Có lỗi với tiền nhân - Trương Thị Thanh Hiền

Sáng 26/8, tại thành phố Bến Tre, đã diễn ra Hội thảo “Thơ và văn xuôi đồng bằng sông Cửu Long 45 năm” nhằm nhận diện thành tựu văn học của miền Tây Nam bộ từ năm 1975 đến 2020. Tại hội thảo, có nhiều tham luận của các đại biểu chia sẻ, trao đổi về tình hình sáng tác thơ văn, những điểm mới, thực trạng đội ngũ sáng tác tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long hiện nay. Bông Tràm xin giới thiệu đến bạn đọc tham luận của nhà văn Trương Thị Thanh Hiền.


Tôi dự hội thảo văn học ĐBSCL lần này là lần thứ hai, lần đầu cũng tại Bến Tre cách nay khoảng 9 năm. Lần đó tôi cũng viết tham luận về nhà văn và những vấn đề lịch sử. Những trăn trở của tôi năm đó đến nay hình như vẫn còn nguyên vẹn. Trong khi cả nước càng ngày càng có thêm những cây bút trẻ viết về lịch sử xuất hiện như măng mọc sau cơn mưa, miền Bắc có Uông Triều, Trần Tú Ngọc, Vũ Thanh Lịch, Nguyệt Chu, Trần Quỳnh Nga, miền Trung có Triều La Vỹ, Lê Vũ Trường Giang, bên cạnh những cây tre vững chắc càng ngày càng cứng cỏi vươn cao, như Nguyễn Xuân Khánh, Hoàng Quốc Hải, Nguyễn Huy Thiệp, Trần Thanh Cảnh, Phạm Hữu Hoàng… thì những nhà văn viết về lịch sử ở ĐBSCL chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay như Trầm Hương, Nguyễn Thị Diệp Mai, Trương Thị Thanh Hiền,... Điều gì đã khiến như vậy? Họ không có niềm đam mê? Họ thờ ơ với mấy trăm năm hình thành và phát triển của vùng đất non trẻ nhưng không hiếm những nhân vật lịch sử có thể sánh với bao nhân vật lịch sử ở các miền khác của đất nước? Hay viết đề tài lịch sử quá mất thời gian và công sức, mà lợi ích mang lại không phải lúc nào cũng như ý, bao vất vả khó khăn từ khi ấp ủ hoài thai tới khi sinh thành.
Nhưng dù lý do gì đi nữa, có thể tháo gỡ được hay không, thì chúng ta, những nhà văn ĐBSCL, tự mang vác trách nhiệm tái hiện lại cuộc sống không chỉ trong hiện tại mà cả về quá khứ, cũng phải tự thẹn lòng, tự thấy mình có lỗi với tiền nhân, khi bỏ quên họ trong lớp bụi của thời gian, có lỗi với công cuộc khai phá đất phương Nam với chủ soái là những Chúa Nguyễn biết nhìn xa trông rộng và các công thần như Nguyễn Cư Trinh, Nguyễn Hữu Cảnh, Thoại Ngọc Hầu sẵn sàng dấn thân dẫn hết lớp người này đến lớp người khác khai hoang vùng đất lam sơn chướng khí bị bỏ hoang từ khi Phù Nam diệt vong. Chúng ta không những có lỗi với Phan Thanh Giản mà nỗi oan ức của ông cho đến nay vẫn chưa giải được, có lỗi với Trương Vĩnh Ký vang danh trên thế giới mà đối với người Việt vẫn chưa có tác phẩm nào xứng tầm, mà chúng ta còn có lỗi với bao người dân vô danh ngã xuống vì lam sơn chướng khí, vì chiến tranh giữ đất giữ nước, mà cuộc sống lao động phá rừng đào kênh chiến đấu của họ như thế nào dần dần đi vào quên lãng, rơi tõm vào hố đen thăm thẵm mịt mù của quá khứ không ai tái hiện lại.
Mấy trăm năm hình thành và phát triển của vùng Đồng bằng sông Cửu Long là mấy trăm năm dựng xây và chiến đấu, là mấy trăm năm không ngừng lớp người này ngã xuống lớp người khác lên thay, để trên từng bước đường mòn quê vẫn còn lưu dấu chân của họ, để từng vạt cỏ bờ kinh vẫn còn thấm đẫm mồ hôi nước mắt và máu của họ, để từng ngọn tre chiếc lá vẫn còn lay lắt linh hồn của họ. Hãy chịu khó đi tìm sẽ thấy họ, trong một dạng vẻ nào đấy, trong tờ sắc phong của Vua mà bao đời cháu con gìn giữ ngay cả các nhà sử học cũng không biết đến, trong phủ thờ họ tộc mà lạ lùng sao mỗi lần cúng kỵ như một ngày hội, thu hút không chỉ cháu con trong dòng họ mà cả những người không liên quan gì từ các vùng miền khác kéo đến, mà họ chỉ biết rằng cha ông họ có liên quan với nhau, liên quan thế nào thì họ không biết, chỉ biết rằng cứ đến ngày giỗ là họ đến, những hậu duệ tay bắt mặt mừng trà rượu cúng kiếng mà thực sự họ không mấy tường tận về nhân vật xa xăm trong quá khứ đã gắn kết họ với nhau. 
Sự thật chỉ còn biết trông chờ vào các nhà sử học và các nhà văn. 
Gần đây, các nhà sử học đã làm sáng tỏ được nhiều nhân vật lịch sử và các sự kiện lịch sử. Sau nhiều năm nghiên cứu, hội khoa học lịch sử An Giang đã mở hội thảo về 320 năm hình thành Cù Lao Giêng ở Chợ Mới An Giang, một cù lao gắng liền với lịch sử khẩn hoang miền An Giang, đồng thời làm phơi lộ ra một nhân vật lịch sử mang tầm cỡ quốc gia mà sử sách còn nhiều thiếu sót. Đó là Thư Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thư, mà công trạng của ông có thể sánh ngang hoặc hơn cả Thoại Ngọc Hầu. Ông là một trong số ít những công thần của miền Nam được sắc phong trong thời Gia Long, trong khi các nhân vật lịch sử khác được sắc phong từ thời Minh Mạng trở về sau.
Tôi đi một số vùng ở Đồng Bằng Sông Cửu Long. Có nhiều đền thờ các bậc công thần được xây, nhiều khu lưu niệm các danh nhân lịch sử, như Thoại Ngọc Hầu, Thư Ngọc Hầu, Doãn Uẩn ở An Giang, Nguyễn Đình Chiểu, Võ Trường Toản, ở Bến Tre…, nhận thấy rằng, những bậc danh nhân được sử sách lưu lại, nhiều người biết đến như vậy nhưng vẫn chưa có những tác phẩm văn học xứng với tầm vóc của họ, thì làm sao những nhân vật vô danh được biết đến. Trong một hội thảo khoa học lịch sử, có một người phụ nữ dân dã xin được lên phát biểu. Chị không phải là nhà nghiên cứu lịch sử. Chị không phải là nhà văn. Chị là người Đồng Tháp, đến từ nơi có đồn Nước Xoáy, là căn cứ quan trọng Nguyễn Ánh ngầm cho xây dựng khi còn ở bên Xiêm, để rồi sau đó ông trở về, biến thành thành lũy phản kích lại những cuộc tấn công của Tây Sơn. Chị tự ý đến dự hội thảo vì muốn trình bày một uẩn khúc dòng họ mà nói ra không ai tin. Bất kỳ hội thảo nào có liên quan đến Vua Gia Long chị cũng đến, để rồi thất vọng quay về vì không ai tin mình. Hôm đó cuộc hội thảo thảo luận về Thư Ngọc Hầu, mà Thư Ngọc Hầu là một bậc công thần của vua Gia Long, ba anh em ông đã cùng Tôn Thất Hội vào sinh ra tử cùng vua và cả ba anh em đã hy sinh trong cuộc chiến ở đầm Thị Nại Quy Nhơn,xác thân gửi ở đầm Thị Nại Quy Nhơn là quê quán của ông, nhưng hồn được vua Gia Long cho làm lễ du hồn về Cù Lao Giêng, cùng với hình nhân và sắc phong, là nơi ông được nuôi dưỡng lớn lên, một vòng tròn sinh tử đáng được viết thành thiên tiểu thuyết lãng mạn, hoành tráng và bi hùng.
 Và người phụ nữ miệt mài đến tất cả các cuộc hội thảo ấy đã lên diễn đàn, tiếp tục kể câu chuyện đã kể không biết bao nhiêu lần. Chị kể rằng bà cô trên chị mấy đời có người cha từng nuôi giấu Gia Long trong nhà, cung cấp lương thực cho binh lính. Sau khi lên ngôi, nhớ ân tình cũ, Vua đã cho người về rước bà cô ra Huế nhập cung, nhưng bà thương cha không nỡ bỏ cha một mình đã kháng lệnh. Vua giận quở phạt khiến bà sợ hãi đã tự vận. Mộ bà vẫn còn. Những vật vua ban vẫn còn. Nhưng tất cả những chi tiết, những sự kiện ấy không làm ai quan tâm, kể cả những nhà sử học. Có lẽ đối với họ, biết thêm được một giai nhân trong cuộc đời vốn có quá nhiều giai nhân trong bước đường bôn tẩu trong dân gian của Nguyễn Ánh không còn quan trọng đối với họ. Họ có quyền thờ ơ, thậm chí phủ nhận cả lịch sử nếu lương tâm họ không cắn rứt. Nhưng với nhà văn, bất cứ chi tiết nhỏ nào dù có được các nhà khoa học công nhận hay chứng minh được hay không, cũng là một điểm quan trọng dẫn chúng ta về quá khứ, phủi đi lớp bụi thời gian, phơi lộ ra một thế giới phận người đáng để ta tái hiện và sáng tạo trên đó.
Một lần tôi đến nhà hậu duệ của ông Nguyễn Phước Thứ, ở huyện Phú Tân, tỉnh An Giang, cũng là nơi đặt miếu thờ và mộ của ông- miếu thờ Cố Bảy. Hai vợ chồng già hơn 80 tuổi, là cháu cố của ông, tiếp chúng tôi, bày ra la liệt giấy tờ, nào là sắc phong của Vua, những lá bùa trị bệnh của cụ Cố, những lá thư của ông giám đốc nội vụ Sài Gòn gửi cho ông chánh tham biện Châu Đốc và ngược lại, bàn về việc truy bắt Nguyễn Phước Thứ, những tờ giấy được phô tô nhiều bản, mà cụ bà, cháu cố dâu của cụ Cố đã kiên trì đưa cho hết lượt người này đến người khác đến thăm, mong rằng có một ai đó có thể tận tâm nghiên cứu về cụ Cố để cái tên Nguyễn Phước Thứ có thể được đứng vào những trang chính sử, xứng với những gì mà ông đã cống hiến ít ra là cho mảnh đất Phú Tân này. Nhưng hình như, điều đó đến nay vẫn như là thả chai trên biển cả mà chưa ai vớt được. Nên hai ông bà đã vào tuổi bát tuần, vẫn hồ hởi đón khách với niềm tin, niềm hy vọng ngời lên trong ánh mắt, và cứ miệt mài kể cho hết lượt người này đến lượt người khác. Tụi bay ngồi xuống đây bà kể cho nghe : Người ta gọi ông là ông Cố Bảy vì ông thứ Bảy, ngòai ra ông còn được gọi là ông Đạo Bảy hay ông Đạo Thứ. Không một giấy tờ nào ghi lại ông sinh năm nào, sinh quán nơi đâu, thân sinh, thân mẫu là ai. Có lẽ như bao người chí sĩ yêu nước thời chống Pháp từng phản đối triều đình bán nước cho Tây rồi hành về phương Nam tìm người đồng chí hướng, cố Bảy đã đến vùng Phú Lâm và Long Sơn này, vào khỏang năm 1874, đó chính là năm triều đình Huế ký hiệp ước giáp Tuất nhục nhã, dâng hết sáu tỉnh miền Nam cho Pháp. Cũng như bao nhà chí sĩ yêu nước khác, cụ Cố đã giấu mình trong vai thầy thuốc. Nhưng người thầy thuốc ẩn thân ấy đã trị bệnh độ đời với tấm lòng đầy nhân ái, nên quần chúng qui tụ khá đông. Một câu hỏi đặt ra là việc qui tụ xung quanh mình một số đông quần chúng đầy thủy chung mà cho đến tận hôm nay, dù cụ đã qua đời hơn trăm năm mà mỗi lần đến ngày giỗ của cụ vẫn còn một số đông người đến dự, thì cuộc đời của cụ cùng với việc họat động trị bệnh cứu đời của cụ có liên quan gì đến phong trào kháng Pháp chung thời bấy giờ? Câu hỏi đó mãi đến hôm nay vẫn chưa có lời đáp và có lẽ cuộc đời của cụ Cố như thế nào vĩnh viễn không ai biết được, khi hai ông bà cháu cố 80 tuổi kia cũng đi vào lòng đất mẹ, tờ sắc phong đầy chữ Hán của ông cũng tan thành tro bụi.
Còn rất nhiều câu hỏi treo lơ lửng trên khắp miền sông nước Đồng Bằng sông Cửu Long, về những nhân vật lịch sử lừng danh trong chính sử hay ẩn khuất trong dân gian vẫn đang chờ chúng ta, những nhà văn, tái hiện lại cuộc đời họ cùng những sự kiện lịch sử hào hùng hay bi thương bị vùi lấp trong tầng tầng lớp tro tàn quá khứ.
Cần lắm, những nhà văn quan tâm đến.
Nhưng, một nhà văn, dù đầy đam mê, đầy nhiệt huyết, trên bước độc hành thực hiện khát vọng tái hiện lại cuộc sống bao thời đại đã qua, vẫn là những bước chân cô đơn loạng choạng. Kinh nghiệm viết văn của tôi, khi viết một tản văn, một bài ký, một truyện ngắn, thậm chí là một tiểu thuyết, với bao bạn viết cũng đang viết như mình vậy, thì vẫn có cảm giác cô đơn mịt mù, huống gì viết một cuốn tiểu thuyết lịch sử. Nên nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử cần lắm sự quan tâm hỗ trợ của Hội nhà văn. Hội nhà văn cũng như phải có sự đầu tư chuyên biệt và lâu dài cho người viết tiểu thuyết lịch sử. Ngoài việc hỗ trợ về mặt tinh thần, giúp họ kết nối, nhận được sự tư vấn từ các nhà nghiên cứu lịch sử cũng như các nhà lý luận phê bình văn học, cũng như các đối tượng có liên quan ở các địa phương mà họ cần đến lấy tư liệu, Hội nhà văn cũng cần quan tâm hỗ trợ vật chất kinh phí vì trong quá trình viết tiểu thuyết, họ phải đầu tư cho việc thu thập tư liệu và đi thực tế. Trong thời gian viết tiểu thuyết do phải tập trung vào viết, mà chúng ta đều biết, viết một cuốn tiểu thuyết, nhà văn gần như là nhập đồng, không thể suy nghĩ gì khác ngoài số phận nhân vật và các tình huống đang triển khai, nên dù vẫn đầy những ý tưởng cho các tản văn hay truyện ngắn, họ vẫn không thể bứt ra để viết kiếm tiền. Bởi vì rời tiểu thuyết một chút là khi quay trở lại rất khó tiếp tục nối tiếp những ý tưởng về nhân vật, sự kiện, từng cuồn cuộn viết không kịp trước đó. Nhà văn phải mất thời gian đọc lại những gì mình đã viết và lục tìm trí nhớ mình đã từng sắp đặt những tình tiết như thế nào. Do đó Hội nhà văn thay vì đầu tư dàn trải, nên đầu tư tập trung vào những tác giả có đề cương tốt dày dặn về tiểu thuyết lịch sử. Làm sao có thêm nhiều nhà văn viết về đề tài lịch sử Đồng bằng sông Cửu Long, một mảnh đất sinh thành muộn màng nhưng là vựa lúa vựa cá góp phần nuôi sống cư dân khắp mọi miền đất nước từ ngày có lệnh khẩn hoang, di dân mở mang bờ cõi của chúa Nguyễn, một vùng đất nhân tài đến từ các miền khác, nhưng như cây Đước, cây Mắm, cây tre cây bần, có một bản sắc riêng, một sức sống riêng, đã bám trụ vững chắc vùng đất mới, nghênh phong cùng sóng gió, nghênh mặt hiên ngang chống bao cuộc xâm lăng của ngoại bang, “khi nào hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây”.
Ngoài ra Hội nhà văn phải đặc biệt quan tâm đến những tác giả trẻ, khơi dậy trong các em niềm đam mê nghiên cứu lịch sử và viết về lịch sử, phải luôn khiến họ nhớ rằng sử là linh hồn của dân tộc, một nhà văn không chuyên viết về lịch sử cũng phải thật rõ về lịch sử nước nhà, bởi vì dù viết bất cứ đề tài nào, nhân vật cũng phải được đặt trong một môi trường xã hội và hoàn cảnh lịch sử nhất định. Nền giáo dục của ta đã để một lỗ hổng kiến thức lịch sử rất lớn. Các em học sinh tốt nghiệp phổ thông gần như không biết gì về lịch sử. Các sinh viên hầu hết xem nhẹ những kiến thức lịch sử, coi như việc hiểu biết về lịch sử là chuyện của ai khác, không phải là chuyện tối thiểu cần phải biết của một công dân. Trong khi một đất nước đa tộc chủng như Mỹ, một công dân nhập tịch phải thi môn lịch sử. để bất kỳ công dân nào cũng phải biết lịch sử hình thành và phát triển của nước Mỹ. Điều đó cho thấy, việc phổ biến và giáo dục lịch sử dân tộc, không chỉ đặt lên vai nhà sử học và nhà giáo dục. Nhà văn và những tác phẩm văn học cũng phải góp sức vào công cuộc truyền bá hồn cốt của dân tộc đó.
Hy vọng sau hội thảo này, những trăn trở của tôi nói riêng, cũng như của tất cả nhà văn chúng ta nói chung sẽ vơi dần, khi càng ngày khu vực Đồng Bằng sông Cửu Long càng có thêm nhiều nhà văn quan tâm về lịch sử và viết về lịch sử hơn nữa, để những linh hồn dân chúng vô danh trong công cuộc khai phá đất phương Nam hay binh lính tử trận trong muôn vàn cuộc chiến gìn làng giữ đất. không phải ngậm ngùi nơi chín suối.





Trương Thị Thanh Hiền
>> Đọc tiếp…

Đò ơi... - truyện ngắn Trương Thị Thanh Hiền

Căn hộ không có đàn bà. Chỉ có một thằng đàn ông đơn độc là tôi. Nhưng đêm nay có thêm Kiều Nga và Lạc. Kiều Nga hai mươi bốn tuổi, tóc tém cao, mắt tròn xoe như mắt bồ câu. Trẻ tuổi như vậy, mắt tròn ngơ ngác như vậy, nhưng cô nàng chẳng ngây thơ tí nào. Một phóng viên mới ra trường, năng nổ, tháo vát, chuyện khắp hang hùm ngỏ hẻm nào cũng xộc vào lôi ra cho bằng được, tác giả của thiên phóng sự: “Các quan chức đã xây biệt thự như thế nào bằng đồng lương công chức” làm biết bao người phải nhảy nhổm. Lạc tóc xoăn, mặt trắng, dáng vẻ như tài tử xi nê, khoái moi móc chuyện đời tư của mấy nàng nghệ sĩ, không ít lần bị thiên hạ chửi bới, không ít lần bị kiểm điểm.

>> Đọc tiếp…

Tôi là ai - truyện ngắn Trương Thị Thanh Hiền

Tôi, tôi là ai, là ai
Hôm nay tôi đến
Tôi tìm tôi
       (Trịnh Công Sơn)
>> Đọc tiếp…

Giới thiệu nhà văn Trương Thị Thanh Hiền và tác phẩm

GIỚI THIỆU NHÀ VĂN: TRƯƠNG THỊ THANH HIỀN
Sinh năm 1970 tại An Phú, An Giang. Nghề nghiệp: Dược sĩ. 
Hiện sống và làm việc ở thành phố Long Xuyên, An Giang.
Tác phẩm: Những ngọn đèn, Hạt cam thảo, Lời thề, Ngôi sao xanh, Mệnh đế vương, Tội lỗi nàng Eva...
Giải thưởng: Giải KK Truyện ngắn ĐBSCL 2002, Giải Tác giả trẻ Liên hiệp các Hội VHNT VN 2004, Giải KK Truyện ngắn ĐBSCL 2008, Giải III Văn học đề tài nông nghiệp nông thôn nông dân 2009…
>> Đọc tiếp…

Đò ơi - truyện ngắn Trương Thị Thanh Hiền

 Căn hộ không có đàn bà. Chỉ có một thằng đàn ông đơn độc là tôi. Nhưng đêm nay có thêm Kiều Nga và Lạc. Kiều Nga hai mươi bốn tuổi, tóc tém cao, mắt tròn xoe như mắt bồ câu. Trẻ tuổi như vậy, mắt tròn ngơ ngác như vậy, nhưng cô nàng chẳng ngây thơ tí nào. Một phóng viên mới ra trường, năng nổ, tháo vát, chuyện khắp hang hùm ngỏ hẻm nào cũng xộc vào lôi ra cho bằng được, tác giả của thiên phóng sự : “ Các quan chức đã xây biệt thự như thế nào bằng đồng lương công chức” làm biết bao người phải nhảy nhổm. Lạc tóc xoăn, mặt trắng, dáng vẻ như tài tử xi nê, khoái moi móc chuyện đời tư của mấy nàng nghệ sĩ, không ít lần bị thiên hạ chửi bới, không ít lần bị kiểm điểm.

>> Đọc tiếp…

Tâm hồn trẻ thơ - truyện ngắn Trương Thị Thanh Hiền

  Chúi đầu vào cuốn Lão Tử mà Quân lại khẽ ngâm nga một câu trong Thánh kinh: “May mắn thay những kẻ có lòng thanh khiết vì chúng thấy Thượng Đế”. Quân lại quay sang tôi, khẽ cất giọng du dương:
- “Ta nói các ngươi biết sự thực nếu các ngươi không trở về lại như những đứa trẻ thơ thì các ngươi sẽ không vào được Thiên Đường. Kẻ nào tự nhỏ đi như những đứa trẻ thơ kia, chính là kẻ ấy sẽ lớn nhất ở Thiên Đường”. Thánh kinh nói vậy đấy. Còn Lão Tử nói gì? Chà, Đông hay Tây đều có chung quan niệm. Thu xem đây này, Lão Tử nói con người cần phải trở về trạng thái hồn nhiên mộc mạc trong trắng chưa bị vật dục khuấy động, tâm hồn của một đồng tử.
>> Đọc tiếp…

Người đẹp vĩnh cửu - truyện ngắn Trương Thị Thanh Hiền


Năm nào cậu cũng về miền Tây. Cậu đi một vòng thăm bà con, bạn bè dài từ Sài Gòn đến Sa Đéc, qua Long Xuyên, lên Châu Đốc rồi đi tuốt về Khánh Bình. Tôi hay tháp tùng cậu về Khánh Bình thăm bà con họ hàng, rồi điệu cậu trở ngược về Châu Đốc. Lần nào chia tay, cậu cũng bùi ngùi tiếc nuối: “Thế là vẫn không tìm gặp cô bé”. Cậu đã già, râu tóc bạc phơ, hiển nhiên cái người cậu quay quắt đi tìm suốt mấy chục năm qua cũng già như cậu, thế mà cậu vẫn cứ “cô bé”. “Cô bé” ấy còn sống hay đã chết, không một ai biết.
>> Đọc tiếp…

Tội lỗi nàng Eve - truyện ngắn Trương Thị Thanh Hiền

Bệnh viện tên là Hạnh Phúc. Nhìn khuôn mặt ngời sáng của những bà mẹ, tay bế con, đầu trùm khăn, bông gòn nhét lỗ tai, hãnh diện ngước nhìn chồng dìu ra xe cũng đủ thấy điều đó.
Ít ai để ý rằng đi ra không chỉ có những bà mẹ ngời ngời hạnh phúc đó, mà còn có những người xanh mét, lầm lũi, đi như chạy trốn một điều gì đó mà họ bỏ lại phía sau lưng. Điều gì đó bỏ lại phía sau lưng? Điều gì đó cũng khiến ta bước vào bệnh viện với tâm trạng mà những nhà văn thiên tài nhất cũng không sao tả nổi.
>> Đọc tiếp…