Home » thảo vi
- Trang chủ
- |
- Giới thiệu
- |
- Quy ước
- |
- Tác giả
- |
- Thư ngỏ
- |
- Lá thư Bông Tràm
Tác phẩm kỷ niệm 10 năm hoạt động của Bông Tràm, có sự góp mặt của 50 tác giả với trên 100 tác phẩm. Sách dày 312 trang, khổ 13 x 19 cm, giá 100.000 đồng.
Đứng trước căn phòng cạnh cầu thang lầu hai tôi
chợt bồi hồi. Căn phòng anh vẫn đơn sơ như chính con người anh. Vài ngọn trầu
bà treo lơ lửng bên tường đang cợt đùa cùng bóng nắng. Chừng như tôi đã qua đây
nhiều lần nhưng lần nào căn phòng này cũng đóng cửa và tôi chưa bao giờ biết
anh ở đây.
Hôm nay, tôi mang quyển sách này đến tặng anh.
Tôi tin anh sẽ thích nó. Ngập ngừng, tôi đưa tay gõ cửa. Không tiếng trả lời.
Phân vân, tôi quyết định đẩy cửa bước vào. Cũng dáng vấp thuở nào, anh đang cặm
cụi bên giá vẽ. Linh cảm có người đứng sau lưng, anh lẹ làng quay lại. Gặp anh,
tôi chỉ biết đứng im, lúng túng. Tôi bắt gặp vẻ ngạc nhiên lẫn niềm xúc động
trong cái nhìn và cử chỉ của anh. Không nói, anh đón quyển sách trên tay tôi. Mặc
tôi đứng đó, anh lật xem từng trang. “Mắt biếc”*, có khoảng trời tuổi thơ của
anh và tôi. Ở đó, tôi anh tung tăng giữa thiên nhiên hiền hòa, kỳ diệu; cánh đồng
quê mình và khoảng trời xanh in đậm nhiều kỷ niệm khó phai. Đang xem sách, như
chợt nhớ, anh mời tôi ngồi ghế-chiếc ghế duy nhất trong phòng anh. Tôi không ngồi
mà thích đứng yên tại chỗ, im lặng, nhìn anh. Không nói, anh đến bên giá vẽ, tiếp
tục công việc của anh như chưa từng có sự hiện diện của tôi ở đó.
Bấy giờ, tôi như sống lại năm tháng xa xưa, những
năm tháng tôi và anh cùng học trường làng rồi đến trường tỉnh nhỏ. Tôi như sống
lại những tháng ngày học trò tươi đẹp, những lần cùng làm việc với anh trong
ban biên tập báo “Tuổi trẻ ước mơ “ của nhóm học sinh trong trường trước ngày
giải phóng. Tất cả đều trở thành quá khứ. Giờ đây, anh vẫn chiếc áo sơ-mi trắng
ngày nào, vẫn cặm cụi bên giá vẽ. Song, tôi không còn được ngồi bên anh dưới
giàn hoa giấy trước nhà ngắm trăng khuya, không còn được ngồi bên anh trong căn
phòng nhỏ ngập ánh đèn vàng để viết bài theo từng lời đọc của anh. Giọng đọc trầm
ấm, khắc khoải, thiết tha đầy cảm xúc cho những ước mơ chân thành của tuổi trẻ
không thấy được tương lai.
Thế rồi cuộc chiến chống ngoại xâm ngày càng ác
liệt, anh âm thầm xa trường, xa bạn đi vào cuộc chiến với ước vọng tuổi trẻ
khát khao cống hiến. Từ đó, anh như chim trời biền biệt bay xa. Tôi vẫn ở lại
ngôi trường, tiếp tục những ngày tháng buồn hiu. Tuổi trẻ của tôi chôn kín
trong mong chờ, nuối tiếc. Từ đó, tôi không còn được nghe anh nói về cuộc chiến
hào hùng của dân tộc; không còn được nghe anh hát nho nhỏ những bài ca tranh đấu,
xuống đường; không còn được anh đưa xem những bức ký họa mới nhất với câu hỏi :
“ Đẹp không?” và tôi lại có dịp trêu anh “ Xấu quá!”. Lúc ấy anh cười rất tươi
như vừa được nghe lời khen tặng ngọt ngào.
Bây giờ, trước mắt tôi,
anh vẫn đang ngồi vẽ. Anh vẫn chiếc áo sơ-mi trắng sờn vai, phong trần, bụi bậm.
Anh vẫn sống với những ước mơ cao đẹp, vẫn thích vẽ, thích hát, thích tranh luận,
thích buồn bất chợt và thích.. quên tôi!
Bóng lá trầu bà lay động ánh nắng phản chiếu
trên tấm kiếng cuối phòng làm tôi chú ý bức họa trên tường. Bức họa chân dung một
cô gái trẻ trong bộ đồng phục Thanh niên xung phong. Cô gái với chiếc nón tai
bèo và mái tóc bồng bềnh trong gió, đôi mắt to đen đang mỉm cười cùng bóng nắng
lung linh trong khu rừng xanh ngát. Dưới bức họa là dòng chữ của anh “ D. của một
thời không quên”. Người con gái ấy trông giản đơn nhưng vô cùng quyến rũ. Mái
tóc và ánh mắt cô như có sức mạnh kỳ bí khiến ai nhìn cũng không nở rời đi. Thế
mà tôi lại nghe bầu trời xẩm tối. Tôi không hề trách anh, chỉ tiếc mình đã sống
một thời quá khép kín như con ốc trong vỏ bọc trước cơn biến động của đất nước.
Tôi hiểu, với anh, tôi chỉ là người bạn học
thân thiết đơn thuần. Tôi không đủ khả năng chen chân vào trái tim khao khát
dâng hiến của anh. Bất chợt, tôi nhặt vội quyển sách trên bàn, chạy nhanh xuống
cầu thang. Trước mắt tôi là vùng mưa bụi mù tăm. Cơn mưa ấy đã làm ướt gối tôi
nằm và bên cửa sổ không là ánh nắng chiều, chỉ là ánh trăng khuya bàng bạc!..
Thảo Vi
Gọi xóm Giữa bởi đây là nơi cư ngụ của đồng bào Kinh, hai đầu là xóm của
đồng bào dân tộc Chăm Islam sinh sống. Xóm Giữa nằm bên bờ sông Hậu hiền hòa,
cả xóm chỉ khoảng trên dưới sáu, bảy mươi ngôi nhà.
Thuở ấy, xóm Giữa nghèo lắm. Đa số cư dân sinh sống bằng nghề bán cơm
rượu, một số nhà khá giả hơn nhờ làm nghề thợ bạc, bán tạp hóa, còn lại thì
sống dựa vào câu lưới hoặc làm ruộng. Người dân ở đây sống gần gũi, yêu thương
đùm bọc nhau. Nhà ai hữu sự, những người lân cận đến giúp. Những túi gạo, đồng
tiền của những gia đình khá giả thường đến tay người nghèo trong các dịp lễ tết
hay những ngày rằm lớn.
Cư dân ở đây luôn xem nhau như họ hàng nên mỗi năm cứ vào đêm mùng một
Tết, họ lại thể hiện sự quan tâm, trân trọng nhau bằng cách cả xóm cùng nhau đi
chúc tết. Chúc tết là nét đẹp của dân tộc ta từ nghìn xưa, nhưng ở đây nó lại
mang một nét riêng của cư dân xóm Giữa. Đêm này, mỗi nhà cử ra một người đi
thăm viếng, chúc tết các nhà khác trong xóm. Nếu chỉ đi một phần ba số hộ thôi
cũng phải ghé qua khoảng hai mươi nhà. Đây là những nhà có thờ ông bà tổ tiên cố
cựu, gia chủ thường là người cao niên, có uy tín trong xóm. Thủ tục chúc tết
cũng giản đơn như phong cách của cư dân Nam bộ. Khi đến nhà, khách sẽ xin phép
gia chủ được lạy bàn thờ tổ tiên, cầu những điều tốt lành trong năm mới. Sau
đó, gia chủ và khách cùng ngồi uống trà, thăm hỏi nhau chuyện làm ăn. Tùy tình
hình mà khách sẽ nán lại lâu hay mau, nhưng trước khi kiếu từ, họ cùng trao
nhau những lời chúc tốt đẹp. Cứ thế, người đi chúc tết sẽ mất khoảng hơn hai
tiếng đồng hồ mới có thể đến hết những nhà cần đến. Đêm này, nhà ai cũng có
người coi nhà, tiếp khách. Do nhà không có nhiều người nên đêm mùng một tết tôi
hay ở nhà phụ mẹ. Mẹ tôi ngồi bàn khách, tôi lo nấu nước, châm trà, xếp bánh
mứt ra dĩa.
Ngoài người lớn, bọn trẻ trong xóm cũng rủ nhau đi chúc tết. Chúng hay
đợi ngoài cửa, trong nhà vừa dứt khách là các bạn nhỏ ùa vào, đứa trước đứa
sau, nhanh chóng xếp hàng, cùng lạy bàn thờ. Sau đó, bạn nào dạn dĩ thì đại
diện nhóm đến khoanh tay chúc tết chủ nhà. Mẹ tôi mời các bạn nhỏ ăn bánh mứt
và không quên lì xì mỗi bạn vài cắc bạc. Mùa xuân như rạng rỡ hơn trên gương
mặt, tiếng cười các bạn. Cứ thế, hết tốp này đến tốp khác vào nhà chúc tết. Và
rồi, có lần tôi phát hiện vài bạn nhỏ đến nhà mình nhiều lần trong đêm. Tôi
liền nói nhỏ với mẹ: “Mẹ ơi, bạn T. bạn Kh. bạn S. hồi nãy đã đến lạy rồi, giờ
đang lạy nữa kìa mẹ!”. Mẹ tôi mỉm cười, không nói. Khi các bạn lạy xong, mẹ tôi
vẫn phát bánh và lì xì. Đến lượt các bạn ấy thì các bạn lắc đầu, nói: “Dạ, tụi
con đã nhận lì xì rồi ạ! Tụi con theo các bạn vào lạy nữa cho vui”. Thật ra, mẹ
cũng định lì xì cho các bạn vì mẹ không muốn các bạn ấy bị bẽ mặt và mẹ sẽ có
lời khuyên riêng về tính trung thực. Nhưng rồi, sự chân thật của các bạn đã làm
mẹ tôi vui trọn vẹn. Đến giờ, hơn năm mươi năm qua, các bạn ấy vẫn luôn hồn
nhiên, hiền lành trong trái tim tôi...
Người Chăm trong làng Châu Giang(*) cũng thế. Từ nhiều thế hệ, họ đã sống
ở đây, hai dân tộc luôn có mối giao hòa. Hai dân tộc cùng chung niềm vui những
ngày lễ tết của nhau; con em cùng học chữ Quốc Ngữ ở trường phổ thông trong
làng. Ngày tết truyền thống của người Kinh hay người Chăm, những gia đình thân
thiết thường biếu quà cho nhau.
Tôi nhớ cứ đến ngày lễ hội Eid al Fitr, kết thúc tháng Ramadan (tháng ăn
chay) hay ngày tết Roya Haji của đồng bào Chăm, người Kinh ở xóm Giữa cũng náo
nức, rộn ràng, vui như tết của mình. Những ngày này, người Chăm trang hoàng nhà
cửa, bày tiệc tùng ca hát… Người Chăm xóm trên và xóm dưới qua lại chúc mừng
nhau đều đi ngang xóm Giữa. Ngay từ sáng sớm, những em bé Chăm mặc trang phục
thật đẹp, ngồi trên những chiếc xe lôi(**) chạy khắp làng trên xóm dưới vừa
đánh nhịp vào thùng xe vừa ca vang; trẻ em người Kinh chạy ra sân cổ vũ, người
lớn nở nụ cười vui. Màn đêm buông xuống, những cô gái Chăm với những bộ trang
phục cầu kỳ, đẹp mắt, đầu đội khăn Mat’ra e ấp đi “du xuân”. Họ đi từng tóp
một và lúc nào cũng có các bà mẹ cầm đèn dầu theo hộ tống tạo nên một nét đẹp
kín đáo, dịu dàng, đáng yêu. Ngày thường cũng thế, chỉ đến đêm về, người con
gái Chăm mới ra khỏi nhà cùng với những người mẹ, người bà.
Tôi không sao quên được những đêm thanh vắng, bên trang sách học của tôi, tiếng
kinh cầu du dương từ hai thánh đường Hồi Giáo ở hai đầu xóm Chăm luôn vọng về
như tiếng ru êm của mẹ. Vào mùa cưới cũng thế, đêm đêm, tiếng trống phập phum
hòa theo giọng hát trầm ấm, giai điệu êm đềm của dòng nhạc Bolero được cất lên
bằng hai thứ tiếng Kinh và Chăm luôn làm hồn tôi thổn thức.
Tất cả những cung bậc cảm xúc ngày xưa như còn nguyên trong nỗi nhớ của tôi để mỗi lần về thăm quê nhà, tôi lại thấy bồi hồi. Nhưng rồi tôi không biết mình buồn hay vui khi xóm Giữa đã có nhiều thay đổi mặc dù nó vẫn còn là xóm Giữa. Tôi cứ mơ về con đường làng thơ mộng được che mát bởi hàng cây hai bên đường đan nhánh vào nhau. Những vườn táo, ổi, mận, xoài…cùng làng quê êm ả yên bình đã từng là điểm đến vui chơi, ghi dấu nhiều kỷ niệm của bao thế hệ học trò từ bên kia sông Hậu. Nay con đường đã vác lên mình hàng lưới điện giăng dọc ngang chằng chịt, nhiều khu vườn cây trái thu hẹp, cây cao bóng mát nhường chỗ cho cái nắng chang chang cùng những ngôi nhà xây kiên cố, khang trang mọc lên sát dọc con đường làng. Tiếng nhạc xập xình từ những chiếc loa, thùng bass mở hết công suất làm mất đi cái không gian vắng lặng, trầm mặc vốn có. Nhiều tiệm tạp hóa lớn, nhiều cơ sở dịch vụ phục vụ cuộc sống mọc lên khắp nơi.
Những người bạn nhỏ năm nào không còn ai, một lớp người trẻ tuổi, áo quần thời trang ngược xuôi qua xóm. Tôi bỗng thấy mình cô độc, thấy lòng bâng khuâng trước những cái được, cái mất đang diễn ra. Tôi vẫn biết khi xã hội phát triển, sẽ ít nhiều làm biến đổi bộ mặt làng quê, làm thay đổi nề nếp sinh hoạt, ý thức hệ cư dân. Nhưng tôi không thể ngăn cản một nỗi buồn không tên đang xâm chiếm hồn tôi. Và buồn hơn hết khi tôi biết tập quán đi chúc tết đầu năm của cư dân xóm Giữa vì nhiều lý do đã không còn giữ được... Tất cả chỉ còn trong ký ức của tôi và những người dân cao niên xóm Giữa.
Thảo Vi
___________________________
Ghi chú:
(*) Làng Châu Giang: đơn vị hành chính thập niên 60 - 80 thế kỷ XX. (Xóm Giữa
là một bộ phận của làng Châu Giang). Hiện nay, đổi tên là Ấp Châu Giang, Xã
Châu Phong, thị xã Tân Châu, tỉnh AG.
(**) Xe lôi: Loại xe đạp, gắn thêm cái thùng phía sau, có băng ghế cho khoảng 4, 5 người ngồi. Loại xe này thông dụng đến những năm đầu thế kỷ XXI.
Tiếng loa thông báo chiếu phim phát oang oang ở khu đất trống giữa làng. Trẻ em, người lớn ai cũng nhốn nhào. Trời vừa chạng vạng là các cô gái chàng trai trong xóm diện quần áo bảnh bao đi dập dìu qua ngõ; các bà các má lo cơm nước sớm, chuẩn bị quạt mo, ghế ngồi, chai nước, bánh kẹo í ới gọi nhau. Họ nhanh chân đến sớm để chọn chỗ ngồi thật tốt, để nhìn rõ màn hình. Màn hình là tấm vải trắng, diện tích khoảng 3x4m, được căng dây 4 góc, treo cẩn thận giữa sân. Tiếng máy phát điện kêu rè rè, đoàn chiếu phim tất bật chỉnh máy chiếu, chỉnh âm thanh. Những xìa bánh kẹo, trái cây… được bày bán dọc theo đường dẫn vào sân, tấp nập người mua…
Thuở ấy, hầu hết ở nông thôn không có điện. Những
hoạt động giải trí rất hiếm hoi. Cho nên, lâu lâu đoàn chiếu phim về làng là
đem lại niềm vui lớn cho bà con. Như nắng hạn gặp mưa, xóm làng được thay đổi bầu
không khí, mọi người cảm thấy cuộc sống đỡ nhàm chán hơn. Tôi không nhớ rõ bao
lâu mới có đoàn chiếu phim về làng và cũng không nhớ họ chiếu những loại phim
gì. Chỉ nhớ cảm giác nôn nao vì tụi nhỏ có dịp tụ họp bạn bè, được nhìn những
hình ảnh lạ mắt, được thỏa thích những trò chơi, rượt đuổi nhau đến tận khuya
mà không lo bị ba mẹ la rầy.
Một đêm, trăng nhú chưa khỏi ngọn cây, khoảng đất
giữa sân làng đang tấp nập người lớn, trẻ con nóng lòng chờ đợi những hình ảnh
đầu tiên hiện ra trên màn hình bằng vải trắng. Tôi còn quá nhỏ để biết dằn lòng
náo nức một cách dứt khoát khi quyết định không đến đó xem phim, vui đùa. Tôi đứng
trước hiên nhà, tai lắng nghe tiếng hát tiếng cười từ khu vực chiếu phim chỉ
cách nhà chưa đầy 30 m, lòng cũng tiếc nuối cuộc vui. Nhưng nhà tôi đang có
chuyện buồn; cả nhà đang lăng xăng lo lắng cho ông tôi. Ông đang nằm im trên bộ
ván ngựa trước nhà. Cuối cùng đứa cháu nội chỉ khoảng 6-7 tuổi được ông cưng
chiều đã quên hết những âm thanh cám giỗ ngoài kia, đến ngồi bên ông, rươm rướm
nước mắt.
Ông tôi vẫn mái tóc bạc phơ, đến chòm râu, lông
mày cũng bạc. Gương mặt ông bầu tròn phúc hậu, thời gian đã để lại nhiều nếp
nhăn, nhất là vầng trán, ba nếp sóng lượn nằm song song như nét vẽ tài tình của
họa sĩ. Ông có đôi mắt sáng và ấm áp. Mỗi lần tôi làm nũng với ông, đôi mắt ấy
nhìn tôi như nở nụ cười.
Khi tôi biết nhận diện người thân trong nhà,
ông tôi luôn là sự vỗ về, yêu thương. Không những ông yêu chị em tôi, ông còn
yêu luôn đám trẻ chơi cùng. Chiều chiều ông hay ngồi trên chiếc ghế bố bằng tre
láng bóng để nhìn bọn trẻ chúng tôi chơi lò cò, nhảy dây trước sân nhà. Ông cười
trìu mến và hay cho bọn trẻ chúng tôi vài cắc bạc ăn bánh kẹo. Bộ đồ vải đen với
áo túi ngắn tay và chiếc quần ngắn ngang đầu gối của ông là hình ảnh quen thuộc
trong mắt bọn trẻ chúng tôi. Túi áo ông lúc nào cũng có nhiều bạc cắc. Tôi
không hề thấy ông mua gì ăn, gần như tiền chỉ để dành cho chị em tôi và bọn trẻ.
Ông đã ăn cả đời chán ngán hay ông đang nhường nhịn cho con cháu mau lớn phổng
phao? Tôi không thể hiểu hết. Cái xóm Giữa quê tôi tuy nhỏ, nhưng có nhiều món
ăn vặt hấp dẫn bán suốt ngày; nào là bánh da lợn, bánh tai yến, bánh bò thốt nốt,
bánh tráng chuối nướng, mía ghim, mía khúc, khoai lang, khoai mì, bánh canh,
bánh lọt…Mỗi lần ông ôm tôi vào lòng, thọt tay vào túi là y như rằng tôi có được
ít nhất 5 cắc. Vậy là tôi quên mất ông, ù chạy ra các hàng quán.
Tôi nhớ mãi một buổi trưa vắng lặng, ông nằm
phe phẩy cây quạt mo trên chiếc ghế dựa bằng tre, tôi bò nhẹ nhẹ rồi núp dưới
ghế. Nằm im, tôi chờ ông lim dim đôi mắt. Thấy ông ngủ mê, tôi nhẹ thò tay vào
túi áo ông đang máng nơi đầu ghế mà tim đập liên hồi, tay chân run rẩy. Khi tay
tôi vừa chạm đồng tiền, bất chợt ông gọi “M. à! Ra nội biểu coi”. Chân tay tôi
rụng rời nhưng cũng ráng bò ra khỏi ghế, ngượng ngùng đứng bên ông. Ông đưa tay
ôm tôi vào lòng “Con muốn ăn bánh phải không? Ông cho 5 cắc nè”. Ngơ ngác, tưởng
mình nằm mơ, tôi thở ra nhẹ nhõm, nhoẻn miệng cười, lòng vui như mở hội. Thật
ra lúc ấy tôi chưa biết thế nào là hối lỗi, chỉ biết rất thương ông và từ đó
tôi tự hứa với lòng là không bao giờ trộm tiền ai nữa.
Mùa nước lớn, thỉnh thoảng buổi chiều ông bơi
xuồng chở chị em tôi đi dạo ngoài đồng ruộng, đi hái bông súng, cà na, hoặc chỉ
để ngắm mây trời. Có lần, đến chiều muộn, ông bơi xuồng về, vừa rẽ vào hàng
tre, chị em tôi la khóc, đòi đi nữa. Ông “thương lượng” mãi không được, bỗng
ông té nhào xuống nước mất hút, chị em tôi chới với trên xuồng, khóc thét, gọi
ông. Lúc sau, ông trồi lên khỏi mặt nước, cười khà, chị em tôi mừng húm. Từ đó,
khi đi chơi xuồng cùng ông, chị em tôi không dám cãi lời ông nữa.
Thường ngày, ông hay chặt tre khô làm củi. Tre
tươi ông để chuốt đũa hoặc chuốt khung làm búp sen. Tôi thích ngồi nhìn ông vuốt
tre, đôi tay đồi mồi của ông đưa đẩy cái mác thật nhuần nhuyễn. Từng chiếc đũa
xinh xắn, từng cái khung tre của búp sen được hình thành, từng đống dâm bào mỏng
manh xoắn ốc, có thể tung lên không trung bay lượn. Gần tới tết Trung thu, ông
lại mài mò vuốt tre làm lồng đèn cho chị em tôi. Ngôi sao, ánh trăng, con cá
chép…được ông nắn nót lên khung rồi lụi hụi dán giấy màu. Qua vài ngày, những
ánh đèn được thắp sáng lung linh như tấm lòng ông thắp sáng niềm vui cho các
cháu. Chị em tôi vui mừng cười tít cùng ông, cười cùng chòm râu bạc thân thương!
Trưa nắng bức, ông hay xuống sông tắm mát và
không quên xách lên nhà thùng nước. Ông cởi trần, phơi làn da đồi mồi dưới nắng;
khăn rằn ông quấn cổ, chân đi từng bước chậm chạp từ bến sông lên nấc thang
nhà. Thấy ông già yếu, mẹ hay nói “ Tía tắm trên nhà đi tía, xuống sông chi cho
mệt, nước chứa nhiều trong phuy mà”. Mẹ nói thế chứ ông nào chịu tắm trên nhà,
ông chỉ muốn ngâm mình xuống dòng sông mát lạnh, dòng sông từ thuở thiếu thời
đã trở thành người bạn thân thiết của ông với những đêm câu lưới trên sông để
phụ giúp bữa ăn gia đình. Cuộc đời ông gắn liền với dòng sông ngọt lành, bình dị.
Ông có thể ngồi suốt ngày trên ghế tre trước nhà để ngắm vẻ đẹp dòng sông. Có lẽ
ông yêu lắm những sáng mù sương tỏa khắp bến sông, những trưa yên ả, mặt sông
trong xanh lấp lánh. Trong mắt ông, có nhiều lúc tôi bắt gặp nỗi mênh mông như
chiều nắng nhạt, ông nhìn hun hút theo những chiếc ghe xuôi ngược trên sông, xa
dần, nhỏ bé, không biết nó có chở giùm ông bao ký ức cũ xưa của thời mới đến
đây khai hoang, mở đất…
Nhưng rồi, đến lúc ông cũng không đi tắm sông
được nữa. Ông đành phải tắm sau nhà. Chiều rồi là buổi chiều định mệnh. Ông ra
sau nhà định tắm. Chưa kịp ngồi xuống bậc nhà thì ông ngã quỵ, gục đầu vào
thành phuy nước, bất tỉnh. Cả nhà hô hoán, ẵm ông ra nhà trước; ông nằm im, chỉ
còn hơi thở yếu ớt. Ba mẹ khóc suốt, mời thầy thuốc gần nhà đến khám. Tôi nhỏ
quá nên không hiểu hết sự thật về bệnh tình của ông, đơn giản tôi nghĩ ông bệnh,
nằm im vài hôm sẽ hết. Ông đang trong bộ đồ bà ba trắng bóng, mắt nhắm nghiền,
miệng không còn cười rung chòm râu bạc. Tôi ngồi gần ông một lúc rồi mẹ bảo tôi
đi ra ngoài để thầy thuốc xem mạch cho ông.
Tiếng thoại trong bộ phim chiếu ngoài trời cách
nhà vài chục mét còn văng vẳng, nhưng tâm trí tôi đã không còn để háo hức tiếc
nuối cuộc vui. Ánh trăng cao khỏi ngọn tre, tỏa xuống làng quê thứ ánh sáng dìu
dịu mơ màng. Thoáng chốc, trên đường làng nhỏ trước nhà, lũ lượt người xem chiếu
phim ra về trong tiếng nói cười râm ran cả xóm.
Trăng càng khuya càng sáng tỏ và mọi âm thanh,
tiếng động trong xóm nhỏ cũng im ắng dần. Tôi chùi xuống nằm trên ghế bố của
ông mà nước mắt chảy dài. Từng hình ảnh, từng cử chỉ, lời nói của ông như thước
phim chiếu lại. Cùng lúc đó, ba mẹ và các cô bác, anh chị họ của tôi oà khóc nức
nở, tôi chạy vào gian nhà chính. Mẹ ôm tôi vào lòng khóc ngất. Trên tấm ván ngựa,
ông vẫn nằm im. Khuôn mặt ông tròn đầy như vầng trăng, như vị tiên ông an
nhiên say ngủ; đôi mắt ông đã thật sự khép lại vĩnh viễn mặc cho mọi người gào
khóc.
Nhiều người trong xóm chạy đến. Nhà cửa sáng đèn, người người tất bật. Riêng tôi, tôi chỉ biết đứng lặng trước hiên nhà nhìn mông lung ra bến sông bạc trắng ánh trăng rằm. Trước mắt tôi là nỗi buồn không nói được, vầng trăng bỗng nghẹn ngào, mờ nhạt trong mây...
Tiếng khóc nấc nghẹn của ba mẹ, tiếng người lớn bàn tính việc hậu sự cho ông... Tôi mơ hồ biết rằng từ đây tôi không còn được ông yêu thương, chiều chuộng, không còn được ông cho vài cắc để chạy ra hàng quán trước nhà. Ông còn đâu để ôm tôi vào lòng những khi tôi lầm lỗi. Tình yêu thương, sự bao dung của ông ghi dấu ấn mãi trong tôi, nó hơn cả những điều giáo huấn cao vời.
Ông luôn là ông tiên trong lòng chị em tôi. Sự ra
đi đột ngột của ông để lại trong lòng mọi người bao điều nuối tiếc. Đã hơn nửa
thế kỷ trôi qua, cứ đến đêm rằm tháng 9, tôi hay tìm hỏi vầng trăng “Ông tôi
đang ở đâu? Trăng còn buồn nữa không mà vẫn một màu trắng bạc phai mờ, vẫn cô
đơn giữa bầu trời mông quạnh?”…
Thảo vi
CHẦM CHẬM CHIỀU
“Chầm chậm nhé
chân mềm lên vách núi
chầm chậm nghe
con suối hát lưng đồi
Lặng trong chiều
mây quên nẻo về xuôi
lặng trong em
anh quên sầu vời vợi!”
“Chầm chậm nhé
cây rừng xao xác lá
ngồi bên nhau
chim hót lời ca dao
Chiều trên đồi
em ngủ giấc bình yên
chiều trong anh
nhẹ nhàng giăng mây tím!”
“Đời được - mất
chỉ cơn mơ phù phiếm
đời lợi - danh
hư ảo chốn bụi trần
Ta còn nhau
giây phút hóa nghìn năm
ta còn nhau
thơm mãi nụ môi hồng…”
Thảo Vi
Có câu nói, "tiếng thơ là tiếng lòng thi sĩ". Tôi
vẫn luôn tìm kiếm giữa quanh quẩn đời mình, những tiếng lòng của muôn thi sĩ,
để cảm nhận sự đồng điệu, cũng để lòng xoa dịu niềm đau.
Và tôi đã tìm thấy ở nơi nhà thơ Thảo Vi, tiếng lòng cô với
những chân tình, thật bình yên trong bài thơ Chầm chậm chiều (trích trong tập thơ cùng tên):
“Chầm chậm nhé
chân mềm lên vách núi
chầm chậm nghe
con suối hát lưng đồi
Lặng trong chiều
mây quên nẻo về xuôi
lặng trong em
anh quên sầu vời vợi!”
Một khung cảnh thật đẹp đẽ biết bao, bình yên biết bao! Ờ
nơi ấy chỉ có anh và em, với những bước chân thong thả dạo chơi trên đồi, với
tiếng suối reo róc rách như điệu hát. Ở nơi ấy có gì mà khiến mây xao lãng quên
bay? Và điều gì khiến người quên đi sầu muộn? Sự thinh lặng của chiều cùng nỗi
êm đềm em đã mang đến cho anh, đó là tình yêu hơn nghìn lời nói.
“Chầm chậm nhé
cây rừng xao xác lá
ngồi bên nhau
chim hót lời ca dao
Chiều trên đồi
em ngủ giấc bình yên
chiều trong anh
nhẹ nhàng giăng mây tím!”
À thì ra, không chỉ con người mà ngay đến cảnh vật cũng gần
như chậm lại trước sự bình yên ấy. Cây rừng nhẹ buông những chiếc lá hòa cùng
tiếng chim hót véo von, như thể khúc hát ru cho người say giấc ngủ. Phía hoàng
hôn một màu mây tím ngát, màu tím thuỷ chung của tình yêu đôi lứa.
“Đời được - mất
chỉ cơn mơ phù phiếm
đời lợi - danh
hư ảo chốn bụi trần
Ta còn nhau
giây phút hóa nghìn năm
ta còn nhau
thơm mãi nụ môi hồng…”
Ở nơi ngọn đồi chiều với tình yêu ngả bóng, trong phút giây
danh lợi chẳng là gì, điều được mất cũng trở nên vô nghĩa. Chỉ còn chúng ta mới
thật là hiện diện, cùng môi thơm những nụ tình không phai nhạt.
Tôi được biết, nhà thơ Thảo Vi đã đến ngưỡng lưng chừng
chiều và bài thơ này cô viết cách đây không lâu (năm 2020). Điều ấy khiến tôi
liên tưởng về những cuộc tình trăm năm. Hạnh phúc nhất khi yêu, là được cùng
nhau đi qua những ngày bão dông đời người, cùng nắm tay người bạn đời bước về
phía bên kia con dốc của buổi xế chiều.
Tôi đoán chắc rằng nhà thơ hẳn đã có một mối tình đẹp thời
son trẻ và mối tình ấy kéo dài đến tận hôm nay. Niềm hạnh phúc viên mãn được
thể hiện qua hình ảnh đôi tình nhân ngồi bên nhau trên ngọn đồi hoàng hôn. Và
tạm quên đi dòng đời tất bật, cùng tận hưởng khoảnh khắc của hiện tại, cảm nhận
sự hiện hữu của hai người. Họ, hay nói đúng hơn là tác giả và bạn đời, thật sự
rất may mắn. Nhà thơ Thảo Vi đã có một tuổi thơ khốn khó, thiếu vắng tình yêu
thương nay được bù đắp bằng một tình yêu khác và một tổ ấm khác. Tôi tin điều
ấy đã phần nào chữa lành những thương tổn thiếu khuyết của cô, dù vẫn hằn nơi
đó những vết sẹo thời gian.
Tôi hy vọng rằng, tình yêu ấy sẽ luôn mãi đẹp như thế. Không
chỉ với nhà thơ, mà còn với những tâm hồn đang cô độc, rồi cũng sẽ tìm thấy một
tình yêu đẹp đẽ cho riêng mình.
Trần Kim Thoa
Bầu trời xám xịt. Đám mây đen nặng nề cùng những giọt mưa nhỏ nhoi mà đau điếng như những nhát roi giận hờn giáng lên người Thụy. Mưa. Hồi nhỏ, những lúc thế này Thụy rất vui vì được chạy nhảy dưới mưa. Nhưng giờ đã khác. Thụy cảm thấy nỗi buồn, nỗi sợ hãi đang lớn dần; nó có thể làm Thụy ngã quỵ. Mưa sẽ nuốt chửng, sẽ cuốn trôi Thụy vào cõi mênh mông. Không, Thụy phải về nhà! Nơi này xa lạ quá, Thụy không biết trú mưa vào đâu. Mà trú mưa thì làm sao đón được xe về?
Thụy không nghĩ có lúc mình phải đứng một mình
dưới mưa giông để đón một chuyến xe chiều. Thụy cứ đợi mãi mà cơn giông giận dữ
hình như không chút xót thương. Thụy đáng ghét thế sao? Bên đường, dưới
cây dù che là hàng áo mưa treo bán. Thụy qua đường, mua chiếc áo mưa rồi tiếp tục
nép mình vào tán cây bên đường. Thụy nghĩ cái chết sẽ đến với mình bất cứ lúc
nào nếu có luồng điện sét đi qua. Nhưng không còn cách nào để về nhà nếu không
tiếp tục đứng đây.
- Cô ơi, cô đi về đâu, lên xe tôi chở.
- Không.Tôi đón xe buýt vì tôi đi xa và cũng để
tránh mưa.
- Ồ! xe buýt vừa qua rồi đó cô. Phải nửa tiếng
mới có chuyến nữa.
Thụy ngớ ra. Mình đợi nãy giờ mà sao...
- Xe buýt qua rồi, cô lên xe đi, cô đi đâu, tôi
đưa cô về, tính giá phải chăng thôi. Mưa lớn sắp tới rồi cô.
Anh chạy xe honda cố nài nỉ. Không thể đứng đợi
mãi. Cuối cùng, Thụy phải lên xe một người lạ để đi.
Mưa như trút nước nhưng chiếc xe vẫn nổ máy, cố
gắng chạy trong mưa. Thụy đưa mắt nhìn mông lung hai dãy nhà bên đường nằm buồn
hiu khép cửa, những ngôi trường im lìm, hàng cây đứng rũ trong mưa, những
ngôi chùa hiu hắt, xa xa những ngọn núi mịt mờ mất hút…
Mưa ngày càng nặng hạt, mưa rơi xối xả xuống mặt
đường trắng xóa; anh honda cầm chắc tay lái lướt nhanh. Thỉnh thoảng có vài chiếc
xe tải ngược chiều, pha đèn sáng để chạy trong mưa. Thụy nghĩ: Mưa, Thụy hay
anh lái xe đang vội vã? Ai đang nóng lòng về nơi cần về?
***
Buổi sáng lúc ra đi, Thụy ngồi bất động trên xe
buýt, mắt hững hờ nhìn cảnh vật bên đường. Cảm giác thư thả khi ngồi trên xe
buýt Thụy đã từng trải qua, nhưng hôm nay, Thụy không lý giải được tâm trạng của
mình. Thụy đang chơi vơi để mặc nỗi buồn lang thang hay Thụy đang thỏa
mãn với quyết định ra đi của mình?
Người bán vé xe buýt hỏi "Cô đi đâu?". Thụy không biết nói đi đâu, đành nói "Đi tới bến xe CĐ". Khi
tới bến xe, Thụy tìm tuyến xe khác để tiếp tục đi. Vài anh chạy xe honda cứ
theo hỏi "Cô về đâu, tui sẽ chở cô đến nhà luôn cho tiện". Thụy
bối rối không biết nói về đâu nên vội vã lên chiếc xe buýt đang chờ. Và, Thụy lại
trả lời người bán vé "Đi tới bến xe TB". Cứ thế. Khi xe tới bến xe
sát biên giới, Thụy không thể đi xa hơn nữa. Thụy đành lang thang ngoài đường
dưới cái nắng cháy da, cái đầu vô định. Mệt và đói. Thụy vào quán ăn, quán võng
để đợi thời gian trôi...
Thụy không hiểu tại sao Thụy và anh lại giận nhau bởi lý do vô lý thế. Khi cơn giận đến đỉnh điểm, Thụy chỉ muốn không nhìn mặt anh nữa. Thụy muốn ra đi. Thụy vội nhét vài bộ đồ, quyển sách, điện thoại, khăn choàng... vào túi xách. Cản Thụy không được, anh nhìn vào mắt Thụy: "Em suy nghĩ kỹ chưa? Đi thì đi luôn, đừng về nữa nghe!". Giọng anh dứt khoát, mắt anh lạnh lùng. Thụy không kiềm chế được sự bực tức, Thụy bước nhanh ra khỏi cổng nhà trong nỗi buồn tủi dâng trào.
Trước giờ, mỗi lần giận nhau, dù ai đúng ai
sai, anh cũng làm hòa với Thụy trước. Thụy giận không thèm nói cười với anh cả
ngày, nhưng tối đến anh cũng tìm đủ lý do để gợi chuyện. Nếu Thụy vẫn
"làm cao", anh sẽ giở chiêu cuối cùng "chọc ét" cho
Thụy cười. Chiêu này thì Thụy phải thua, phải cười xòa với anh. Thế là hai đứa
hết giận. Hai đứa lại thấy thương nhau hơn, cần nhau hơn. Anh hay nói "Em
hết giận trước khi ngủ, anh mới yên tâm". Những lúc ấy, Thụy thấy mình thật
hạnh phúc. Hạnh phúc khi có người để giận, có người để thương. Còn lần này, Thụy
không kiên nhẫn đợi anh làm hòa mà chỉ muốn bỏ anh đi dù lòng Thụy đau như cắt.
Trời sắp ngả về chiều mà Thụy vẫn chưa định hướng
được mình phải đi đâu, ở đâu đêm nay. Bạn bè? Người thân? Thụy không muốn làm
phiền ai, không muốn mọi người thấy bộ dạng "đáng thương" của Thụy
lúc này. Thụy không thể giấu trong lòng lý do tại sao Thụy lang thang đến đây.
Còn nói ra thì “Thụy đúng, anh sai” hay “Anh đúng, Thụy sai?” Đàng nào cũng là
sự tổn thương không đáng có!
Suốt buổi trưa, Thụy nằm quán võng, cố đọc hết
quyển sách mang theo mà tâm trí cứ bị phân tán. Quán nước khá ồn ào, tiếng nhạc
từ thùng bass vọng ra, tiếng bàn luận của một nhóm người ngồi uống nước phía
sân ngoài về hậu quả cơn bão số 9 làm lở đất đá vùi lấp gần hết ngôi làng ở miền
Trung. Thụy đã nghe tin này và vẫn thấy tim đau nhói. Cuộc sống thật vô thường.
Thiên tai bất ngờ, thảm khóc, con người trở nên nhỏ nhoi trước cơn thịnh nộ của
đất trời. Bên trong chỗ Thụy nằm là chiếc võng của bé gái, người mẹ đen
nhẽm, quần áo xác xơ, vừa ru bé ngủ vừa chìa sấp vé số mời mọi người mua. Không
hiểu sao chóc chóc Thụy lại hướng mắt nhìn hai mẹ con người bán vé số. Nhìn nỗi
thất thỉu trên gương mặt chị, Thụy cứ nghĩ giờ này chồng chị đang làm gì, có
lao động đỡ đần kinh tế gia đình cùng chị? Có biết chị đang vất vả lắm không? Tại
sao còn những người phụ nữ đáng thương thế? Tiếng ồn và bao nỗi suy tư làm Thụy
không thể chợp mắt, Thụy lấy điện thoại lướt xem những trang mạng và cuối cùng,
Thụy kịp đọc tin nhắn của anh trước khi điện thoại hết pin.
Thụy như người tỉnh cơn mộng mị. Thụy nghe cay
đầu mũi và nước mắt chực trào ra. Ngoài trời mây xám cũng kéo về. Thụy vội vã
chạy ra trạm xe buýt gần nhất.
***
- Mưa quá, mình đục mưa chút hay sao cô?
Thụy trả lời ngay:
- Không, anh cố gắng chạy cho kịp chuyến xe
buýt cuối cùng ở bến xe CĐ giùm tôi. Tôi cảm ơn anh!
Thế là anh lại tiếp tục cho xe lao đi trong
mưa. Đường vắng, xa hun hút, mưa mờ mịt. Hai bên đường đồng lúa xanh mướt đang
ngụp lặn dưới mưa. Tầm nhìn không quá năm mét, nhưng Thụy vẫn thấy những gié
lúa gục đầu như đang khóc. Gió giựt mạnh làm chiếc xe muốn chao nghiêng. Nước.
Thụy cảm nhận nước mưa tạt vào mặt rồi nhỏ giọt, thấm ướt vòm ngực. Nước từ những
vũng nước bên đường bắn tung toé, dần thấm ướt cả người. Cái lạnh cùng cảm giác
bơ vơ, lạc lõng làm Thụy thèm được ngả vào vai anh để tìm chút yên bình.
Thụy đã từng cùng anh chạy xe dưới mưa trong những
lần hai đứa "đi phượt" khắp đó đây. Nhưng giờ, ngồi phía trước Thụy
không phải là anh. Thụy cảm thấy bất an vì không tìm được hơi ấm thân quen từ bờ
lưng vững chãi, không tìm gặp bàn tay anh đưa ra phía sau nắm lấy tay Thụy để
trấn an và truyền niềm tin "Mình sẽ về tới đích". Những lần đi cùng
anh, dù trời mưa hay nắng, dù đêm tối hay sớm mai, thậm chí khi hai đứa lạc đường
về trong chiều tối muộn... Thụy cũng vững tin vì có anh bên cạnh. Thụy chỉ việc
ngồi yên sau lưng anh. Những lúc ấy, Thụy nghĩ dù Thụy lạc mất cả thế gian này,
Thụy cũng không sợ, Thụy chỉ cần có anh là đủ. Thụy có thể đi cùng anh khắp góc
bể chân trời, chung vai cùng anh qua bao khúc quanh thăng trầm cuộc đời mà
không hề chùn bước.
Hôm nay, hình ảnh người phụ nữ khắc khổ vừa ru
con ngủ vừa bán vé số cứ hiện ra trong tâm trí Thụy. Chị ấy nhà ở đâu, đi bán vất
vả thế còn chồng chị làm gì? Anh ấy cũng đang cực lực tìm kế mưu sinh hay suốt
ngày ngồi bên bàn nhậu, mê say những trò đỏ đen, hay anh đã..ra đi mãi mãi?
Nghĩ mà thương cho chị. Còn Thụy…
***
- Tới bến xe rồi cô ơi. Xe đang chờ khách, cô
mau lên đi.
Thụy vội lấy tiền trả anh lái xe honda. Thụy gởi
anh thêm ít tiền vì thấy anh đã cố gắng vượt qua cơn mưa để đưa Thụy đến nơi.
Anh nói lời cảm ơn khi Thụy bước lên xe buýt. Trời cũng vừa dứt hạt.
Thế là còn vài chục cây số nữa Thụy sẽ tới nhà.
Không hiểu sao Thụy lại nghe cồn cào nỗi nhớ. Có lẽ do lần này Thụy đi khỏi nhà
trong nỗi cô đơn, buồn bã hay Thụy đã chạm tới tột cùng của sự hối tiếc, bơ vơ?
Hình ảnh gian bếp nhỏ, cái bàn ăn, hai chiếc võng song song, tách trà thơm buổi
sáng, giàn hoa trước nhà, vườn cây bên cửa sổ phòng ngủ xanh um, đến chén cháo,
viên thuốc anh chăm khi Thụy bệnh... cứ vây lấy Thụy. Và giờ đây, Thụy nhớ nhất
là từng lời trong tin nhắn của anh "Em về đi, anh đang sốt và nhớ em lắm".
Thụy như nghe được giọng nói trầm ấm, thân quen của anh. Tin nhắn của anh
như cái phao giúp Thụy đủ sức vượt qua cơn lốc xoáy mụ mị trong đầu.
Chốc nữa khi vào nhà, Thụy phải làm mặt sao
đây? Ngượng quá đi! Nhưng phải cố lên, cũng đáng cái tội giận hờn bỏ đi. Chốc nữa,
không biết anh sẽ vui vẻ đón Thụy hay anh đang vật vã với cơn cảm sốt? Anh sẽ
nói gì với Thụy? Bao câu hỏi không đáp án, quay cuồng.
***
Xe dừng ngay trạm gần nhà, Thụy xuống xe và đẩy
cửa cổng vào sân.
Anh gặp Thụy, nhưng anh lại tiếp tục công việc cho đất vào chậu trồng hoa, anh vờ như không có sự hiện diện của Thụy. Thụy cũng vờ như không thấy anh, đi thẳng vào phòng... nằm khóc. Thì ra anh nhắn tin xí gạt cho Thụy về. Anh vẫn khỏe mà. Giờ, Thụy không quan tâm điều đó nữa. Thụy thấy mừng vì anh bình an. Nhưng nước mắt Thụy cứ chảy vì ấm ức trước thái độ lạnh lùng của anh. Thái độ của anh không giống những gì lúc nãy Thụy nghĩ. Hôm nay, anh lại học cách "làm cao" của Thụy. Trước giờ, Thụy hay thế, cứ luôn mâu thuẫn với chính mình. Yêu anh diết da mà cũng dễ giận hờn, cự cãi. Muốn làm lành với anh nhưng hay tỏ ra bất cần...
Đang nghĩ miên man Thụy bỗng giật mình vì
tiếng chí chóe ỏm tỏi của bầy chim sáo trên ngọn cây trứng cá ngoài cửa sổ.
Chúng bay lượn, la hét, mổ nhau rân trời... Và cũng từ khi nào anh đã ngồi bên Thụy:
- Hôm nay em đi chơi đâu, vui không? Nói
anh nghe với.
Thụy lau vội nước mắt, cố tình nhìn bầy chim
sáo đang rượt đuổi nhau để lảng tránh câu trả lời và ánh mắt trìu mến của anh.
Thụy nói bâng quơ:
- Không biết chúng đang tranh cãi nhau hay đang
đùa giỡn hén?
Anh mỉm cười nhìn ra cửa sổ. Trên những cành trứng
cá, ngôi nhà của lũ chim, lá mới non xanh.
Bất giác, Thụy nghe hơi ấm quen thuộc từ cánh
tay anh choàng qua vai Thụy. Thụy cảm nhận hạnh phúc thật giản đơn mà đôi khi
mình không nhận ra. Hạnh phúc thật giản đơn nhưng hạnh phúc không dễ vẹn nguyên
cùng năm tháng nếu không được cả hai cùng vun đắp. Thụy muốn ghì chặt cánh tay
anh mãi mãi.
Ngoài kia, bầy chim sáo vẫn reo vui. Bầu trời
sau mưa trong veo mặc hoàng hôn đang dần xuống. Đêm thật bình yên!
Thảo Vi
Mẹ đọc và viết được chữ Quốc ngữ dù mẹ chưa một
ngày đến trường. Lớp học của mẹ là tấm vách buồng, mẹ học lóm từ cậu 8 qua lời
giảng dạy của ông ngoại. Dù kiến thức mẹ hạn chế, nhưng với tôi, tâm hồn mẹ, những
điều tốt đẹp từ mẹ là cả một kho báu vô tận mà đến ngày mẹ rời xa tôi (năm tôi
19 tuổi), tôi vẫn chưa “học" hết.
Khi bắt đầu nhận thức về mẹ, hình ảnh mẹ gầy
gò, mong manh do bệnh tình gặm nhấm đã in sâu vào trí nhớ của tôi. Cái dáng nhỏ
liêu xiêu ấy là cả một dòng sông, con suối ngọt ngào tắm mát hồn tôi suốt thời
thơ ấu.
Dù bốn mùa mẹ ít khi khỏe hẳn, nhưng bù lại, mẹ
là người đàn bà hạnh phúc. Ngoài thời gian đi làm kiếm tiền nuôi sống gia đình,
thời gian còn lại trong ngày, ba tôi dành hết để yêu thương, chăm sóc mẹ. Tôi rất
sợ những hôm đi học về, nhà vắng lặng, mâm cơm nguội lạnh trên bàn, ba ngồi bó
gối góc nhà, buồn hiu. Mẹ bệnh! Lúc ấy tôi thèm được nghe tiếng nói cười, tiếng
gọi “mình ơi” từ ba mẹ, thèm không khí rộn ràng như tết khi nhìn mẹ bày ra làm
nhiều loại bánh mứt, xôi chè và những bữa cơm tươm tất cho gia đình.
Mẹ rất ít nói, mẹ không biết dùng từ hoa mỹ để
lấy lòng ai, nhưng cách cư xử, lòng nhân ái của mẹ đã chiếm trọn cảm tình của
người thân, họ hàng và bà con thôn xóm. Ai tiếp xúc mẹ một lần cũng cảm nhận được
nét hiền từ toát ra từ vầng trán rộng và đôi mắt to buồn.
Mẹ không những gìn giữ được mái ấm gia đình, mẹ
còn cưu mang cả những người cháu họ của ba đến ở nhờ khi họ làm ăn thất bại.
Chái bếp mẹ ngồi, cơm sôi hai buổi, lòng mẹ
cũng toả ấm ân tình với những người hàng xóm thiếu gạo, thiếu tiền tìm đến mẹ.
Dù ít nhiều, mẹ vẫn chia sẻ. Mẹ nói giúp người ta khi hoạn nạn, mẹ thấy rất
vui. Mẹ giúp người vì thương người và mẹ hy vọng, khi không còn mẹ trên đời thì
người khác sẽ giúp lại con. Suy nghĩ giản đơn ấy của mẹ đến bây giờ giờ
tôi mới thấm thía.
Dù hơn nửa thế kỷ qua, tôi vẫn không quên vườn
chuối hột sau nhà của mẹ. Đây là vườn chuối mẹ thường xuyên bán lá, để dành tiền
may áo mới cho chị em tôi. Phía sau vườn chuối là khoảnh đất rộng, mẹ trồng
các loại rau đậu cho bữa cơm gia đình. Mỗi ngày, sáng chiều, tôi rất thích theo
mẹ ra tưới nước và hái trái. Từ khoảnh đất này có con đường mòn quanh những bụi
tre dẫn ra xóm nhà sau hè. Xóm nhà này đa số dân nghèo, mưu sinh bằng nghề bán
cơm rượu. Xóm nhà sau hè cách dãy nhà đường lộ chính bởi khoảng đất vườn hoặc
những hàng tre.
Tôi thích lang thang chơi cùng bạn bè dưới bóng
mát hàng tre. Có khi chúng tôi dựng lều chơi nhà chòi suốt buổi trưa. Những bụi
tre sầm uất sau nhà là tâm huyết của ông nội tôi. Ông không bao giờ cho ai đốn
măng tre để ăn hay bán. Ông bảo ăn măng tre tội lắm. Ông chỉ nói thế, tôi cũng
chỉ hiểu có thế. Và những bụi tre cứ thế mà lớn sum suê, trở thành những người
bạn thân thiết của gia đình tôi.
Ông tôi dưỡng từng mục măng tre và
mong chúng mau lớn. Một mục măng tre mới nhú lên là niềm vui của ông thêm
chút. Thế nhưng, thỉnh thoảng, ông buồn hiu khi ra thăm những bụi tre. Lúc đó,
tôi biết măng tre đã bị "kẻ xấu" trộm rồi!
Một buổi trưa, mẹ có dịp đi ra xóm nhà sau hè
và chị em tôi cũng được đi cùng. Đang đi trên con đường mòn, không hiểu sao mẹ
lại dẫn chúng tôi rẽ phải, đi qua con đường khu nghĩa địa, khó đi. Sau khi thăm
người bà con, mẹ dẫn chị em tôi về theo con đường mòn cũ. Tôi không quan tâm vì
sao lần này mẹ lại dẫn chúng tôi đi như thế. Đến chiều tôi mới nghe mẹ nói với
ba. Thì ra, khi ba mẹ con đi ra đồng, từ xa mẹ đã nhìn thấy có người đang lui
cui đốn măng tre, người đó là chú Đ. Chú này bị bệnh phong cùi, gia đình
nghèo, vợ buôn bán tần tảo nhưng không đủ nuôi con. Gia đình này là một trong
những gia đình ba mẹ hay giúp đỡ. Thế mà hôm nay, ba mẹ mới biết người trộm
măng tre là chú. Sau đó ít lâu, em trai tôi chạy chơi ngoài hàng tre, bắt gặp một
mục măng lớn ai để tại gốc tre. Mẹ tôi hiểu ngay. Mẹ bảo em tôi đem mục măng ra
để y chỗ cũ vì theo mẹ, nếu mình lấy mục măng này, có thể con chú ấy sẽ không
trọn bữa cơm no. Ngày ấy, tôi vô tư không hề có suy nghĩ gì về hành
động của mẹ. Nhưng lớn lên, nhất là khi mẹ mất, xóm giềng cũng bùi ngùi thương
tiếc, hay nhắc nhở những đức tính cao đẹp của mẹ, từ đó tôi mới nghiệm ra.
Mẹ tôi, người đàn bà hiền hậu, thật thà, chất
phác như trái bầu trái bí mẹ trồng, nhưng với tôi, mẹ là niềm tự hào lớn
lao! Mẹ đã mất từ rất lâu nhưng mỗi lần về quê, có dịp tiếp xúc với những
người lớn tuổi trong xóm, họ lại nhắc nhớ mẹ tôi với niềm kính mến. Họ kể tôi
nghe những tình cảm mẹ dành cho họ mà tôi chưa từng biết. Ai đau ốm mẹ
cũng đến thăm, ai nghèo khổ mẹ cũng cho tiền, cho gạo. Thím hai ngang nhà bảo
khi thím mang thai, mẹ hay đem hột gà (nhà nuôi) đến cho thím để bồi dưỡng... Những cử chỉ tuy nhỏ của mẹ nhưng đã tạo nên tình nghĩa xóm làng quý báu trong
lòng mọi người…
Với tôi, mẹ luôn tồn tại trong tâm hồn. Mẹ là sự
dịu dàng, đằm thắm. Lòng thương người của mẹ bao la, vô điều kiện. Nhân phẩm của
mẹ không đo đếm bằng trình độ học vấn, địa vị xã hội mà nó được nâng cao bởi
tính cách, bởi cái tâm trong suốt. Mẹ luôn là nguồn sáng, niềm tự hào mãi mãi
trong lòng chị em tôi!
Thảo Vi
Tháng bảy, ngày rằm, tôi đi chợ. Tôi thích đi
thẩn thơ như ngày xưa hay đi với mẹ. Chợ đông đúc, nhưng nét mặt mọi người đều
phúc hậu, bao dung.
Tôi đi qua những gian hàng bán món chay được chế
biến sẵn, nhiều món trông rất lạ, rất ngon. Rất nhiều bà nội trợ ghé qua mua.
Tôi nghĩ, giá như ngày xưa chợ có bán những món ăn như thế này chắc mẹ tôi
thích lắm; mẹ không phải vất vả mua nguyên liệu về nấu nướng. Nhưng cũng có thể,
mẹ thích tự tay nấu những món ăn ngon cho cả gia đình. Đó lại là niềm hạnh phúc
thiêng liêng của mẹ.
Tôi đi qua những gian hàng bán hoa. Ngày rằm chợ
hoa tấp nập, nhiều tiểu thương còn bày hoa ra lề đường. Nhìn nhiều người mua
hoa về cúng Phật, lòng tôi nhẹ nhàng lẫn chút bâng khuâng. Sự an lạc, từ tâm hiện
rõ trong mỗi con người, tôi như tìm thấy hơi mẹ quẩn quanh, tôi thèm được nắm
bàn tay của mẹ. Lần nào đi chợ mua hoa về cúng Phật, tôi cũng dõi mắt tìm mãi
hai loài hoa mà ngày xưa mẹ tôi hay mua, nhưng chợ hoa ở đây không dễ tìm gặp.
Tôi chỉ mua được cúc vàng, vạn thọ, huệ, cẩm chướng, hồng nhung…
Ngày xưa, mỗi ngày rằm hoặc ngày ba mươi, mẹ
hay đi chợ mua hoa, trái cây về cúng. Chị em tôi hay ngồi nhìn mẹ cắm hoa vào
bình. Mẹ rửa bình hoa thật kỹ, cho nước vào khoảng nửa bình, mẹ nâng từng cành
hoa sen còn búp trên tay và nhẹ nhàng xếp chéo từng cánh sen theo hình tam
giác; cuối cùng hoa sen còn búp trở thành một cành hoa sen nở thật đẹp! Cứ thế,
mẹ cắm từng cành hoa sen vào bình cùng với vài nhánh hoa tigon mỏng manh hình
trái tim đỏ thắm. Thuở ấy tôi không hiểu sao mẹ tôi thường cúng hai loại hoa ấy;
tôi chỉ biết nó đẹp, nó thanh khiết và bây giờ nó trở thành nỗi nhớ trong tôi…
Khi những bình hoa, đĩa trái cây được đặt nơi
trang trọng nhất trên bàn thờ là lúc mẹ tôi bắt tay vào việc bếp núc, chuẩn bị
cho bữa cơm trưa. Những rau củ, đậu, dừa, tà hũ, nấm rơm, ngón sen, tương chao,
tiêu ớt... được mẹ bày ra đầy gian bếp. Tôi được mẹ giao phần xắt gọt, rửa rau
và tiếp dọn cơm lên bàn thờ cúng ông bà. Bao nhiêu đó cũng đủ làm tôi hãnh diện
lắm rồi vì nghĩ mình đã lớn, đã biết phụ giúp mẹ. Ngày rằm dâng hoa cúng Phật,
cơm cúng ông bà, khói hương nghi ngút. Cả gian nhà nhỏ như sáng hồng lên, vui vầy
ấm cúng. Trong mắt tôi, mẹ là một bà tiên.
Ngày rằm tháng bảy, tôi và em tôi còn được ba mẹ
dẫn đi chùa. Đối với chị em tôi, được đi chùa như được đi... du lịch. Niềm vui lớn
không tả xiết. Tôi còn nhớ đường đến chùa phải qua một con sông rộng. Bến đò chỉ
vài người ngồi đợi và chỉ một con đò chèo nhỏ bé nên việc qua sông mất nhiều thời
gian. Để ông chèo đò bên kia sông biết có khách bên này, ba tôi cầm cái cây có
treo tấm vải trắng (cây cắm sẵn ở bến sông) vẫy vẫy phất phơ…
Ngồi trên con đò nhỏ qua sông, tim tôi lắc lư
theo từng nhịp chèo khua nước. Tôi không biết mất bao nhiêu thời gian mới được
lên bờ, tôi chỉ say mê theo những con sóng lăn tăn, ngắm mãi chân trời xa xa có
hàng cây bé xíu lẩn khuất trong mây.
Ngôi chùa cổ kính ấy hiện ra trước mặt chị em
tôi khi đò vừa cập bến. Ngôi chùa nằm trong vườn cây, mái ngói rêu phong, sàn
lót gạch Tàu nhẵn bóng. Mọi vật dụng trong chùa đều rất đơn sơ, chỉ các tượng
Phật là to lớn, uy nghiêm. Ngày rằm, Phật tử đến chùa rất đông. Dọc theo lối
đi, tôi hay trầm trồ những chiếc cần xé chứa đầy các loại rau củ quả của
Phật tử đem đến cúng dường.
Ngày rằm, ngôi chùa tấp nập hẳn lên. Nữ Phật tử
tập trung ở nhà bếp, xắt gọt nấu nướng. Nam Phật tử tiếp các sư quét dọn khu
chánh điện, chuẩn bị nhang đèn, hoa quả. Chị em tôi được dịp chạy nhảy, chơi
đùa ở vườn sau. Tôi hay thơ thẩn nhìn những ngọn cây xanh mướt trên cao vui đùa
trong gió nắng, lũ chim bay về rượt đuổi véo von.
Tiếng chuông chùa ngân vang báo hiệu giờ dâng
hương cúng Phật. Chị em tôi vội vã vào chùa quỳ bên ba mẹ, chắp tay ngang ngực,
miệng niệm Nam Mô... Tôi rất sợ nhìn những bức tượng đồng đen, nét mặt bặm trợn,
tay cầm đao kiếm của ngài Tiêu Diện đại sĩ, Tổ sư Đạt Ma. Chỉ khi quỳ dưới chân
Đức Phật Thích ca, Mẹ Quan Âm... tôi mới dám mở mắt nhìn, thấy lòng an yên như
đang nằm trong lòng mẹ. Thuở ấy, ngày rằm tháng bảy, tôi chưa từng cảm nhận được
niềm vui được cài hoa hồng lên ngực áo nhưng niềm kính yêu cha mẹ luôn dâng
tràn trong lòng chị em tôi.
Thời gian cứ trôi đi, đi mãi. Ba mẹ tôi đã yên
nghỉ từ lâu. Nhưng tháng bảy mưa vẫn nhẹ bay, tôi vẫn đi chợ mua hoa cúng Phật.
Tôi đi một mình trong nỗi nhớ diết da, thèm được bàn tay mẹ nắm. Hai loài
hoa mẹ thích, không dễ tìm nơi tôi sinh sống. Tôi âm thầm tự cài vào tim mình một
bông hoa hồng trắng.
Rằm tháng bảy, ngôi chùa nhỏ bé ngày xưa nay nhộn
nhịp khách thập phương; ngôi chùa không còn nằm khiêm tốn trong vườn cây như
xưa mà đã vươn mình ra lộ lớn, trở thành một ngôi chùa uy nghiêm, kiến trúc lộng
lẫy. Tháng bảy dòng sông xưa cũng xa mờ, bến đò nhỏ không còn khách sang sông.
Chị em tôi mỗi người đã có cuộc sống riêng nhưng những ký ức về tháng bảy vẫn
nuôi dưỡng tâm hồn chúng tôi khôn lớn. Tháng bảy luôn là thời điểm ngập tràn nỗi
nhớ nhung xao xuyến.
Nếu ba mẹ đang còn bên ta thì đó là điều diễm
phúc để ta có dịp báo hiếu cho người; nếu ba mẹ đã mãi mãi xa ta, thì nỗi hoài
niệm về mẹ cha vẫn làm ta hạnh phúc. Mong tháng bảy vẫn mãi mưa bay, tuổi thơ
luôn tinh khiết trong lòng những người con hiếu thảo.
Thảo Vi
TÌM HƠI ẤM MẸ
Về
thăm chái bếp mẹ ngồi
Nhện
giăng vách lá, nắng ngùi qua khe!
**
Mẹ
làn gió mát trưa hè
Võng
đưa nhịp võng, bờ tre ru buồn
Mẹ
là vạt nắng vàng buông
Hóa
mây vào bếp, ngọt ngon cơm chiều
Ngọt
lời ru những dấu yêu
Giấc
mơ con với cánh diều tuổi thơ
Mẹ
là nốt nhạc lời thơ
Nuôi
hồn con lớn, bến bờ yêu thương
Mẹ
mang cánh gió hình sương
Mong
manh ngày tháng, dặm trường gian nan
Con
khôn lớn, mẹ gầy mòn
Tuổi
xuân mẹ đổi tuổi tròn con ngoan
Con
khôn lớn, mẹ ngút ngàn
Bờ
tre, bếp lửa đã tàn… mẹ ơi!
Con
về trong nắng chiều rơi
Tìm
hơi ấm mẹ, chơi vơi bóng chiều
KHÓC
MẸ
Ai
trao tôi chiếc khăn tang trắng
Làm
mất mẹ tôi, mất mẹ tôi
Tôi
chẳng nhận đâu!... Khăn tang trắng
Trả
mẹ cho tôi! Trả mẹ tôi!
NHỚ
MẸ
Mẹ
giờ chốn nao trong vô cùng hư ảo
Con
lang thang trong cõi mơ hồ
Tìm
lại ngày xưa, ban trưa nhà vắng
Con
nhổ tóc sâu cho mẹ…
Nhớ
mẹ hiền tóc con điểm màu sương!
TUỔI
THƠ TÔI
Tôi
tìm tuổi thơ tôi
Trong
mắt người dịu vợi
Tìm
chút nắng quê nhà
Một
khoảng trời mong đợi
Tôi
tìm tuổi thơ tôi
Con
đường quê đi học
Lối
cỏ, bờ tre hiền
Bạn
đùa nhau đến khóc!
Tôi
tìm tuổi thơ tôi
Mực
tím mồng tơi đọng
Trong
nghiên sầu thời gian
Thuở
người sang nhà học
Ôi!
Tuổi thơ của tôi
Một
góc trời xanh ngát
Trưa
hè mây êm trôi
Ve
sầu vang khúc hát
Ôi!
Tuổi thơ của tôi
Sân
trường chiều ngập nắng
Hoa
phượng rơi cuối mùa
Chưa
biết sầu xa vắng
Tôi
biết mình đã mất
Tuổi
thơ ngày xưa ơi
Tôi
đi tìm trong bóng
Người
về... Sao xa xôi?...
Thảo Vi