảm đơn côi đến cái nhìn nhãn quan tổng thể. Thái độ nhập thế không chủ quan, phiến diện mà là tâm trạng đau buồn cho quê hương, dân tộc, ngang qua những hình ảnh xót xa đau đớn. Nỗi đau của dân tộc cũng là nỗi đau của chính mỗi người trong chúng ta. Nỗi đau của người Mẹ mất con, nỗi đau của bà con ruột thịt chia lìa, của cửa mất nhà tan, của một dân tộc bị lưu đày

 Thiết nghĩ, trích đoạn lời bình của thượng tọa Thích Nguyên Siêu đã nói đủ ý nghĩa của bài thơ, nay Châu Thạch tôi chỉ xin bàn về nghệ thuật của bài thơ.

Vào khổ đầu của bài thơ, Tuệ Sỹ giới thiệu cái chết và nguyên nhân cái chết của con chim trời. Chim bị nhốt trong lồng, nó nhớ khu rừng nó sống tự do, nó nhịn ăn và chết:

Chim trời xếp cánh

Hát vu vơ mấy tiếng trong lồng

Nhớ mãi rừng cây thăm thẳm

Ủ tâm tư cho hạt thóc cay nồng

Rát bỏng với nỗi hơn khổ nhục

Nó nhịn ăn

Rồi chết gục

Đọc khổ thơ nầy, dễ cho ta nhớ đến bài thơ “Hổ Nhớ Rừng” của Thế Lữ. Con hổ của Thế Lữ cũng bị nhốt trong củi sắt, cũng nhớ rừng nhưng nó gầm nó thét, nó chịu sống trong tủi nhục để hằng ngày nhớ về quá khứ:

“Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ,

Thủa tung hoành hống hách những ngày xưa.

Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già,

Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi,”

 

…“Có biết chăng trong những ngày ngao ngán,

Ta đương theo giấc mộng ngàn to lớn

Để hồn ta phảng phất được gần ngươi,

- Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi!”

Ngược lại với hổ nhớ rừng, chim cũng nhớ rừng nhưng không chịu nhục, chim nhjn ăn để chết. So mức độ của lòng quả cảm thì con chim nhỏ nhoi hơn, yếu đuối hơn ngàn lần con hổ, nhưng lòng quả cảm, sự tự tôn của nó cao hơn hổ rất nhiều. Thơ là người, Tuệ Sỹ lấy cái chết của con chim để bày tỏ chí khí của mình, và nhà thơ đã làm như thế khi ngài đã tuyệt  thực, không viết đơn xin ân xá khi nhà nước Cọng Sản buộc ngài làm như thế mới phóng thích ngài. Cũng may, trong trường hợp nầy con chim Tuệ Sỹ đã thắng mà không chết.

Khổ đầu của bài thơ viết về con chim, khổ thứ hai của bài thơ tự nhiên viết qua con người, tưởng là lạc đề nhưng không phải lạc đề:

 Ta đã hát những bài ca phố chợ

Người ăn mày kêu lịch sử đi lui

Chàng tuổi trẻ cụt chân từ chiến địa

Vỗ lề đường đoán mộng tương lai

Ta” ở đây là ai? Bài thơ của Tuệ Sỹ nên “ta” ở đây là Tuệ Sỹ rồi. Thế nhưng ta cũng có thể hiểu là chúng ta, là những con người sống cùng thời với Tuệ Sỹ, những người thấy người ăn mày  xuất hiện lại giữa đời, thấy những thương binh cụt chân lê lết trên lề đường. 

Tại sao nhà thơ viết “Người ăn mày kêu lịch sử đi lui”? Bời vì nhà thơ đã từng sống một thời đại không có ăn mày. Nay nhà thơ thấy ăn mày xuất hiện lại, làm ngài tưởng như hình ảnh đó đà kêu quá khứ khổ đau xa xăm quay về hiện tại. Tại sao nhà thơ viết “Chàng tuổi trẻ cụt chân từ chiến địa/Vỗ lề đường đoán mộng tương lại”. Đó là ngài muốn nói đến người thương binh của phe thua cuộc, kéo tấm thân lê lết trên lề đường với bàn tay trắng, vỗ lề đường là cử chỉ  bức xúc,  đoán mộng tương lai vì hiện tại đau thương và tương lai mù mịt .

Tại sao khổ đầu Tuệ Sỹ viết về con chim mà khổ hai lại viết về con người? Tại vì nhà thơ muốn ám chỉ con chim chính là con người hay chính là mình, là Tuệ Sỹ. Tuệ Sy đã “Ta đã hát những bài thơ phố chợ” nghĩa là đã tố cáo  những hình ảnh không đẹp giữa đời nên đã bị bắt nhốt vào tù như thân phận con chim kia bị nhốt vào lồng. 

Qua khổ thơ thứ ba nhà thơ không viết về chim, không viết về người mà viết về huyễn mông: 

Đêm qua chiêm bao ta thấy máu

Từ sông Ngân đổ xuống cõi người

Bà mẹ xoi tim con thành lỗ

Móc bên trong hạt ngọc sáng ngời 

Đêm qua nhà thơ nằm mơ thấy máu, nhưng máu đó không phải do con người chém giết nhau trên đất, mà là máu “Từ sông Ngân đổ xuống cõi người”.  Tại sao? Hai câu thơ nầy nhà thơ muốn nói đến nghiệp, đến nhân quả mà “cõi  người” phải gánh chịu.” Cõi người” đã gieo nhân gì thì “cõi người” nhận quả ấy. Với đức độ của một Thiền Sư, Tuệ Sỹ không nói đến hận thù, không tố cáo  ai gây tội ác, không khuyến khích báo oán mà ngài thức tỉnh con người bằng giáo lý cao siêu của Phật pháp. Ngài chỉ cho thấy “cõi người” gieo nhân thì gặt quả để “cõi người” tự thức tỉnh. 

Bà mẹ moi tim con thành lỗ/ Móc bên trong hạt ngọc sáng ngời” nghĩa là sao và bà mẹ là ai? Tất nhiên ta nghĩ ngay bà mẹ là mẹ Việt Nam, bà mẹ ấy không moi lồng ngực con mình mà moi ngay quả tim con mình để lấy ra hạt ngọc sáng ngời. Trong hai câu thơ nầy nhà thơ muốn nói trong mọi trái tim con của mẹ đều có hạt ngọc sáng ngời. Đứa nào chết, mẹ lấy hạt ngọc giữ lại trên tay mình, hay đúng hơn mẹ giữ nguyên truyền thống tốt đẹp đời đời, dầu cho có một thế hệ con mẹ  suy đồi nhưng viên ngọc trên tay mẹ vẫn còn thì tương lai còn hy vọng . Ý cả khổ thơ hình như nhà thơ muốn “cõi người” hãy nhận viên ngọc của mẹ Việt Nam mà thức tỉnh làm điều lành tránh điều ác. 

Ở khổ thơ cuối cùng Tuê Sỹ cho con chim chết bên hạt cơm trắng, nghĩa là nó chết vì mất tự do chớ không phải vì đói. Khổ thơ muốn nói quyền tự do quý hơn sự sống. Con chim lịm tắt dần trong tiếng hát của mình, đó là tiếng hát tôn vinh quyền tự do. Cái chết của chim thật là bất công, ai oán nhưng là một cái chết quật cường để được tự do cho “Nó bay về vô tận”: 

Lồng son hạt cơm trắng

Cánh nhỏ run uất hận

Tiếng hát lịm tắt dần

Nó đi về vô tận 

Cuối cùng, “Bài Ca Cuối Cùng” là cuối cùng của con chim bị nhốt trong lồng. Cái chết của chim là cái chết của con người bất khuất, đấu tranh cho tự do. Cái chết đó trao cho mẹ Việt Nam viên ngọc sáng ngời, viên ngọc đó nằm trên tay mẹ sẽ không chết bao giờ, là sự bắt đầu của hứa hẹn một tương lai ngọc trong tay mẹ sẽ thay đổi “cõi người” trở nên tốt đẹp hơn!

      




                               

Châu Thạch 

>> Đọc tiếp…

Bài thơ an trú trong hương thiền - Châu Thạch

VỀ MIỀN AN TRÚ

 

Mai mốt em về làm cánh hạc

Ta có muôn phương bay cùng nhau

Rừng tùng xanh sắc hương miền Linh Thứu

Tây phương ánh vàng vằng vặc trăng sao

 

Mình sẽ ngàn năm an nhiên anh nhỉ

Chốn huyền không xanh cội bồ đề

Những sơn thạch gương mặt hồ phỉ thúy

Nước thơm thơm từng giọt giọt suối khe

 

Dựng am cỏ bên đồi tre trúc

Thiền viện đơn sơ tràng hạt chiên đàn

Mỗi chiếc lá cũng mang hồn Phật tính

Mỗi hạt sương ngọt vị bình an

 

Em về cùng anh vui miền an trú

Thắp ánh nhiên đăng soi rọi tâm lành

Khắp cõi thiêng nắng mưa luân vũ

Gió ngàn phương gieo hạt thiện lành.

                                           Vạn Lộc


 

Nhà thơ Vạn Lộc còn vài năm nữa thì vào tuổi bát thập. Cách đây không lâu chị đã tiển đưa phu quân của mình về chốn an tịnh. Tôi nhớ trong bài thơ “Vắng Anh” đăng trong tập “Hái Mùa Động Vạt Nắng”  chị đã khóc bằng lời không bi quan, rất thơ và rất gây cảm xúc: 

Ta xin hái mùa đông vạt nắng

Cài lên câu thơ tóc xỏa bềnh bồng

Và quàng vào tim mình chút ấm

Tựa tay người ve vuốt những niềm đông. 

Trời mùa đông Đà Nẵng u ám mấy tuần qua, sáng nay bắt đầu có chút nắng. Nhìn qua cửa sổ tôi thấy có những vạt nắng mùa đông. Rồi tình cờ lại đọc bài thơ “Về Miền An Trú” của Vạn Lộc, tôi thấy như chính mình cũng được an trú trong hương thiền như bài thơ của Vạn Lộc. Nhu cầu viết nhờ đó lại trổi dậy trong tôi, tôi viết cho tôi, không phải viết cho Vạn Lộc. 

Đọc khổ thơ đầu, ta thấy nhà thơ Vạn Lộc dự phóng một tương lai tốt đẹp của mình ở thế giới bên kia, hứa hẹn với anh của mình đoàn tụ ở cõi tây phương cực lạc: 

Mai mốt em về làm cánh hạc

Ta có muôn phương bay cùng nhau

Rừng tùng xanh sắc hương miền Linh Thứu

Tây phương ánh vàng vằng vặc trăng sao 

Hình tượng loài chim hạc ảnh hưởng sâu sắc trong văn hóa phương Đông và mang nhiều biểu tượng thanh cao. Hạc là con vật tượng trưng cho sự tinh tuý, thanh tịnh, thần tiên thoát tục còn gọi là Tiên hạc. Chim hạc là loài chim của vũ trụ, của tầng cao, có tính cách của người quân tử. Hạc còn được cho là linh vật, là loài chim có phẩm chất cao quý. 

Tương truyền, núi Linh Thứu không chỉ là một nơi nghỉ ngơi mà còn là một nơi tu hành của Đức Phật cũng như các đệ tử của ngài. Địa điểm này thường xuyên được nhắc đến trong các cuốn kinh Pali của Phật giáo Nam tông như là địa điểm thuyết giảng của Phật. Núi Linh Thứu sau này cũng xuất hiện trong Bát-nhã-ba-la-mật-đa tâm kinh, Liên Hoa kinh hay Thủ Lăng Nghiêm kinh. 

Như vậy qua khổ thơ đầu tiên, nhà thơ Vạn lộc đã hứa hẹn với anh cùng hóa hình thành cánh hạc, cùng ngao du nơi chốn trần gian Phật từng ngự, cùng bay về cõi Niết Bàn ở “Tây phương ánh vàng vằng vặc trăng sao”. 

Tôi nghĩ nhà thơ Vạn Lộc có quyền ước vọng như thế vì tác giả là một cư sĩ Phật Giáo, ăn chay trường và tu tại gia nhiều năm qua. Tất nhiên nhà thơ Vạn Lộc dư biết muốn được như thế phải qua ngàn vạn kiếp tu hành nhưng quyết tâm thì sẽ thành hiện thực, vì Đức Phật đã nói “Ta đã thành Phật và các ngươi cũng sẽ thành Phật”.

Đọc khổ thơ một, không ai không thấy lòng thanh thản bởi cảnh sắc được mô tả trong thơ thoát tục, bởi cái tâm được thể hiện trong thơ an bình, thanh thản, thấy trước thế giới bên kia của mình bình tịnh an vui. Khác với người đạo Thiên Chúa có niềm tin chắc chắn vào cõi Vĩnh Hằng khi qua đời nầy, người theo đạo Phật không thể có niềm tin chắc chắn là mình sẽ đến đâu. Thế nhưng qua thơ ta thấy Vạn Lộc như khẳng định nơi mình đến sau kiếp nầy bằng chữ “Mai mốt em về” có nghĩa là sẽ gần đây thôi. Tôi rất thích có niềm tin như Vạn Lộc, vì nó sẽ làm ta nhìn qua thế giới bên kia không sợ hải, không lo âu, không đau khổ. 

Qua khổ thơ thứ hai Vạn Lộc giới thiệu chổ ở trong tương lai mà hai người sẽ sống ngàn năm cùng nhau, nơi đây không là Niết Bàn cũng là tiên giới: 

Mình sẽ ngàn năm an nhiên anh nhỉ

Chốn huyền không xanh cội bồ đề

Những sơn thạch gương mặt hồ phỉ thúy

Nước thơm thơm từng giọt giọt suối khe 

Chốn huyền không” là chốn nào?. Chương Trọng Sơn nói: “Vô định, vô cứ, không phương hướng, không góc cạnh, không khởi đầu, không kết thúc, không hình thể, không dấu vết, tồn tại khắp nơi, không lúc nào không có. Đấy gọi là Huyền Không”. Vậy huyền không ở đây là nơi “Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc. Sắc tức là không, không tức là sắc”. Cái cảm nhận và suy nghĩ ấy nằm trong “Bát nhã ba la tâm kinh” tức là nơi trú ngụ của các bậc giác ngộ. 

Hồ phỉ thúy” ở đâu? Hồ Thanh Hải hay hồ phỉ thúy nước xanh như ngọc phỉ thúy, núi đá bảy màu ở Cam Túc, Thanh Hải, Trung Quốc giáp với Tây Tạng. 

Đọc khổ thơ thứ hai ta thấy Vạn Lộc tưởng tượng một cảnh sống xuất thế, họ sống có lẽ như A-Dam Và E-Va thuở xưa trong vườn Địa Đàng mà Thiên Chúa dựng nên. Khổ thơ cho ta cảm nhận ước vọng sống đơn sơ, không mang linh hồn thần thánh, chỉ mang linh hồn con người thiên nhiên chưa ăn trái cấm, chưa biết tội lỗi là gì, còn trong như tuyết, còn trắng như lông chiên. 

Quả thật vậy, qua khổ thơ thứ ba, nhà thơ Vạn Lộc nói rõ hơn ước vọng sống bình dị của mình, sống như người vừa dựng nên từ tay Thiên Chúa, tâm hướng về Phật, hòa nhập cùng vô vi Lão Tử: 

Dựng am cỏ bên đồi tre trúc

Thiền viện đơn sơ tràng hạt chiên đàn

Mỗi chiếc lá cũng mang hồn Phật tính

Mỗi hạt sương ngọt vị bình an 

“Chiên đàn” đứng đầu trong 5 loại tuyệt đỉnh danh hương, chiên đàn được dùng để làm tràng hạt trì niệm bởi mùi thơm trang nhã và giá trị tâm linh cao tại các quốc gia Phật giáo như Nepal, Ấn Độ, Tây Tạng ...Từ xưa đến nay, thế gian lưu truyền ngũ danh hương – 5 loại hương thơm quý nhất từ thiên nhiên: chiên đàn hương, trầm hương, đâu lâu ba hương, tất lực ca hương và tử đinh hương. Trong đó, chiên đàn đứng đầu vì tương truyền có thể diệt trừ ô trược (tà khí). 

Trong khổ thơ thư ba, nhà thơ Vạn Lộc dựng nên cho mình một khung trời thiền tịnh trong sạch, thơm tho, chẳng khác chi vùng trời của Hàn Mạc Tử cho nhà thơ đi: “Người thơ là khách lạ đi giữa nguồn trong trẻo. Trên đầu Người là cao cả, vô biên và vô lượng: xung quanh Người là mơn trớn với yêu đương vây phủ bởi trăm dây quyến luyến làm bằng êm dịu, làm bằng thành bại....Gió phương mô đẩy đưa Người đến bờ xa lạ, đầy trinh tiết và đầy thinh sắc. Người dừng lại để hái những lá tinh hoa. Người nín lặng để mà nghe tiếng trăng reo vang vang như tiếng châu báu vỡ lỡ. À ra Người cũng dại dột, hốt vàng rơi bọc trong vạt áo.”. Khác Hàn Mạc Tử chăng là nhà thơ Vạn Lộc đi trong vạn vật mang hồn Phật tính. 

Khổ thơ thứ tư là khổ thơ kết thúc trong miên viễn, trong vĩnh hằng hạnh phúc, trong ánh sáng thiện lành: 

Em về cùng anh vui miền an trú

Thắp ánh nhiên đăng soi rọi tâm lành

Khắp cõi thiêng nắng mưa luân vũ

Gió ngàn phương gieo hạt thiện lành. 

Nhiên đăng” là gì?. Chữ nhiên đăng được giãi thích bằng thơ như sau: 

ÁNH sáng từ bi bủa khắp trời

NHIÊN quang đèn huệ rọi cùng nơi

ĐĂNG minh soi thấu trong ba cõi

TỎ RẠNG lý chân chỗ tuyệt vời.” 

“Nhiên Ðăng được xem là vị Phật quan trọng trong các vị trước Thích-Ca. Ngài là vị đại diện cho Phật quá khứ tương tự như trường hợp Di-Lặc được xem là đại diện cho Phật vị lai.

Danh hiệu Phật theo Phạn văn là Dipamkara, dịch âm là “Đề hòa yết la”. Cũng còn dịch tên là Đính quang Phật. Tên Nhiên Đăng là dịch theo ý. Trong Phật giáo đây là một trong những vị cổ Phật đời quá khứ. Tương truyền rằng: lúc sinh thời, thân thể ngài tỏa rực sáng như đèn nên mới gọi tên là Nhiên Đăng. Sau khi Ngài thành Phật cũng lấy tên gọi ấy làm hiệu.” 

Vạn lộc chấm dứt bài thơ trong ánh sáng quá khứ của Phật, trong mưa luân vũ hiện tại, trong gió gieo hạt thiện lành bây giờ. Như thế nhà thơ Vạn lộc và anh của bà đã đi và về được trong thời gian, không dám nói là đã thành Phật nhưng có thể nói là đã vào chốn thiên thần ngự trị. Tất nhiên hiện tại bà đã đi bằng thơ, cởi trên những tư duy thiện lành để bay bằng con chữ sắc màu viên mãn “Đại dương minh vân” mà Đức Phật phóng quang trên 2500 năm trước.

              





                           

Châu Thạch 

>> Đọc tiếp…

Đọc "Ác mộng", thơ Tuệ Sỹ - Châu Thạch

ÁC MỘNG

 

Lại ác mộng bởi rừng khuya tàn bạo đấy

Thịt xương người vung vãi lối anh đi

Nhưng đáy mắt không căm thù đỏ cháy

Vì yêu em trên lá đọng sương mai

 

Anh chiến đấu nhọc nhằn như cỏ dại

Thoảng trông em tà áo mỏng vai gầy

Ôi hạnh phúc anh thấy mình nhỏ bé

Chép tình yêu trên trang giấy thơ ngây

 

Đời khách lữ biết bao giờ yên nghỉ

Giữa rừng khuya nằm đợi bóng sao Mai

Để một thoáng giấc mơ tàn kinh dị

Dáng em buồn bên suối nhỏ mây bay

                       

Rừng Vạn Giã 76

Tuệ Sỹ 

 

 

Có một nhà văn đã viết về Tuệ Sỹ rằng:

Trong số những sáng tác của Thiền sư Thích Tuệ Sỹ, một số lớn được sáng tác trong thời gian một năm tác giả rút về sống cô độc làm rẫy trong rừng Vạn Giã từ 1976 đến 1977. Những bài thơ này được gom lại trong tập “Giấc mơ Trường Sơn”. Ngoài những bài thơ về núi rừng, về vũ trụ, về kiếp nhân sinh, còn có một số không ít bài về tình yêu, rất tha thiết và truyền cảm, là một điều khá ngạc nhiên khi tác giả là một thiền sư”. “Ông biết rất rõ tâm lý con người để có thể diễn tả một cách thuyết phục những lối đi thơ mộng của tình yêu, những tâm tư thầm kín của lòng người, mà không nhất thiết biểu lộ những tình cảm của riêng mình. Mặt khác, trong những câu thơ nói về tình yêu, chúng ta nghĩ là tình yêu thơ mộng nam-nữ, nhưng thật ra có thể đó chỉ là biểu hiện trong thi ca của một tình rộng lớn hơn là tình người.” 

Những lời nhận định trên quả rất đúng. Tuệ Sỹ chính là kẻ sĩ trong truyền thống của Đông phương. Thiền sư Tuệ Sỹ đã thể hiện tinh thần “uy vũ bất năng khuất” của kẻ sĩ không phải chỉ bằng hành động, mà còn bằng những tác phẩm. Qua văn tự, ngài đã viết tác phẩm đó bằng sự hy sinh quên mình, để chia xẻ sự đau khổ với quê hương đất nước. Một trong những bài thơ như thế là bài thơ “Ác Mộng” ngài viết trong rừng Vạn Giã năm 1976, viết trong túp lều tranh do tự tay mình dựng lên, nơi mà đêm xuống nơi đó chẳng có gì cả, ngoài ngọn đèn dầu leo lét trong túp lều tranh và bóng tối mịt mù giữa núi rừng mênh mông. 

Bây giờ xin mời quý vị và tôi cùng mang hai bản chất để đi vào bài thơ “Ác Mộng”. Có như thế chúng ta mới có thể hiểu được một phần nào ý sâu xa trong bài thơ của ngài. Trước hết hãy mang bản chất của tình yêu nam nữ để cảm thụ tiếng thơ tình say đắm, sau đó tùy theo mỗi người, hãy thử mang ít hay nhiều bản chất của một tu sĩ, của người đã xa lánh bụi trận gian để cảm nhận huyền vi trong câu thơ của Tuệ Sỹ. 

Xin hãy bước vào khổ thơ đầu tiên: 

Lại ác mộng bởi rừng khuya tàn bạo đấy

Thịt xương người vung vãi lối anh đi

Nhưng đáy mắt không căm thù đỏ cháy

Vì yêu em trên lá đọng sương mai 

Đọc hai câu thơ đầu ta thấy ngay nhà thơ mơ một giấc mơ hải hùng giữa rừng. Nhà thơ đã thấy “Thịt xương người vung vãi lối anh đi”. Tác giả cho biết “Lại ác mộng” nghĩa là đã từng có ác mộng nhiều lần trong khu rừng ấy. Tác giả cho biết thêm, lại ác mông bởi vì “rừng khuya tàn bạo đấy”. Như thế ác mộng của tác giả có nguyên nhân rõ tàng là do “rừng khuya tàn bạo” mà gây nên. Vậy câu thơ đầu tác giả đã chỉ ngay chủ thể gây ra ác mông là “Rừng khuya tàn bạo”. Chủ thể là gì? Chủ thể là cá nhân, tổ chức tồn tại hiện hữu, nhận diện được qua hành động. Rừng khuyu không thể là chủ thể. Vậy “rừng khuya” trong thơ dùng để ám chỉ một chủ thể nào đó đã gây ra ác mộng cho tác giả. 

Qua hai câu thơ sau “Những đáy mắt không căm thù đỏ cháy/ Vì yêu em trên lá đọng sương mai” là bức tranh vẽ lá trong rừng Vạn Giã . Câu thơ thứ 3 “Những đáy mắt không căm thù đỏ cháy” cho ta đoán được ác mộng xảy ra vào mùa thu trong rừng Vạn Giã, vì mùa thu thì lá úa vàng, nhìn như đỏ cháy. Nhà thơ dùng cụm từ “Những đáy mắt” để chỉ về phần nội tâm, sâu trong nội tâm những chiếc lá không biết căm thù trước sự tàn bạo gây ra. Ta hiểu rừng trong thơ đại diện cho một chủ thể thì lá trong thơ cũng đại diện cho một tầng lớp trong xã hội đương thời, 

Qua câu thơ thứ 4, nhà thơ đột nhiên dùng chữ “Yêu em”. Để hiểu nghĩa rõ hơn hai câu thơ nầy ta có thể viết lại như sau: Những đáy mắt không căm thù đỏ cháy/ Đỏ cháy vì yêu em trên lá đọng sương mai. Ta để ý cụm từ “yêu em trên lá đọng sương mai”. Vậy em trong câu thơ nầy là ai? Là “lá đọng sương mai”, nghĩa là em là những chiếc lá đọng sương mai. Hiểu như thế ta sẽ không còn thắc mắc tại sao thiền sư lại viết “em” trong thơ của ngài. 

Qua khổ thơ đầu ta có thể thấy tuy nhà thơ viết về ác mộng, nhưng đó không phải là giấc mơ khi ngủ mà là ác mộng khi ngài đang thức, bởi vì ngài vẫn thấy rõ lá đỏ đọng sương mai trước mắt mình. 

Tóm lại trong khổ thơ đầu, Tuệ Sỹ viết về một cơn ác mông do xã hội đem đến cho ngài. Ngài thấy cảnh đau khổ trên từng lối đi, ngài cũng thấy tầng lớp bị đè nén thơ ngây như những chiếc lá không biết hận thù, tâm hồn họ đẹp như những giọt sương đọng trên lá mà ngài yêu quý. Vậy lá đại diện cho lớp người bị áp bức được nhà thơ gọi là “Em” và “sương mai” chính là tâm hồn của họ. 

Bây giờ xin mời quý vị đọc tiếp khổ thơ thứ hai: 

Anh chiến đấu nhọc nhằn như cỏ dại

Thoảng trông em tà áo mỏng vai gầy

Ôi hạnh phúc anh thấy mình nhỏ bé

Chép tình yêu trên trang giấy thơ ngây 

Câu thơ đầu “Anh chiến đấu nhọc nhằn như cỏ dại” nói về thế lực của Tuệ Sỹ và ý chí của Tuệ Sỹ. Thế lực của nhà thơ yếu đuối như cỏ dại, nhưng ý chí nhà thơ luôn kiên cường chiến đấu. Trước bạo lực Tuệ Sỹ như cỏ dại nhưng cỏ dại vẫn chiến đấu. Ngài chiến đấu cho ai, chiến đấu vì sao? Câu trả lời rất rõ ràng, chiến đâu cho “em tà áo mỏng vai gầy”, nghĩa là chiến đấu vì tầng lớp yếu đuối và nghèo khó. Hiểu như thế ta sẽ thấy “em” ở đây không là cô gái nào cả mà em ở đây là những giai tầng bị áp bức. 

Hai câu thơ tiếp theo nói về sự thỏa lòng trong tình yêu của nhà thơ và cách bày tỏ tình yêu của nhà thơ. Tất nhiên ta đã biết rõ tình yêu nầy không phải là tình yêu nam nữ, mà là thứ tình yêu cao rộng cho tha nhân, cho người yếu đuối, người chịu sự bất công đè nén: “Ôi hạnh phúc anh thấy mình nhỏ bé/Chép tình yêu trên trang giấy thơ ngây”. 

Ôi hạnh phúc anh thấy mình nhỏ bé”: Tuệ Sỹ hạnh phúc trong sự nhỏ bé thật, bởi vì chính sự nhỏ bé ấy mà ngài thành tượng đài vĩnh viễn không chối cải được trong lương tâm thời đại. 

Chép tình yêu trên trang giấy thơ ngây”: Quả đúng như vậy. Ngày nay mặc dầu Tuệ Sỹ đã đi xa nhưng thơ ngài, văn ngài, kinh kệ của ngài là thứ tình yêu vô đối còn để lại trên trang giấy vĩnh viễn, rất thơ ngây nhưng vô cùng giá trị, là cảo thơm cho văn học sử, là lời dạy của thiền sư trọng vọng trong đạo Phật, là văn tự của hiền sĩ cho lịch sử Việt Nam. 

Bây giờ xin mời qúy vị đọc khổ thơ cuối của bài thơ: 

Đời khách lữ biết bao giờ yên nghỉ

Giữa rừng khuya nằm đợi bóng sao Mai

Để một thoáng giấc mơ tàn kinh dị

Dáng em buồn bên suối nhỏ mây bay 

Đây là một khổ thơ ước mơ và hy vọng. Đạo Phật quan niệm đời người như một lữ khách lang thang qua ngàn vạn kiếp: “Hỡi người khách lữ hành trên cõi thế/Đi lang thang vô định đã bao đời/Vòng tử sinh, sinh tử, nẽo luân hồi/Trong tam giới xoay đi rồi chuyển lại”. Đời đã buồn như thế nhưng Tuệ Sỹ càng buồn hơn vì đời nầy của ngài đang sống giữa rừng khuya mờ mịt không biết bao giờ trời sáng lại. Tuy thế nhà thơ vẫn nuôi một hy vọng lớn lao, ngài chờ đợi bóng sao Mai báo hiệu mặt trời sẽ lên, ánh sáng sẽ đến. Lúc đó giấc mơ kinh dị của ngài sẽ tàn và ngài sẽ thấy được “Dáng em buồn bên suối nhỏ mây bay”, nghĩa là em đang đứng trong khung cảnh bình an. Tất nhiên dáng em vẫn còn buồn vì ngày đó đến bất ngờ em chưa nhận thức được. 

Như trên ta đã biết, em của Tuệ Sỹ không phải người con gái, Em của Tuệ Sỹ trong thơ là lớp người gánh chiu nhiều hệ lụy trong cuộc đời, là những người chịu nhọc nhằn đau khổ, những người bị áp bức, chịu bất công hay có thể ngài quan niệm “Em” là tất cả những người còn xa lìa với đạo Phật là con đường mà ngài đang tu tập. 

Thơ Tuệ Sỹ không chỉ như bông hoa nở trước mắt ta mà còn như ngôi sao lấp lánh trên trời cao. Như bông hoa nở trước mắt ta là vì màu sắc tươi đẹp, hương thơm ngọt ngào ta cảm nhận được ngay. Như ngồi sao lấp lánh trên trời cao là vì những ý siêu đẹp, những tứ siêu phàm lấp lánh, ta cũng có thể thấy tùy theo mắt mỗi người, nhưng ai cũng phải ngước lên cao để tìm và phải điều tiết mắt mình để thấy rõ hơn. 

Thấy thì có thấy nhưng kể lại thì chắc chi ai giống ai, vì thơ Tuệ Sỹ là loại thơ siêu thực. Châu Thạch tôi cũng vậy, chỉ thấy thơ ngài trong đôi mắt trần tục, suy nghĩ về thơ ngài trong cái đầu dốt nát của mình, và viết về thơ ngài chỉ để mua vui cho mình và cho những ai có tấm lòng độ lượng. Mong được tha thứ nếu thấy sai trật điều gì. Kính cảm ơn qúy vị!

                          



                                              

Châu Thạch 

>> Đọc tiếp…