Home » Tăng Gia Kiều
- Trang chủ
- |
- Giới thiệu
- |
- Quy ước
- |
- Tác giả
- |
- Thư ngỏ
- |
- Lá thư Bông Tràm
Tác phẩm kỷ niệm 10 năm hoạt động của Bông Tràm, có sự góp mặt của 50 tác giả với trên 100 tác phẩm. Sách dày 312 trang, khổ 13 x 19 cm, giá 100.000 đồng.
DÒNG SÔNG THƯƠNG NHỚ
Chiều qua dòng Vàm Nao
Lạc giữa mênh mông.
Con sóng xô
Đám lục bình
Nhấp nhô!
Thơ lơ...
Rẫy bắp đầu cồn
Đưa hương đất
Đong đầy trong cánh
mũi
Chiều qua dòng Vàm Nao
Nước mắt tuông rơi
Nhớ dáng mẹ
Tảo tần bên luống rau,
liếp rẫy
Nhớ tấm lưng cha
Phơi ướt mùa khô.
Cho đồng lúa trĩu bông,
Cho mênh mông
Một màu vàng rạng rỡ
Đã bao lâu...
Con chưa qua
Chuyến phà Thuận Giang
Nối đôi bờ cù lao xanh
mướt
Ngắm con sóng Vàm Nao
Lao xao từng nhịp nhớ
Đã bao lâu...
Con quên mất dáng lưng
còng
Bà lom khom
Hái lá trầu còn vương
sương sớm
Con quên mất lời ông kể
Quên mùi khói thuốc đất
giồng
Đặc sệt...
Ngột cả gian nhà vách gỗ
Đã bao lâu…
Con quên mất vị cà na đắng
chát
Quên màu hoa tím ven
sông
Quên cả nụ cười
Cô bạn láng giềng răng
súng.
Giờ chắc đã theo chồng...
Lòng bỗng buồn xa thẳm.
GIẤC MƠ
Mưa rưng rức ngoài hiên
Nhớ hồi nhỏ
Đêm trùm mền nằm bên hơi ấm mẹ
Nghe tiếng nhóc nhen quyện theo ngọn gió đồng
Tràn vào giấc ngủ
Mênh mông…
Tôi thấy...
Trong giấc mơ ngày đó
Có bông gáo vàng ươm rụng trắng ngoài kinh
Chén muối hột chị đâm, nồng cay đầu lưỡi
Mùi quê
Chát ngọt, đậm đà…
Cái trống da ếch anh phơi
Mấy ngọn nắng mong manh úa tàng trên chái bếp.
Tiếng trống tung… tung… tung...
Chiếc lồng đèn giấy kiếng đỏ hồng
Con cá rô đớp bóng trăng rằm
Đêm hội trung thu
Chợt tan theo tiếng dầm khua con nước
Cha bơi xuồng giăng lưới đồng xa
Mẹ đi hái nắng mai khi mặt trời còn đang ngủ
Bên ánh đèn dầu leo loét
Tóc cha thêm sợi bạc, mắt mẹ thêm sâu
Mong cho con bữa cơm nghèo no đủ
Đêm,
Tôi ôm ước mơ vào giấc ngủ…
Tròn đầy…
VỀ QUÊ NGHE MƯA
Về quê nghe mưa
Lộp độp trên tàu
lá chuối non
Rì rào mái nhà
tranh
Xạc xào cây me đầu
ngõ
Về quê nghe mưa
Nhảy múa trên dòng
sông trắng
Từng con sóng nở
hoa
Ca hát với lục
bình
Về quê nghe mưa
Thấm vào vết nhăn
tầng đất
Cho cỏ non mọc ven
đê
Đàn bò thong thả gặm
Về quê nghe mưa
Thấm trên mái đầu
cha
Cho cánh đồng
Vàng bông trĩu hạt
Ướt mái tóc mẹ
Cho rẫy bắp trổ cờ
Em thơ vui ca hát
Nụ cười bà xinh
tươi
NHỚ LŨ
Con ong bầu bay
quanh mái vú
Căn nhà ba gian
văng vẳng tiếng ầu ơ
Ngoài đồng gốc rạ
xác xơ
Chờ con nước đổ
như chờ tình nhơn
Lời mẹ ru ầu ơ
“Gió đưa về rẫy
ăn còng…
Về sông ăn cá, về
đồng ăn cua…”
Con cua đồng ngày
xưa em bắt
Giờ còn đâu trong
bát rau dền.
Mùa nước vắng lềnh
bềnh bông súng trắng
Vắng tiếng dầm khua em hái nắng mặt trời.
Đã bao mùa mẹ hỏi: con nước lũ về chưa?
Bởi ngoài hiên ngọn
gió tây tinh nghịch vui đùa
Làm mẹ tưởng nước
đã về trắng xóa
Đã bao mùa ba thôi
giăng lưới rồi ba?
Ba có nhớ nước như
là mẹ nhớ!
Em hỏi khó làm
trán ba trăn trở
“Nhớ chứ con...”
Rồi ba lặng lẽ ra
vườn…
Tăng Gia Kiều
Đúng 5 giờ chiều, anh Hai sửa soạn lại xe nước, mớ trái cây vừa mua tươi rói được anh sắp gọn gàng lên ngăn tủ, mấy chai si rô, nước ngọt cũng được sắp xếp lên kệ ngay ngắn. Anh Hai kiểm tra kỹ mọi thứ rồi chạy vào nhà bổ sung thêm những gì còn thiếu để chuẩn bị cho một đêm bán hàng thật đầy đủ.
Tôi lấy ống cao su, rút mớ xăng từ chiếc xe máy cà tàng của tôi
ra chai nhựa, rồi rót vào xe anh. Chiếc xe của tôi đúng kiểu “không thắng,
không đèn, không kèn, không chống” được anh giao cho với nhiệm vụ chuyên chở
đống bàn ghế để khách ngồi. Hằng ngày chạy theo sau xe nước trái cây của anh -
là chiếc xe honda đã cũ được “độ” lại kéo theo sau một “quầy bán hàng di động”
là cái tủ sắt đã gỉ màu thời gian.
Chuẩn bị đâu đó xong xuôi, anh Hai leo lên xe rồ máy chạy trước,
tôi cùng với đống bàn ghế sau lưng lẽo đẽo chạy theo sau. Chúng tôi rời xóm lao
động nghèo xập xệ với đầy dẫy những tệ nạn, chạy về hướng con đường bờ kè biển,
dưới chân cầu 3/2, nằm cạnh bên một trung tâm thương mại sang trọng.
Đã một tuần ở đây, tôi đã bắt đầu quen với việc sống về đêm nơi
thành phố biển năng động này. Cuộc mưu sinh bắt đầu từ lúc thành phố sửa soạn
lên đèn và kết thúc khi đã quá nửa đêm về sáng. Công việc bán buôn trên vỉa hè
cũng tương đối là đơn giản, không có gì quá phức tạp. Chỉ trừ những lúc trời
mưa và trốn chạy những cuộc rượt đuổi của đội quản lý trật tự đô thị. Trên con
đường này, những cuộc rượt đuổi diễn ra như cơm bữa và không tuân theo bất kỳ một quy luật cụ thể nào. Nó diễn ra một cách nhanh chóng, gọn gàn không một động
tác thừa đến từ hai phía; phía đội quản lý trật tự đô thị và phía những người
buôn gánh bán bưng trong đó có tôi và hai vợ chồng anh chị Hai.
Đúng năm giờ rưỡi chiều. tôi có mặt trước, tại điểm bán quen
thuộc với nhiệm vụ ngồi “giữ chỗ”, còn xe chở quầy nước thì được anh Hai đậu
lại trước cửa một căn nhà bỏ trống cách chỗ tôi chừng mươi thước, nằm trong
đường nội bộ. Tôi đậu xe lên vỉa hè đối diện chỗ bán, cạnh một băng ghế đá lớn.
Tôi đạp chống giữa, để chìa khóa nguyên trên xe. Rồi lại ngồi trên băng ghế đá
đưa mắt quan sát mọi cảnh vật xung quanh. Biển chiều ở Rạch Giá hiền hòa và êm
sóng, hoàng hôn lặng lẽ trôi về phía chân trời để lại dư âm là một vệt sáng
huyền ảo. Xa xa về phía biển, Hòn Tre thấp thoáng trong sương chiều như một con
rùa lớn nổi lên giữa mênh mông trời biển. Con đường trước mặt tôi nườm nượp xe
cộ qua lại, thành phố bắt đầu lên đèn, cảnh vật bắt đầu lung linh. Nhộn nhịp.
Anh Hai đến ngồi cạnh tôi với ống thuốc lào và ca nước, anh châm lửa vô điếu
rồi kéo một hơi dài, từng làn khói trắng khét lẹt bay lên không trung rồi tan
vào không gian, anh nhấp một ngụm nước rồi lim dim mắt quan sát. Một lúc lâu,
chị Hai từ nhà chạy ra, trên xe là mấy ổ bánh mì:
- Đằng phường im ru à! Mà tui thấy có xe tải với có xe con đậu,
chắc nay có đi tuần đó.
- Kệ đi, mình có bán sớm đâu mà sợ. Mới có sáu giờ mấy mà!
Với kinh nghiệm “chạy đô thị” thì tầm khoảng 6 giờ rưỡi cho đến
8 giờ hơn là thời gian đi tuần của đội quản lý trật tự đô thị, nên các quầy bán
hàng rong sẽ không dọn ra sớm để tránh trường hợp “bị bắt oan mạng”, sớm lắm
cũng tầm 8 giờ họ mới bắt đầu dọn hàng ra. Tuy nhiên cũng lắm lúc đội quản lý
trật tự đô thị sẽ đi tuần đột xuất, có khi trễ hơn hoặc sớm hơn, những lúc như
vậy thì chỉ có nước khiêng đồ đạc, đẩy xe, ôm đồ… mà chạy. Đã có nhiều hộ bị
bắt; bàn ghế, thậm chí là cả quầy hàng bị thảy lên xe tải vì tội lấn chiếm lòng
lề đường. Thế là mất trắng cả vốn lẫn lời ngày hôm đó, rồi tới sáng hôm sau lại
thấy mấy gương mặt bị bắt đêm qua lên phường chuộc đồ về; ít thì đóng phạt vài
trăm, nhiều thì vài triệu; chuộc đồ xong rồi lại về soạn đồ để tối… bán tiếp.
Vòng lẩn quẩn cứ như thế, lặp đi lặp lại. Quầy nước trái cây của anh chị Hai
tôi cũng không nằm ngoài số phận bị bắt, không phải một lần mà đã nhiều lần,
hên là chỉ bị bắt vài cái ghế cái bàn, nhờ vào sự nhanh lẹ của anh chị Hai tôi.
Ngày hôm nay hơi “xui” nên gần 8 giờ hơn, đội quản lý trật tự đô
thị mới bắt đầu đi tuần, chiếc xe tải màu xanh chạy chầm chậm dọc theo con
đường bờ kè, trên xe có khoảng bảy tám người mặc đồng phục, mặt “lạnh tanh” đưa
mắt ngó hai lên hai bên lề đường, chạy tới cuối đường, chiếc xe quẹo trái đi về
hướng Quảng trường Lạc Hồng, bóng dáng vừa khuất khỏi vòng xoay thì từ đâu mấy
xe đẩy cá viên chiên, bắp xào, lụa xào, sinh tố, trà chanh… lũ lượt từ các con
hẻm trong đường nội bộ đẩy ra như họp chợ, bàn ghế được bày nhanh chóng. Một
khung cảnh chợ đêm nhộn nhịp hiện ra đến nỗi sẽ gây lạ lẫm cho những ai lần đầu
tiên thấy. Chúng tôi cũng hòa vào khung cảnh nhộn nhịp ấy. Tôi với chị Hai lấy
mấy chồng bàn ghế trên xe tôi bày ra vỉa hè bên kìa đường, anh Hai thì đến chỗ
đậu xe, kéo quầy nước ra chỗ bán. Nhanh lẹ và gọn gàng. Khách cũng bắt đầu ghé
vô, tôi thì lo chạy bàn phục vụ, anh chị Hai thì không ngớt tay pha chế. Tuy
nhiên, vẫn liếc mắt nhìn xung quanh để “phòng hờ”. Lâu lâu tôi quên anh Hai
cũng nhắc chừng: “Canh canh, chừng chừng nghen mậy!”. Những lúc ngơi tay, tôi
với anh Hai cũng thay phiên nhau qua bên kia đường để canh chừng để đề phòng
bóng dáng “khả nghi” chiếc xe tải của đội quản lý trật tự đô thị. Có lần khách
ghé đông, anh chị Hai lo làm nước, tôi lo chạy phục vụ thì nghe mấy quần hàng
bên lân cận la lớn: “Đô thị rượt”, khi kịp quay sang nhìn thì chiếc xe tải lù
lù chỉ còn cách vài chục mét. Thế là anh Hai phóng lên xe rồ ga bỏ chạy, mặc kệ
nguyên liệu trên quầy ngã nghiêng ngã ngửa, tôi với chị Hai thì mặc kệ khách
đang ngồi, gom bàn gom ghế chạy sang bên kia đường giấu gọn sau băng ghế đá
lớn, khách hàng của chúng tôi chắc đã quen với cảnh rượt đuổi này nên có mấy
người cũng chạy đến phụ ôm bàn ôm ghế dẹp tiếp. Cảnh vừa sợ, vừa thương mà cũng
buồn cười. Hôm đó, chúng tôi chạy trối chết như thế mà quầy nước của anh chị
Hai tôi cũng bị bắt hết mấy cái ghế cóc với một cái bàn vì gom không kịp. Tôi
với chị Hai ngồi bệt trên thảm cỏ vừa thở dốc vừa nhìn mấy cái ghế, cái bàn bị
thảy lên xe tải mà bất lực. Còn khách cũng đứng ngơ ngác nhìn… bất lực như
chúng tôi. Tới lúc định thần quay sang tìm anh Hai thì thấy quầy nước đã đậu
vào chỗ an toàn, còn anh Hai thì lửng thửng rọi đèn tìm mấy cái ca đong si rô
bị rớt lại trên đường lúc anh Hai chạy gấp. Khi đã đi tuần hết con đường và xe
tải đã đầy bàn ghế, đội tuần tra quay về trụ sở kết thúc nhiệm vụ. Hôm đó mấy
quầy hàng lân cận bị bắt cũng khá nhiều đồ, ngoài bàn ghế ,tôi còn thấy có cả
bảng hiệu lẫn bình gas và bếp gas,… Và rồi một lúc sau, khi thấy tình hình đã
ổn, chúng tôi lại bắt đầu… bày hàng ra bán tiếp.
Đối với tất cả những người buôn gánh bán bưng trên vỉa hè nơi
con đường này trong đó có anh chị Hai tôi, những cuộc rượt đuổi như thế không
có gì là quá bất ngờ và xa lạ. Bởi những cuộc trốn chạy như thế chính là một
phần không thể thiếu trong cuộc sống mưu sinh để kiếm tìm cho mình cái ăn, cái
mặc.
Kỷ niệm Rạch Giá ngày 29 / 01 / 2022
Tăng Gia Kiều
Cô gái ngồi trước mũi tắc ráng, ngâm bàn tay nõn nà xuống dòng nước đỏ màu phù sa, từng đợt sóng rẽ đôi, tung bọt trắng xóa. Cô lấy tay khoát từng đợt nước mát lạnh cho tung lên không trung. Rồi nở nụ cười hạnh phúc. Mười mấy năm xa quê ngoại nay cô mới có dịp về thăm, lại ngay mùa con nước lũ đã ngập trắng đồng.
Hai bờ kinh giờ ngập sâu trong nước. Chiếc tắc ráng lướt qua hàng cây mọc ven hai bờ, thi thoảng cô bắt gặp mấy nóc nhà sàn nằm im lìm trên mặt nước. Cánh đồng nước ngập mênh mông. Xa xa mấy luồng dớn vươn lên giữa con nước bằng hàng cọc tràm cao lêu nghêu. Mấy hàng điên điển vàng bông nở rộ, phá tan cái nét bàng bạc, buồn thiu của màu nước. Không gian bình yên quá đỗi. Nếu không có tiếng chiếc máy đuôi tôm phía sau lái phá tan đi sự yên ắng ấy chắc cô đã khóc vì biết bao kỷ niệm tràn về.
Cô gái đưa mắt nhìn cỏ cây bên hai bờ kinh. Mấy loài cây sống chung với mùa lũ đang xanh tốt, từng nhành lá xanh mơn mởn phất phơ trong gió như chào đón, xen kẽ với các thân cây trụi lá, chết khô trong thân thể khẳng khiu héo úa, chỉ chờ ngày mục rã về với đất vì không sống nổi được với con nước ngập. Vòng tuần hoàn quy luật của cuộc đời là vậy. Cô khẽ thở dài, nét buồn lộ rõ trên khuôn mặt làm người đàn ông đứng tuổi ngồi sau đang cầm lái chiếc máy đuôi tôm, nói lớn:
- Sao, lâu lắm mới về quê ngoại. Xúc động hả Thúy!
- Dạ, cậu Năm!
****
Cha má bỏ nhau lúc Thúy còn nhỏ xíu, Thúy cùng cha rời quê ngoại lên Sài Gòn sống cùng gia đình mới. Sau gần 20 năm, Thúy mới có dịp tìm về thăm lại quê Ngoại. Nơi mà trong tiềm thức bé bỏng của cô là một vùng đất xa xôi với nhiều kỉ niệm. Có cánh đồng hai mùa lúa, một mùa nước nổi, có căn nhà sàn quanh năm ngập trong tiếng cười hạnh phúc, có bà ngoại hiền từ, có cha má và các cậu dì luôn dành cho cô tình yêu thương vô bờ bến. Ngày bỏ chốn thân yêu này ra đi Thúy chỉ mới năm, sáu tuổi, nay về thì đã là một thiếu nữ mang vẻ đẹp kiều diễm của chốn thị thành. Quê ngoại vẫn như thuở ấy chẳng thay đổi mấy nhưng cô bé ngày xưa, bây giờ đã lớn.
Tắc ráng cập vào một gò đất cao, nơi có cây gáo lớn ngả tàng ra che mát một khoảng kinh. Trên gò đất, dây bìm bìm, mai dương mọc um tùm. Từ mũi tắc ráng Thúy phóng xuống đất với tay cột sợi dây vàm vào gốc gáo. Cô thiếu nữ nhỏ nhắn vẫn còn giữ cho mình một chút gì đó nhà quê với cái dáng cột dây xuồng nhanh nhẹn như người mẹ ruột ngày xưa. Dẫu cuộc sống chốn thị thành đã tô điểm cho làn da cô trắng đẹp và cách ăn mặc mô đen. Thúy cùng cậu Năm dọn dẹp mớ dây leo xanh mướt đang mọc um tùm. Ngôi mộ hiện ra với tấm bia đã nhuốm màu thời gian. Cô quay xuống tắc ráng soạn mớ đồ cúng ra dĩa, bày trước mộ, rồi thắp nhang rồi quỳ xuống đất, mắt rưng rưng khấn nguyện.
Hình ảnh ngoại Thúy hiện về, với dáng người gầy gầy. Trong trí nhớ ngày ấy, chiều chiều trước hàng ba, cô hay thấy ngoại ngồi chải tóc cho má với dì út. Hồi đó, tóc ngoại dài lắm. Má với dì cũng có mái tóc dài như ngoại, đen mượt như dòng nước chảy ngoài kinh. Còn tóc ngoại thì bạc quá nửa mái đầu. Má nói hồi đó ngoại đẹp lắm, sau ngày ông ngoại mất, bà tiều tụy đi nhiều
Thúy cắm nhang trước mộ, tay vuốt lên tấm bia phủ đầy rêu. Dòng chữ trên bia mờ nhạt làm cô không cầm được nước mắt. Cô đứng dậy, đảo mắt tìm lại nền nhà xưa. Sau ngày ngoại mất, các cậu dì cùng với gia đình riêng đã bán đi căn nhà kỷ niệm ấy để hòa vào dòng người mưu sinh tận Bình Dương. Trong mênh mông nước lũ, cô cố tìm lại hình ảnh mái nhà sàn năm đó. Hình bóng má bơi xuồng hái về rổ bông điên điển, các cậu sau chuyến giăng lưới trên đồng về nhà với tay lưới đầy ắp cá rô. Chái bếp bảng lảng khói lam, ơ cá kho tiêu dì kho tỏa hương ngào ngạt, nồi cơm củi vừa chín thơm lừng. Buổi cơm chiều đầy ắp tiếng cười cùng tình thương khi ngoại dành cho cô bầu trứng cá rô vàng ươm vô chén. Thúy nhớ da diết mùi nước cơm quậy đường nuôi cô khôn lớn qua lời kể của ba trước khi ông qua đời. Đã nhiều lần cô nấu cơm chắt nước pha đường uống, như cố tìm lại hương vị tuổi thơ nhưng vẫn có gì đó thiêu thiếu. Giờ thì cô biết, nó thiếu đi tình thương của quê hương, gia đình, của các cậu, các dì, của mẹ và của ngoại.
Thúy cố nhìn để tìm lại bến sông, nơi có hàng gáo già quanh năm tỏa bóng. Có chiếc cầu ván mà cha bắc cho má ngồi giặt đồ. Làn nước mát lạnh, cô ôm cổ cha mỗi chiều tắm mát. Cô nhớ cái cảm giác sặc nước nồng cay, rát bỏng sâu vào tận trong mũi lúc tập lội cùng cha.
Từng đợt ký ức trong Thúy cứ ùa về tựa như nước đổ lên đồng. Bến sông ngập sâu trong nước lũ, hàng gáo già ngày ấy ai đã đốn từ lâu. Chiếc cầu ván năm xưa giờ đã theo con nước trôi về quá khứ.
***
Chiếc tắc ráng từ từ tách bến. Thúy cố ngoái lại nhìn một lần nữa phía gò đất cao, nơi có ngôi mộ của bà ngoại kính yêu và cây gáo xanh rờn, đong đưa tàng lá. Hình ảnh ngoại trong tâm trí cô lại hiện lên. Dáng gầy gầy ngồi bên mái hiên xưa chải tóc cho dì, chờ má hái điên điển về nấu canh chua, chờ các cậu sau chuyến mưu sinh đồng lũ trở về cùng một khoang xuồng đầy cá. Chờ chiếc ghe hàng với tiếng kèn tàu rền cả khúc kinh để mua cho cô cái bánh bò. Giờ ngoại nằm lại đây trên gò đất bên nền nhà năm xưa. Thúy biết, dù ngoại đã mất, nhưng bà vẫn tiếp tục đợi chờ một điều gì đó như lúc bà còn sống. Gò đất khuất xa theo tiếng nổ của máy đuôi tôm. Nhưng trong đôi mắt, cô vẫn còn thấy cây gáo xum xuê tàng lá đang rì rào trong gió như cố vẫy tay chào. Mùi khói bếp nhà ai từ đâu phảng phất làm mắt Thúy cay cay…
Tăng Gia Kiều
Thằng Vẹn nằm gọn trên bụng cha nó, rưng rức theo từng hơi thở yếu ớt. Nó khóc từ hồi chiều đến giờ nên chắc đã mệt lắm. Lúc này, nó đã không còn đủ sức để khóc tiếp, nhưng hình như có cái gì tức tưởi lắm làm cho nó cứ cố sụt sùi.
Trong màn đêm, dưới ánh đèn dầu lu mờ hắt bóng hai cha con Vẹn lên vách lá. Cha Vẹn nằm im. Cha nó bỏ một chân xuống đất đưa đều đều nhịp võng, tiếng võng siết vào cột nhà ken két như cứa vào màn đêm tĩnh mịch chỉ có tiếng côn trùng, ếch nhái nỉ non. Một tay cha nó chà nhè nhẹ lên lưng thằng còn tội nghiệp, tay kia gác lên trán, mắt cha nó đăm chiêu nhìn lên mái lá. Không biết trên mái lá đang mờ mờ bởi ánh đền dầu yếu ớt lúc này có gì mà khiến cha nó nhìn chăm chú lắm, rồi chốc chốc cha nó lại khẽ thở dài. Tiếng thở dài của cha nó thườn thượt, lặng lẽ trôi vào màn đêm vô tận.
Cha thằng Vẹn nhớ lại lời đay nghiến của bà nội trút lên đầu nó trong bữa cơm chiều làm nó khóc như mưa đến giờ không dỗ được.
“Má mày theo chồng bỏ mày rồi. Mày đừng có nhắc nó trước mặt tao…”
*****
Trước ngày má thằng Vẹn có chồng đâu khoảng một tuần lễ. Trong lúc nó đang ngồi chơi đồ hàng với mấy đứa con nít trong chợ thì má nó kêu về. Má nó xếp sẵn một vali đồ rồi nắm tay đưa nó xuống bến chợ, dưới bến có ghe cha nó đang chờ. Má nó nắm tay nó mà dặn: “Cha con qua rước. Má có công chuyện nên hông có trông con được. Con về bên nội chơi ít bữa. Nữa má qua rước con về”. Thằng Vẹn ôm chặt má nó bịn rịn: “Má nhớ qua rước con về sớm sớm nghen má. Con ở chơi ít bữa thôi chứ con hông muốn ở lâu bên nội đâu.”. Rồi nó thất thểu xuống ghe ngồi thu lu trong khoang, mặt buồn xo nhìn lên má nó. Má nó cũng nhìn. Đứt ruột…
Không phải là thằng Vẹn không muốn về bên nội để gần cha nó. Nó cũng thương và nhớ cha nó lắm chứ. Lâu lâu cha nó có ghé chợ thăm, cho nó tiền, cho nó bánh, ôm nó vô lòng rồi hun. Thằng Vẹn cũng hay được cha nó rước về chơi nhưng nó ít khi nào chịu về, kẹt quá thì nó về chơi được hai ba bữa rồi lại đòi về với má. Nó sợ bà nội nó lắm. Nó sợ cái ánh mắt sắc như dao của bà nội mỗi lần liếc nó. Thằng Vẹn không biết nó có làm lỗi gì cho bà nội nó giận không nhưng hình như bà hông có tình thương đối với nó. Mỗi lần nó về chơi là mỗi lần nó lại bị rầy, không chuyện này thì cũng bị chuyện kia, mỗi lần nó về chơi là mỗi lần cha nó lại bị bà nội hằn học vì dám qua rước nó. Cha nó cũng thương nó. Nhưng cha nó phải đi làm mướn cho người ta từ sáng sớm đến tối mịt. Khuya, nó chỉ được nằm gần cha một chút, nằm trong lòng cha nó, nghe cha nó hỏi han, rồi cha nó cũng ngủ luôn vì cả ngày mệt mỏi. Nhà nội nó nằm trong ruộng, xa làng xóm nên nó cảm giác mình bơ vơ giữa không gian này lắm. Ở chợ đông vui hơn và ít ra nó còn có bạn. Cho nên về chơi hai ba bữa đối với nó là đã đủ lắm rồi. Nó không muốn ở lâu.
Lần này thì khác, cái vali hình như đã đựng toàn bộ quần áo của nó. Nó không biết mình phải ở nhà nội bao lâu. Nhưng có nó linh cảm gì xấu lắm, nó tự nhiên cảm thấy buồn.
Cha nó lóng rày thấy có nó về ở bên đây nên đi làm về sớm. Cha nó cũng quan tâm nó, chơi với nó nhiều hơn. Bà nội nó cũng không rầy nó nhiều nữa, tới giờ cơm bà bới cho nó một tô rồi kêu để mặc nó ăn. Tuy vậy nhưng bà vẫn không nói gì với nó.
Một bữa… hai bữa… một tuần… rồi gần một tháng.
Thằng Vẹn không thấy má nó qua rước nó về như đã hứa. Nó buồn thiu, nó gặng hỏi cha nó mấy lần nhưng cha nó làm thinh. Hỏi bà nội thì nó hông dám tuy dạo rài bà không rầy nó nữa nhưng sự im lặng của bà khiến nó sợ lắm. Hằng ngày nó ra bờ sông ngóng tiếng máy đuôi tôm quen thuộc của ghe má nó nhưng bặt tăm…
Chiều nay trong bữa cơm chiều. Cha nó gắp cho nó khứa cá kho làm cho nó nhớ má da diết: “Má con khoái ăn cá kho lắm á cha. Con nhớ má con quá à. Chừng nào má qua rước con dìa?”. Vừa dứt câu, bà nội nó hất luôn mâm cơm xuống đất. Bà chửi nó như tát nước, rồi trong vô tình bà thốt ra câu nói đầy đắng cay làm nó bàng hoàng khóc như mưa. Cha nó chỉ biết lặng im dỗ nó, dỗ cả buổi nó mới thôi dẫy tử, chịu cho cha nó bồng lên võng đong đưa.
*****
Trời đêm quê buồn đứt ruột. Ngoài tiếng ếch nhái nỉ non sau hè, lâu lâu trong màn đêm yên ả có tiếng máy đuôi tôm dưới kinh chạy ngang ầm ầm, rồi lại nhỏ dần, tan vào trong gian tĩnh lặng. Vẹn lúc này đã thiếp đi vì mệt. Cha nó nhìn nó trìu mến rồi mới khẽ thỏ thẻ: “Má nói chi mà cay đắng dữ vậy? Thằng Vẹn còn nhỏ xíu, nó có tội tình gì đâu?” Bà nội nó trong bếp vọng ra: “Có sao thì tao nói vậy, bây thương nó quá rồi bây khùng hả Toàn. Thằng nhỏ có phải con bây đâu mà bây ôm nó dìa đây. Con nhỏ đó nếu thương con sao nó hông đem con nó theo. Nó gửi lại cho bây, như quăng cái của nợ đời. Nó làm khổ bây rồi làm khổ luôn cả tao”. “Con nói má rồi sao má hổng chịu hiểu, thằng Vẹn là con ruột của con. Con của con, con biết”.
Toàn thương Liễu hồi anh còn làm công nhân trên Sài Gòn. Lúc này Liễu vừa mới đổ vỡ hạnh phúc, ôm bụng bầu bỏ lên Sài Gòn kiếm chuyện làm thuê. Thấy Liễu cực, Toàn thương, rồi Toàn ngỏ ý, Liễu thì mến Toàn bởi vẻ chơn chất, thật thà của chàng trai nhà quê lên Sài Gòn lập nghiệp. Hai người về sống chung với nhau như vợ chồng. Hằng tháng hai người gửi tiền đều đều về cho bà mẹ già của Toàn ở quê. Được mấy năm công việc Toàn không như ý. Toàn đành dắt Liễu về quê, bà mẹ Toàn chưng hửng, rồi từ chưng hửng bà chuyển sang đay nghiến, chuyển sang ghét cay ghét đắng vợ con của Toàn như kiểu ghét của mấy bà mẹ chồng trong mấy tuồng cải lương xã hội. Thương Toàn, Liễu cố nhẫn nhịn mà sống cho qua ngày. Nhưng chưa nát được chiếc chiếu, Liễu chịu hết nổi, đành thôi Toàn. Bơ vơ giữa xứ lạ Liễu đành ôm con ra chợ xã, mướn sạp bán rau rồi ở luôn ngoài đó. Toàn nhiều lần ra năn nỉ, Liễu cũng thương nhưng nghĩ tới cảnh sống trong tủi nhục, Liễu hông chịu nổi. Liễu lắc đầu. Được mấy năm, tình cờ Liễu hẹn Toàn ra để báo tin mình sắp có chồng. Người này tốt lắm, thương cả mẹ lẫn con của Liễu, Toàn đừng gặp thằng Vẹn với Liễu nữa. Toàn đâu có chịu, Toàn định bụng, ráng năn nỉ Liễu quay về, rồi Toàn ráng mần vài năm, cất cái nhà nho nhỏ vừa ở với Liễu vừa chăm sóc bà mẹ già: “Tui nói hết lời mà Liễu hông chịu nghĩ cho tui. Hồi đó tui thương Liễu, thương cả thằng Vẹn. Tui mới ngỏ lời với Liễu. Tui coi thằng Vẹn là con ruột của mình từ hồi nó chưa sanh, tui coi Liễu là vợ tui. Má tui hông chịu cũng có cái lý của má, cái lý của người già mà, Liễu cũng nên cảm thông. Người lớn năn nỉ riết họ cũng chấp nhận. Liễu nhắm người ta có thương Liễu và thằng Vẹn như tui hông, mà Liễu đành đoạn vậy?”. Liễu im lặng. “Tui nói rồi, nếu Liễu muốn có chồng thì kệ Liễu, thằng Vẹn là con tui, Liễu có chồng thì có mình Liễu. Tui bắt thằng Vẹn về nuôi, tui cũng lỡ mang tiếng có một đời vợ với có một đứa con là thằng Vẹn rồi. Tui hông đi bước nữa đâu, tui gáng mần để nuôi thằng Vẹn lớn. Má tui cũng già rồi, bà hông có sống đời để chì chiết mãi.” Câu nói của Toàn như giọt nước tràn lòng Liễu: “Nhưng thằng Vẹn hổng phải con của anh, thằng Vẹn là con của tui, là con của tui anh hiểu hông. Anh làm khổ mẹ con tui chỉ mà dữ vậy. Toàn ơi…!”
Và rồi Liễu cũng chịu để Toàn rước thằng Vẹn về bên đây. Liễu hiểu, ít ra thằng Vẹn còn có Toàn bên cạnh, ít ra Toàn cũng thương thằng Vẹn như con ruột. Thằng Vẹn lại còn có một người bà mang tiếng là bà nội ruột của nó. Liễu tin những gì Toàn nói, dẫu biết niềm tin đó cũng không mấy chắc chắn: “Má hông chấp nhận cũng có cái lý của má, người lớn mà, năng nỉ riết họ cũng xiêu lòng… Má Toàn cũng già rồi, bà hông có sống đời đề chì chiết mãi.” Đối với Liễu lúc đó, Liễu không còn dám tin ai khác ngoài Toàn, dù cho chồng mới của Liễu hứa là sẽ chăm sóc và thương yêu mẹ con Liễu nhưng Liễu không dám tin. Liễu cũng không hiểu tại sao mình không về ở lại với Toàn thay vì bỏ chân đi thêm bước nữa. Mà nếu không dám về với Toàn, tại sao Liễu không ở vậy để chăm sóc thằng Vẹn, không phải là khỏe thân hơn sao. Liễu cảm thấy mình như khúc củi mục trôi lênh đênh ngoài kinh, bấu vô lục bình cũng không được mà tấp vô bờ cũng không xong.
Liễu có chồng, đám cưới rộn ràng cả chợ. Cha má chồng mới của Liễu coi bộ cũng sang trọng lắm, áo dài, đồ vest. Nhà chồng mới của Liễu khá giả nhất chợ, ba má chồng lại có thằng con một chết vợ, có đứa cháu lớn hơn thằng Vẹn vài tuổi. Nên tuy là chắp vá nhưng đám cưới coi bộ cũng không đến nỗi nhỏ. Mỗi tháng ba má chồng của Liễu lại hứa cho tiền gửi qua nuôi thằng Vẹn. Thôi thì cũng được, đỡ hơn cái cảnh hai mẹ con nương tựa và sạp rau.
*****
“Má à, con nghĩ kỹ lắm rồi con mới rước thằng Vẹn về nhà mình. Hồi đó con có hứa với Liễu là sẽ thương hai mẹ con cổ suốt đời. Giờ cổ thôi con, có chồng khác cũng vì không chịu nổi sự khó khăn của má. Duyên con coi như đổ vỡ, con cũng lỡ mang tiếng một đời vợ. Cảnh nhà mình giờ có muốn cưới vợ cũng lấy đâu ra ai xứ này chịu về ở với con. Má cũng già rồi, chì chiết chi hoài chuyện vốn dĩ đã lỡ. Sao má không dành tình thương cho thằng Vẹn như thương con, như thương đứa cháu ruột trong nhà. Chấp nhận mà sống để an ủi lòng mình. Má ơi, má có thương con thì gáng thương luôn thằng Vẹn, nó sống với con từ lúc lọt lòng, nó coi con như cha ruột của nó, con cũng trót coi nó là con ruột của con rồi. Nó còn nhỏ lắm, nó hông biết chuyện người lớn làm đâu. Má cho nó sống bình yên với con, với má, với nhà mình đi nghen má!”
Má Toàn lúc này không biết đã ngủ chưa bà im lặng. Một lúc lâu, bà khẽ trở mình, không thèm trả lời câu nói như xuất phát ra từ tận đáy lòng của thằng con. Bà khẽ thở dài rồi nói vọng ra: “Khuya rồi, bây bồng thằng nhỏ vô mùng đi, để muỗi cắn nó tội nghiệp. Bộ bây định nằm ôm nó đưa võng tới sáng luôn hay sao!”
Tăng Khả Vy